6 tháng 12, 2014

Chiêu hồn nạp mộ

                                               Truyện ngắn của Lê Quang Phương
                                                                     
                                                                       Tràng sanh số kiếp nổi nênh

 Anh khoanh tay buông bã đứng nhìn. Thui thủi một mình. Bộ quân phục tả tơi. Nòng súng đỏ lòe bốc khói xanh lẹt. Bóng anh to lớn trong cảnh u tịch. Chập choạng tà dương và nhập nhòa âm khí. Thoắt cái anh đi đâu… Này đầu. Này tay. Này  ruột, với xương, rồi nhiều, rất nhiều những người lính cùng hiện nguyên hình hài cạnh anh. Rồi lại tả tơi. Rồi lại nát tan. Này đầu. Này tay. Này xương trắng xương xanh… 
1
                
  Một buổi sáng đào tìm không được một mảnh xương nào. Buổi chiều cụ Thống Nhất cầm hương vái thiên địa, vái vong linh tất cả những người đã tử trận rồi khẩn cầu:    
 “  …Hồn ơi hồn hỡi! Hồn ông Lê Cả hãy về nhập cốt. Hồn ngoại quốc hãy về ngoại quốc. Đây chỉ gọi hồn tìm cốt ông Lê Cả, nguyên quán tại Đại Yên làng, Việt Nam Quốc. Hồn hỡi hồn ơi! Mưa dầm sùi sụt, hanh heo gió buốt, hồn ơi hãy nhập. Chỉ đúng một lần. Anh hùng tử sĩ, lạnh lẽo cõi âm..... Dương gian thương nhớ… niên đà mấy chục, nhục đâu cốt đâu. Hãy chỉ ra mau, lên xe lên tàu về quê cùng quán. Nhập váo nhập vào. Hồn ơi hồn hỡi! Khắc nhập! Khắc nhập!”

   Mưa Trường Sơn lạnh giá. Mấy chục người dầm nước tay run mặt tái không còn chút hi vọng. Chúng tôi trở về nhà cụ Thống Nhất trong tâm trạng u sầu. Cô Út, em gái tôi vừa đi vừa thút thít: “Ới anh ơi! Anh nằm đâu chỉ chỗ cho các em để các em đem anh về…!”     

2

          Ngày đó tôi bơi qua sông Sêrepok, cuộn một bó cây lòng em về cho trung đội nấu canh chua. Nước xiết mạnh cuốn tôi trôi nhanh về thác. Con thác này đá nhô lởm chởm. Người hay voi sa xuống đều bị nhồi cho mềm thịt rời xương. Tôi nghe tiếng đồng đội hô “bỏ rau đi mà bơi”, “ Khó thoát, khó thoát!”. Lại còn có cá ăn thịt òm ọp bơi lùa, đớp hụt vào chân. Người tôi tê cứng vì biết mình đang cận kề cái chết.
 Có ai tiếp sức cho tôi. Ai đó đội vào bụng tôi, có người túm tóc tôi mà kéo, khiến tôi bơi vào được bờ. Đồng đội tôi ngạc nhiên và cả quyết rằng tôi có ông bà ông vải từ ngoài Bắc đi theo để cứu giúp. Khi nồi canh chua nấu chín, ông trung đội trưởng bảo tôi bưng một Ăng-go canh dâng cao ngang đầu trong tư thế đứng nghiêm. Ông hô cả trung đội tập hợp rồi nghiêm trang khấn rằng: “Các con xin cảm ơn ông bà ông vải và những ai đã cứu sống đồng chí Lê Ba và cho chúng con được ăn bát canh chua cua rừng. Chúng con cầu xin anh linh các cụ theo chúng con để tránh được đạn bom”.   
 Đêm đó tôi thấy anh và đồng đội anh thoảng qua . 

   Ngày tiểu đoàn tôi chạy từ rừng về đánh Long Khánh, đêm đó liên lạc và giao liên rồi cả trinh sát dẫn quân đều bị mất phương hướng. Khi biết bị lạc, cả tiểu đoàn tê dại, đứng im trong đêm tối mịt mùng. Không ai dám cất bước. Bộ đàm bị vô hiệu hóa. Đêm đen khủng khiếp. Cái chết rập rình. Nhiều người sợ hải, run rẩy. Nước đái tuôn ướt sũng đũng quần. Câm nín và lạnh toát như có nòng súng kề vào gáy. Có bóng người kéo tôi, rồi tôi kéo tiểu đoàn trưởng vượt lên dẫn đường. Cả tiểu đoàn bám sau lưng. Không có suy nghĩ. Chỉ có hành động của những bước chân. Bóng người (hay ma) mà mỗi bước đi có ánh lân tinh để lại cho tôi bước đúng vào đó. Tôi bước được bước nào thì người sau đặt bàn chân đúng vào bước ấy. Chúng tôi đã qua được bãi mìn và quân phục kích của đối phương. Qua hiểm nguy rồi, cái bóng ấy quay lại. Tôi sững sờ kêu “ Ớ… anh Cả”. Một thoáng anh cho tôi nhìn rõ mặt. Là anh đây không nhầm với ai bởi vết sẹo tựa đồng tiền trinh nơi thái dương trái. Cái vết sẹo là cú đánh của con trâu điên khi anh ghì đầu nó để cứu người. bữa ấy anh đánh trâu đi cày.    
  Tôi bị thương trong trận đánh Trảng Bom. Tiểu đội tôi lòng vòng thế nào mà lạc vào ổ mai phục của đối phương.  Mười hai li tám trên chòi cao ràn rạt quất rát mặt. Tiểu liên của ổ mai phục cũng nhằm vào tôi mà nã. Từ các bụi chuối tôi lăn sang các đống mối.  Có người lúc thì dúi đầu tôi, lúc thì xô đẩy tôi tránh đạn. Tôi chỉ bị thương mà không chết.
  Trung đội tôi cho tới ngày tiến vào dinh Độc Lập, kì lạ thay, chỉ bị thương chứ không ai phải ngậm ngùi nằm lại chiến trường.

***
   Giải phóng Miền Nam xong tôi về đi học. Ngày tôi ra nước ngoài, khi máy bay chuẩn bị qua không phận Việt Nam, tôi thấy bóng anh với nét mặt nghiêm trang. Làm luận án tiến sĩ di truyền xong, tôi trở về nước. Trên máy bay vừa nhìn thấy hải phận Việt Nam, tôi lại được gặp anh. Nét mặt anh vẫn trang  nghiêm như trước.
 Tôi về nước, xây dựng gia đình, an cư lạc nghiệp. Ngày con trai tôi ra đời, cô hộ sinh vừa nâng thằng bé mới lọt lòng lên là tôi thấy thoáng bóng anh.
 Nhiều đêm tôi nằm ngủ, vào lúc đêm khuya thanh tĩnh là lúc anh về. Anh buồn. Anh không nói năng gì cả. Nhiều đêm, xác tôi cứng đờ còn hồn tôi chạy theo anh đến một doanh trại. Tại đây tôi gặp nhiều người lính là đồng đội của anh. Ai cũng buồn trong im lặng. Đó là cõi âm và người âm là thế. Họ không nói năng như người trần. Ai may mắn được tiếp xúc với họ, chỉ lặng im rồi thầm đoán xem hồn bảo mình điều gì. Nhiều lần anh về rồi đi, tôi lại theo anh. Gặp anh nhưng không phải là anh. Rõ ràng nét mặt anh vừa đó với vết sẹo tiền trinh rõ mồn một kia lại thành nét mặt người khác. Rõ là tay phải anh đây mà tay trái lại là của ai. Tôi hoảng hốt trong đêm và nghĩ rằng ma là vậy. Nhưng khi bình tĩnh lại tôi hoang mang vì ý nghĩ chiến tranh tan tành xương thịt.
 Ai đã từng bị bom tung lên nhồi xuống hoặc đạn xuyên qua người, pháo toác bên mình mới biết được hồn lìa khỏi xác ra sao, hồn nhập lại xác như thế nào? Cái khoảng không thời gian bạt vía kinh hồn ấy là lúc vũ trụ nín thở. Còn nếu hồn vía lên mây không biết xác mình đâu nữa thì đó là cái chết. Tôi đoán lúc nào anh cũng buồn vì hồn cốt lạc nhau. Cái chết đến nhanh, hồn xác đột ngột tách rời, bơ vơ thất lạc.
   Nhờ cuốn “Phong tục tập quán Việt Nam” mà tôi biết cách chiêu hồn nạp mộ.
  Các cụ trong họ Lê nhà tôi nhất trí và sửa soạn gọi hồn anh vể nhập mộ. Truyền đời trong họ đều có người hi sinh nơi sa trường. Tổ tiên tiền tổ cũng đã chiêu hồn nạp mộ.  Người xưa trong quan ngoài quách ở quê nhà nhưng thân xác vùi nơi chiến địa. Các cụ bảo đấy là nhà để hồn về. Xưa nay chinh chiến mấy ai hồi. Đêm chiêu hồn nạp mộ, ông bác tôi vốn là sĩ quan từ thời đánh pháp, hô mọi người đứng nghiêm. Các cựu binh đứng nghiêm theo quân lệnh. Bác tôi đứng giữa đồng đội, cách xa những bó đuốc đang cháy hực hực. Ông hô to: “Ba hồn bảy vía liệt sĩ Lê Cả từ chiến trường về nhập mộ. Ba hồn bảy vía đồng chí Lê Cả từ chiến trường về nhập mộ. Ba hồn bảy vía anh Lê Cả là con ông Lê Đại, là con cháu  họ Lê ở Đại Yên về nhập mộ”.
 Ba lần hô là ba lần ông tung bộ quân phục lên xuống. Cũng là ba lần lá cờ đỏ sao vàng do bốn cựu binh giữ bốn góc xòe ra hứng lấy. Ông bác dùng lá cờ cuộn bộ quân phục có hồn anh tôi đã nhập vào. Ông nâng niu đặt vào tiểu sành. Các cựu binh đứng nghiêm đưa tay chào theo nghi lễ nhà binh. Trong tiểu sành đã có một cái sọ dừa thay sọ người cùng nhiều cành cây núc nác ngắn dài khác nhau thay xương giả cốt. Ông khấn nôm những lời tâm sự: “Đồng chí cháu về nhận mộ nhập cốt. Cốt của đồng chí làm từ quả cây vườn nhà. Cây dừa cụ nội ngũ đại trồng, đồng chí cháu hay trèo từ nhỏ. Cháu về ở với cha ông tổ tiên. Đừng vất vơ vất vưởng. Khi nào có giặc giã, Tổ Quốc gọi, cháu lại huy động âm binh mà đi phù trợ dương gian đánh giặc như các cụ nhà ta.”    
 Nghi lễ hoàn tất. Ngôi mộ nhỏ và thấp hơn những ngôi mộ bề trên nhưng bia đá có khắc bởi dòng chữ: “Liệt Sỹ” .
 Tôi thấy đã phần nào yên ổn trong lòng.
 Ông bác tôi chỉ vào một ngôi mộ lớn rồi bảo :
  - Đây là mộ Cụ hơn năm trăm năm rồi, gia phả ghi cụ tử trận vào…….. nhật……… nguyệt………. niên. Cốt tại Chi Lăng Aỉ, mộ tại Cồn Phụng xứ, hồn lai giáng lô hương linh đài ngũ chi đồng kính phụng. Các cụ đời trước khi chiêu hồn nạp mộ cũng tung áo gọi hồn rồi lấy ngọn cờ có chữ Nghĩa viết to, hứng bọc lấy hồn rồi táng trong quan ngoài quách, linh thiêng kính cẩn hương khói truyền đời. Nhờ vậy mà trước nay họ này không ai phản dân hại nước, chưa ai đào ngũ hay trốn lính. Cụ thiêng lắm. Cứ lúc mình thấy cái chết vù đến là lúc cụ cứu nguy. Hồn của cụ vẫn trấn giữ biên cương. Những ngày nghỉ phép cụ mới về quê. Mộ này là nhà của cụ. Nhà thờ họ là nơi con cháu năm chi trong họ cúng báiphụng thờ và giao lưu với cụ.
 Tôi chợt nhớ lại những lần hồn vía anh cứu tôi ngoài trận địa. Tôi quỳ xuống khấn: “… Anh về nhiều lần mà em không hiểu. Nay anh linh thiêng nhập mộ,  còn gì anh bảo em tiếp…”

***
 Anh tôi nhập ngũ năm 1966. Đó là một ngày mùa đông ảm đạm. Tôi đi tiễn anh từ mười giờ đêm đến tận bốn giờ sáng hôm sau mới về. Ngày ấy đói kém quá chừng. Anh tôi lên đường nhập ngủ mà không được một bữa cơm là cơm. Tôi nhớ cả nhà ăn một rổ sảo sắn luộc rồi anh gạt nước mắt ra đi. Cả nhà tôi òa khóc. Cha tôi phải lớn giọng “ Im đi cho hắn đi”. Sau tiếng quát là tiếng nấc khan trong cổ cha. Đêm đó sương mù dày đặc cùng trăng suông lạnh. Tôi lẽo đẽo đưa tiễn anh mười mấy cây số và linh cảm anh đi sẽ mãi mãi không về. Năm 1968 tôi đang học cấp ba thì có giấy báo tử, anh hi sinh ở mặt trận.  Năm 1970 tôi vào bộ đội, theo chân anh vượt Trường sơn vào  Nam.  Nhà tôi đã ảm đạm lại càng u ám thêm.  
 Anh đi không về. Tôi may mắn (và được anh che chở) nên không bỏ mạng trong thời ấy. Tối tối cả nhà đang đầm ấm bên mâm cơm, nhìn lên ti vi lại thấy đâu đó đang  súng nổ, tôi lại ngột ngạt và hoang mang. Rồi lại nhớ đến anh Cả. Nhớ bóng ma anh thường bùng lên chút hào quang lạnh mỗi khi anh cho tôi nhìn mặt nơi chiến trường. Nhớ cái vết sẹo tiền trinh trâu đánh bên thái dương không làm anh xấu đi mà lại tôn thêm vẻ lực điền vuông vức của anh.Trong làng, trong họ nhà tôi, đàn ông đều mang những tổ hợp gen  tầm vóc cao to. Quê tôi thường bảo người làng Đại Yên vào rừng hú lên thì hổ phải chạy, voi phải tránh. Ngày xưa giặc giã và trộm cướp không dám đến làng. Tên gọi của làng là Đại Yên vì lẽ đó. Người làng tôi là đội quân tâm phúc thân tộc của cụ Lê Lợi khi dựng cờ khởi nghĩa. Tên bay, đói khổ, bệnh tật khó tiêu diệt được nòi giống tầm đại làng này. Nhưng thời văn minh đã hạ gục họ. Trong làng tôi, ngược lại với nòi giống sạch bệnh tầm đại xưa, nay các thế hệ con cháu đang xuất hiện dị tật.  Đến bao giờ mới lấy lại tầm vóc lừng lững của trai làng Đại Yên. Vĩnh viễn không. Đến bao giờ mới xóa được các đột biến có hại di truyền  qua các thế hệ?
 Tôi hiểu cái tiềm năng bí ẩn của cơ thể con người bởi sự diệu kỳ của phân tử di truyền. Xương cốt con người chưa mất thì sẽ còn có sự cảm ứng giao lưu với người sống. Hồn vía con người là một loại vật chất tạo trường linh cảm. Tôi may mắn được người xưa trong dòng họ chọn để gửi điềm báo. Đi tìm hài cốt anh tôi. Hồn vía gọi rồi, tìm cốt về để cùng nhập mộ. Trong vòng Tràng Sinh - Mộc Dục - Đế Vượng – Suy - Tuyệt …mười hai quảng  thân mệnh của một đời người thì Nhập Mộ mới tròn một số kiếp. Bất hạnh là dở dang không tròn kiếp. Trong lòng tôi, nhập mộ được cho anh là nhập mộ một cuộc chiến. Yên lòng. Cho dù thương tật của tôi đây. Cho dù di hận chiến tranh trong con cháu tôi đây.
***
 Tôi chọn ngày Đại Cát Minh Nhật, giờ Hoàng Đạo để đi. Xưa theo bước chân anh, tôi cõng ba lô vượt Trường Sơn, đi cả gần năm trời mới vào đến chiến trường. Nay đi tìm xương cốt của anh, đi trên đường Hồ Chí Minh, một ngày đêm đã vào tới nơi xưa kia là chiến trường ác liệt nhất.
 Bản sơ đồ tìm mộ bất ngờ được cô Út đưa ra, lập tức nhiều bác xe ôm xúm lại xem xét và  thảo luận. Này đây hàng rào thép gai. Đây dòng suối dưới cao điểm “Cối Xay Thịt”. Đây là sân bay dã chiến thời ấy. Kí hiệu này là máy bay lên xuống. Đây là đường xe tăng thiết giáp vận hành. Cô Út nói: “Bác ấy bảo vẽ lại chiến địa ngày xưa.” Cả mấy chục người chìm trong không khí linh thiêng huyền bí.
 Chúng tôi đứng dưới chân một triền rừng . Xoay sơ đồ đúng hướng, đối chiếu với thực địa từng chi tiết nhỏ. Đúng đây rồi, cả nhà chúng tôi rưng rưng nước mắt. Thiên linh linh, địa linh linh, hồn linh linh đã dẫn chúng tôi đi đúng chỗ.
 Trời đã về chiều chúng tôi phải tìm nhà trọ.   
***
    -Từ qua đến giờ cả nhà nôn nao bồn chồn – Cụ Thống Nhất là chủ nhà trọ, nói chuyện với chúng tôi – Cứ như là có người bảo phải chờ ở nhà đón khách. Nơi  đây ngày xưa quân của các bên chết lẫn lộn. Thịt xương không phân biệt được lính Sài Gòn hay lính Việt Cộng. Mỹ đen Mỹ trắng thì ném riêng sang một bên vùi vào một huyệt. Da vàng Sài Gòn hay Bắc Việt ném cùng một bên mà chôn chung một mồ .
 Sáng hôm sau, cụ chủ nhà huy động con cháu cùng chi hội cựu chiến binh xóm bổ những nhát cuốc xuống điểm đánh dấu trên sơ đồ. Rể cây bật lên. Sỏi đá bật lên. Mảnh bom, mãnh pháo và vỏ đạn bật lên. Cả trăm người hồi hộp. Có những viên đạn tiểu liên còn nguyên vẹn xen lẫn với mấy quả bom bi chưa nổ. Đào rộng ra và sâu xuống lại lấy được cả tiểu liên AK và AR15, mũ sắt, bình-toong… Chiến tranh bị thời gian vùi trong lòng đất nay đang được khai quật lên. Nét mặt những cựu binh đau đớn và tuyệt vọng.
 Đào từ sáng đến quá trưa mà không gặp một mảnh xương nào. Đạn bom súng ống còn đấy nhưng nào có xương cốt ai đâu. Cả nhà chúng tôi đã truyền niềm tin cho mọi người, bây giờ chẳng biết nói sao với con cháu cụ Thống Nhất và các vị cựu binh. Cụ Thống Nhất nói như ra lệnh : Tất cả về nghỉ ngày mai tìm tiếp.
  Nhà cụ Thống Nhất rộng thênh thang đủ cho mấy chục người cuả gia đình anh em nhà tôi và con cháu nhà cụ. Hôm qua, lần đầu thấy cụ Thống Nhất tôi cứ tự vấn mình rằng đã gặp cụ ở đâu đó, thân quen lắm mà. Hình như đã gặp cụ trong mơ.  
 Cả mấy chục người không ngủ. Cô Út lại chập chờn thiêm thiếp. Trời chưa sáng cô Út gọi cả nhà dậy. Cô nói:
 - Hôm qua bác Cả cho tôi thấy rõ mặt bác. Bác đi với một người gọi là Mệ. Mệ dắt tay bác cùng  nhiều bác khác vây quanh. Mệ bảo nhiều bay lắm, nuôi bay tốn kém vì người nhà bay chi biết nơi mô mà cúng. Cả ngàn đứa con nuôi. Bữa ni đứa mô nhận ra người nhà thì cho về. Mệ đánh dấu điểm đây cho mà tìm. 
 Cô út lấy trên đầu giường ra một mảnh giấy. Mọi người xúm lại. Cụ Thống Nhất nhìn và nói ngay: “Nhà mình chỗ ni. Mệ đánh dấu từ đây.”
 Con cháu cụ Thống Nhất bắt đầu chỉ trỏ vào tờ giấy rồi thảo luận. Một người khẳng định:
  - Đúng rồi. Nơi đấy chúng tôi thường đi rừng qua. Khi đến đó tất cả đều phải im lặng. Đây là điểm chốt thời chiến tranh sáu tám ác liệt. Bây giờ mọi người chuẩn bị khẩn trương, ta đi. 
 Bỗng cụ Thống Nhất quay lại hỏi cô Út:
 - Mệ ra răng?
 - Mệ xưng là Mệ.
 - Người Mệ ra răng?
 - Mệ như thế này…
 Nét mặt tất cả người nhà cụ Thống Nhất đều biến sắc. Họ như là đồng thanh.
-         Bà cô, bà cô!
 Hương được đốt lên, mỗi người một thẻ dâng lên bàn thờ Bà Cô ngoài sân. Mọi người khấn gì tôi không rõ. Riêng tôi qùy xuống vái ấp ba vái như là vái cao tằng tổ khảo nhà mình:
 - Thưa Mệ! Con là…Cảm ơn mệ đã nuôi anh con bốn chục năm nay. Cả nhà con mang ơn Mệ. Nay xin Mệ cho chúng con đón anh con về.
  Không ai cầm lòng. Nước mắt lại tuôn.

4
  Trước mặt chúng tôi là những hố bom sâu hoắm. Mệ đã đánh dấu nơi này và con cháu cụ Thống Nhất đem chúng tôi tới đây.
  Nơi đây ngày xưa gọi là “Lò Tán Xương”. Bom nổ sau đục vào hố bom nổ trước.
  Nước dưới đáy hố bom trong đen huyền bí. Hơi nước từ đáy hố cuộn lại rồi bị những luồng khí từ cõi âm đẩy dâng lên từng đợt. Âm khí từ sâu trong lòng đất dồn nén làm cho nước đáy hố bom thỉnh thoảng lại cồn lên rồi vỡ nứt, vọt ra thành những tiếng kêu ùng ục trầm trầm như từ cõi hồng hoang vọng về. Bờ đá xám xịt, rêu và cây rừng mọc bám tạo cảnh hoang dã chơi vơi.  
  Mặt trời đã xua tan mây mờ trên các đỉnh Trường Sơn. Ánh nắng đang cuộn thành từng bó lao xuống những đáy hố sâu rồi theo hơi nước vọt lên bắn vào các bờ đá xám. Những chiếc cầu vồng lung linh bảy mầu treo hờ hững trong đáy hố sâu. Muôn vàn bong bóng nước biến màu nhỏ xíu chứa linh hồn ẩn hiện bên trong. Những linh hồn chui ra chui vào bóng nước hoặc bay chờn vờn quanh những chiếc cầu vồng chợt rõ  chợt mờ.
 Chúng tôi đứng im lặng trước cảnh dương đang cường âm đang thịnh. Âm dương đang tương giao, tương thế, quằn quại xô đẩy nhau. 
 Ai cũng thấy mình yếu đuối cô đơn và nhỏ bé trước cảnh kì dị của thiên nhiên và sự bi hùng của chứng tích chiến tranh. Không ai bảo ai, mọi người xích lại với nhau và vây quanh cụ Thống Nhất.
  Tôi bỗng thấy trong lòng hụt hẫng và mất hết hi vọng tìm được hài cốt anh Lê Cả. Bom đạn đã đục vỡ nát tan lòng đá thì nói chi đến xương thịt con người.    
  Dự định của anh em con cháu trong nhà sẽ làm ma cho anh theo đúng phong tục làng Đại Yên. Sẽ hú gọi hồn vía ba lần về nhập quan. Kèn trống một ngày đêm. Phát tang thành phục, điếu phúng hương hoa, mời trà cùng thanh thủy, tiến tửu và chúc thực. Các cháu anh sẽ túc trực hầu bên vái lạy người đến viếng. Hai hàng cựu binh lễ phục trắng bồng súng đi nghiêm khi đưa hài cốt anh ra nghĩa trang. Làm lễ tam ngu, tuần thất, cúng cơm bữa một trăm ngày. Làm giỗ đầu và lễ trừ phục để anh được nhẹ nhàng siêu thoát. Các dự định ấy và những hố bom này.
 - Hồi nớ chỗ ni tơi bời ác liệt lắm. Cụ Thống Nhất cất tiếng nói. Đất đá lẫn lộn với xương thịt người ta người mình người nó. Nửa năm trời không hết mùi xú uế. Ruồi nhặng bám xanh đen cả khu rừng. Khi ruồi cất cánh bay thì che kín cả mặt trời. Đối phương không lấy xác nên muốn xóa hết dấu vết bằng cách dùng bom dội lên bom. 
 Lúc này tôi hiểu vì sao anh Cả và Mệ lại đưa chúng tôi đến Cối Xay Thịt và Lò Tán Xương. Người tôi rùng rợn làm sao.
 Mọi người lẳng lặng bày lễ vật và thắp hương khấn vái. Rất nhiều hoa được đem cắm vào đất, dắt vào kẻ đá, xếp  thành bó. Cô Út bảo phải dâng nhiều hoa vì các bác chết trẻ, toàn tuổi hai mươi.
 Con trai tôi lấy từ ba lô ra lá cờ tổ quốc.
 Đêm trước ở Hà Nội, anh Cả dặn phải đem cờ theo. Khi thấy hài cốt anh thì lượm theo thứ tự, bắt đầu từ hộp sọ đến tứ chi, Khẩu súng để dọc theo xương  rồi lấy cờ mà khâm liệm.  Thực ra thì anh không nói mà chỉ là bằng cảm ứng và tôi hiểu ra ngay. Anh đứng đó và thoắt cái là bộ xương người. Tôi thấy tôi ngồi bên một bộ xương trắng sau khi cởi bỏ bọc ni lông bằng tăng võng lính chiến ngày xưa. Thoắt thấy cờ tổ quốc. Anh đội mũ tai bèo gắn quốc huy, đeo súng lên chốt. Khẩu súng AK đỏ nòng khói xanh loẹt. Chốt chính là nơi này đây. Tôi thấy nơi đây có nét quen quen vì đã gặp trong  lúc anh ra hiệu dùng cờ bọc xương ôm súng đem về.
  Tôi hiểu rằng hồn anh ao ước vậy chứ còn đâu cốt với xương mà khâm liệm.
 Cụ Thống Nhất lại cất tiếng:
  - Nhiều cựu binh đã đến đây và gọi tên đồng đội mình. Các con cứ khóc đi cho nhẹ lòng. Anh cháu kia hãy treo cờ lên như mọi người vẫn làm như vậy.
  Màu đỏ tươi và vàng thắm của cờ sao nổi bật trên nền xanh ngằn ngặt của núi rừng Trường Sơn. Phút chốc mọi người bớt dần tâm trạng nặng nề và bắt đầu bình tâm dần lại.
 Trời Trường Sơn trong xanh không một gợn mây. Thật bất ngờ, chúng tôi nhìn thấy biển xa thẳm phía đông. Như ai vừa vén đi đám mây mờ che biển cả. Rừng núi xanh, trời xanh, biển xanh, cả một vũ trụ xanh mầu xanh.
 Câm nín đến nao lòng.
 Mọi người lòng héo nhưng mặt đã tươi tỉnh lại dần.
 Con trai tôi bảo : “Cả nhà ta. Bố ơi! con đem ít đất ở nơi này về đưa vào mộ bác.” Vừa nói con tôi vừa ra hiệu cho mọi người xòe  lá cờ ra để bọc nắm đất đá từ hai bàn tay run run của nó.
LQP