18 tháng 9, 2017

Lãng đãng ... Sài Gòn

HTS: Lâu rồi không gặp Trần Kỳ Trung cũng thấy nhớ lão. Đã là bạn bè dù 10 năm không gặp vẫn là bạn bè, không phải bạn bè dù ngày nào cũng gặp vẫn không là bạn bè. Tôi với Trần Kỳ Trung thuộc lứa CBGD đời đầu của Trường ĐHSP Quy Nhơn, nay là ĐH Quy Nhơn. Trung tốt nghiệp Khoa Sử ĐHSP 1 Hà Nội, về dạy ở khoa Sử - Chính trị ĐHQN trước tôi mấy tháng, tôi dạy bên Khoa Ngữ văn. Thỉnh thoảng gặp nhau Trung vẫn nhắc chuyện lần đầu tiên Trung nhìn thấy tôi: Một buổi sáng Trung đứng trên cửa sổ tầng 2 khu nhà 3 tầng dành cho cán bộ độc thân nhìn xuống sân, chợt thấy từ cổng đi vào một tay mặc áo bộ đội, lưng mang ba lô lính, đầu đội cái nón lá kè xứ Nghệ đang hăm hở đi bộ từ cổng vào. Trung ngoảnh lại nói với Võ, bạn cùng phòng: “Lại có thêm một tên nữa vào nhập bọn với quân ta này”. Cái tay mặc áo lính vừa xuống chuyến tàu chợ Vinh – Quy Nhơn để nhập bọn với Trung ở Trường ĐHSP Quy Nhơn ấy chính là tôi. Cùng tuổi, cùng là những cựu chiến binh trở lại trường ĐH sau chiến tranh rồi vào Quy Nhơn lập nghiệp, chúng tôi chơi thân với nhau từ đó.
Được mấy năm, gần như cùng lúc tôi chuyển sang làm truyền hình thì Trần Kỳ Trung trở về quê Đà Nẵng làm biên tập cho NXB Đà Nẵng. Rồi Trung trở thành nhà văn có chân trong Hội Nhà văn VN, có nhiều tác phẩm nổi tiếng trong đó có tác phẩm rất hài hước được dựng thành phim nhiều tập phát trên VTV như “Đọp nhà thơ”...  Thỉnh thoảng gặp nhau, chúng tôi ngồi với nhau cả ngày vẫn chưa hết chuyện.
Lãng đãng ... Sài Gòn là bài viết của Trần Kỳ Trung đăng trên trang trankytrung.com viết sau một chuyến Trung vô Sài Gòn. Chúng tôi đang mong đến dịp kỉ niệm 40 năm ngày thành lập Trường ĐH Quy Nhơn để về chốn cũ gặp nhau (tuần trước Trung gọi vô nhắc tôi: ông cố mà về nhé). Đăng bài nay của Trần Kỳ Trung như để nói lên nỗi mong chờ đó.    

Lãng đãng ... Sài Gòn
       Nhận được thiếp mời của Vũ Tiến Thu, mời vào Sài Gòn dự đám cưới của con. Thu với mình một thời cùng công tác và giảng dạy ở khoa Sử - Chính trị, trường Đại học sư phạm Quy Nhơn. Nghĩ đây là ngày vui của bạn, biết đâu cũng là cơ hội để gặp lại bạn cũ, mình đi liền.
       Đang ở Hội An, có lẽ cũng quen một không gian trầm, nhẹ, thưa của bước chân, thân và ngọt của sự giao tiếp, đến Sài Gòn vào buổi sáng gần cuối xuân, chớm hè, mình thấy hơi bị ngợp. Ngợp tiếng còi xe, ngợp với những sóng mũ bảo hiểm nhấp nhô trên đường và ngợp của những bóng người trên những chiếc xe máy vun vút lướt ngang qua cửa quán cà phê khi mình ngồi bên trong nhìn ra… nhưng thế thôi, như thằng cháu nói: “Chú ở đây, nửa ngày là quen!”. Mà quen thật! Bình tĩnh điện cho nhà văn Nguyễn Quang Lập, Lập vồn vã “Ông đang ở đâu?...được rồi… không nói nữa, chiều thứ ba gặp nhau tại quán Ziều Đỏ của nhà thơ Đỗ Trung Quân”. Tiếp đến nhà báo Lê Thiếu Nhơn hồ hởi: “Anh vào khi nào? Trưa mai đến em đi, rồi đi ăn cơm”. Rồi Hà Tùng Sơn, ông bạn vàng, giống mình ưa dịch chuyển. Đang là cán bộ giảng dạy ngon lành ở khoa văn, ĐHSP Quy Nhơn, không hiểu sao lại chuyển sang một ngành chẳng dính dáng chút nào về giáo dục là truyền hình, bây giờ lại quay về nghề cũ, gõ đầu trẻ. Có điều không ở Quy Nhơn mà Sơn vào Sài Gòn. Nghe thấy giọng của mình qua điện thoại, Sơn nói rất vui: “Thôi nhé ! Đừng hẹn với ai nữa, tôi với ông phải ngồi với nhau trong trưa mai …”. Đấy là chưa kể mấy bạn văn nữa lại hẹn, lại mong…thời gian có hạn, đành thể tất. Chỉ thế thôi, tự nhiên thấy Sài Gòn không còn bị “ngợp” mà như thân quen rất lâu rồi.

Tôi đi công tác Hà Nội về ghé Hội An thăm Trần Kỳ Trung, tháng 1/2010. Trái sang: Trần Kỳ Trung, Hà Tùng Sơn, Lê Văn Lợi, Võ Bá Nghị (Ảnh: Mai Thìn)

          Dự đám cưới con của bạn, nhiều lúc bần thần, bây giờ là chuyện của nó, chẳng mấy chốc lại chuyện của mình, cũng phải lo chuyện đám cưới cho con. Thấy Thu cứ tất bật chạy ra rồi chạy vào, dặn dò MC đừng chọc cười rẻ tiền, đến chỗ này xem lại chỗ ngồi khách mời, đến chỗ kia giới thiệu hai họ…mà thương cho nó. Cũng bươn trải, cũng phải lăn lộn giữa cuộc sống đầy gió và bụi này, trông Thu già trước tuổi. Thấy mình vào dự đám cưới của con, Thu mừng: “Anh sẽ gặp được nhiều bạn bè và học sinh cũ của anh em mình, mọi người thấy anh chắc rất ngạc nhiên!”.
         Cũng buồn cười, xem thiệp mời của Thu đề rõ ràng là đám cưới tổ chức lúc 17h30, cứ nghĩ như ở Hội An, mình đến đúng giờ, ai ngờ…! phải đến gần hai tiếng sau mới vào tiệc. Mình thắc mắc, Thu giải thích :“Ở Sài Gòn giờ toàn thế cả, anh đến đúng giờ, có khi ngồi một mình, một bàn mà chờ. Thôi, anh ra đón khách cùng em”. Khách đến, mình vui gặp lại nhiều đồng nghiệp cũ, mọi người thấy mình tay bắt, mặt mừng. Nhìn những đồng nghiệp cũ, mới đó đã hơn ba mươi năm, thời gian trôi nhanh như bóng câu qua cửa sổ. Giờ nhìn ai trên đầu tóc cũng điểm bạc, dáng cũng đã biểu hiện sự chậm chạp, người lên chức “ông”,  chức “bà”, bây giờ giống mình, đều đến tuổi về hưu. Duy nhất một điều mình thấy không thay đổi, đó là tình cảm. Ngồi lại quên cả chuyện đang dự đám cưới. Vội chúc mừng cô dâu, chú rể, vội chụp ảnh với gia đình hai họ, giơ ly, nở nhanh nụ cười, trao phong bì mừng, rồi quay ra ngay ôn với nhau chuyện xưa, cứ y như nó mới xảy ra ngày hôm qua. Cái ngày hành trang vào đời chỉ có mấy bộ quần áo, mấy tập giáo trình, ăn uống cực thậm khổ như lại giàu có, vô cùng giàu có về sự nhiệt tình. Cái nhiệt tình đôi lúc mang hơi hướng nghĩa khí của một tính cách lãng tử, bất chấp. Lúc đó đúng là thế thật, những giảng viên trẻ như mình mới về trường ĐHSP Quy Nhơn không hề tính toán so đo thiệt hơn về quyền lợi cá nhân, cũng không hề ao ước có một căn nhà riêng có đủ tiện nghi vật chất mà chỉ có một nguyện vọng là cống hiến, là trở thành những giảng viên đại học giỏi, giỏi cả “tâm” lẫn “tài”. Than ôi! Ước mơ đó là đẹp, không ai phủ nhận nhưng sau này đem lại kết quả như thế nào… bây giờ ngồi lại, nhắc những kỷ niệm đó, mọi người đều cười, cười nghiêng ngả!!! Một người nói : “Hồi đó chúng mình giống như những thằng, những con bị ma ám nên hay hoang tưởng”. Thôi, không nhắc lại nữa, trong ngày vui con của bạn, chúng ta hãy cạn chén mừng cho bạn sắp lên “ông”. Thu nói đúng, Hôm nay mình gặp rất nhiều em sinh viên khóa I, lớp Sử - Chính trị , trường ĐHSP Quy Nhơn mà mình đã từng chủ nhiệm. Các em thấy mình vào, tự động đến chào, bắt tay, ánh mắt nhìn thầy giáo chủ nhiệm cũ cảm động. Thật mừng, nếu điểm lại, nhiều trò đã hơn thầy trên tất cả phương diện. Có em nay là một đạo diễn, quay phim tài liệu nổi tiếng. Có em đã là Vụ trưởng ở một vụ trong một Bộ quan trọng, có em là Tổng biên tập một tờ báo có uy tín, số lượng bạn đọc đông … Tiếng “ Em chào thầy” của các em vẫn như ngày nào, ấm áp, thân thiết, trân trọng. Mình nghĩ, dẫu giá trị đạo đức của thời này đang đi dần vào  sự hỗn mang, phi lý, lộn sòng giữa tốt và xấu, mình vẫn phải cố gắng giữ, có thể “tài” chưa giỏi, nhưng “tâm” phải sạch để nghe thấy tiếng: “em chào thầy” không có điều gì phải xấu hổ, ân hận.
         Nói như vậy nhưng để thực hiện được, không dễ !
         Đến thăm Lê Thiếu Nhơn, gặp thằng em làm báo, làm thơ đầy bản lĩnh, có tài, có nhân cách mình vui, còn vui hơn ở đây mình gặp nhà thơ Thanh Tùng  với bài thơ “ Thời hoa đỏ” nổi tiếng, sau thành lời trong bài hát cùng tên của nhạc sỹ Đình Bảng mà gần như thế hệ của mình, ai cũng thuộc. Với Lê Thiếu Nhơn quen biết từ lâu, nói chuyện nhiều, nên chỉ cần nghe tiếng cười đã biết nhau suy nghĩ của nhau nhưng riêng với nhà thơ Thanh Tùng, mình nhìn anh, mới gặp thôi, sao mà thương đến lạ. Cảm giác này có khi bị ảnh hưởng do những lời thơ cháy ruột của anh viết, viết cho anh, viết cho cả bọn mình. “… Dưới màu hoa đỏ cháy khát khao/ bước lặng im trên đường vắng năm nao /Chỉ có tiếng ve sôi ồn ào/Mà chẳng cho lòng mình  yên chút nào…”Nhà thơ dáng nghèo, nói từ tốn, nhìn thấy lành và thiện. Những người như thế này thường khổ. Buổi chiều, mình cùng Lê Thiếu Nhơn, nhà thơ Thanh Tùng  vào một quán hình như mang tên Phố Hội trên đường Nguyễn Đình Chiểu thì phải để ăn cơm và có cớ hàn huyên. Anh Thanh Tùng ăn ít, anh muốn dành thời gian nói chuyện với mấy đứa em. Mình thấm thía lời anh nói: “ …Viết gì thì viết, nhưng phải viết thật, như tình yêu ấy! Yêu thật, không giả dối. Có xa chỉ nhớ và thương thôi, để dẫu có chia tay cũng không bao giờ mình trách mình hay trách người yêu. Viết văn, làm thơ phải như vậy. Cứ chân thành ai cũng thương…”. Cuộc đời của nhà thơ Thanh Tùng mang nhiều hương vị mặn của biển, nghiên ngả của gió bão, lúc mờ mịt của bụi đường mà một thời Hải Phòng, nơi nhà thơ đã sống, thấm vào. Bây giờ nhà thơ ngồi đây, bình lặng như một gốc cây già gan góc, xù sì chấp nhận mọi gió bão, khô hạn, lũ lụt… cố tích nhựa,  phi đời.
        Cũng ở chỗ làm việc của nhà thơ Lê Thiếu Nhơn, nỗi mừng nhân đôi khi mình gặp nhà văn Nguyễn Khoa Đăng. Mình đã đọc một số truyện ngắn của nhà văn, biết nhà văn viết cuốn tiểu thuyết “ Nước Mắt Một Thời” đang gây xôn xao trong dư luận bạn đọc. Nay trực tiếp gặp nhà văn, mừng hơn, nhà văn tặng cho mình cuốn tiểu thuyết “ Nước Mắt Một Thời”. Cầm cuốn tiểu thuyết trên tay mình đã háo hức, tìm mọi cách đọc ngay. Trước đây, mình viết cuốn tiểu thuyết “ Một Phần Đời Trong Chiến Tranh”, có đề cập đến giai đoạn cải cách ruộng đất, nhưng tất cả những chi tiết đó, mình chỉ nghe lại, nên tả chưa đến tận cùng của đáy nước mắt. Đọc cuốn tiểu thuyết: “ Nước Mắt Một Thời” của nhà văn Nguyễn Khoa Đăng, có lẽ do nhà văn trực tiếp chứng kiến, một bi kịch gia đình, một bi kịch tình yêu phơi ra như những dòng máu chảy thành vệt hiện rõ trên tường. Một thời khủng khiếp, con người đày đọa con người, còn hơn con người đày đọa súc vật. Thương cho nhân vật “tôi” trong tiểu thuyết, thương cho cả nhân vật Én, yêu đến như thế, đẹp như thế mà không thể đến được với nhau. Yêu càng tha thiết, càng khao khát lại càng xa nhau. Một kiếp bị người ta đọa đầy cũng là một kiếp chung thủy đợi nhau. Gần ba trăm trang tiểu thuyết “ Nước Mắt Một Thời”, có thể nói, đây là ý nghĩ của riêng mình, nhà văn Nguyễn Khoa Đăng đã chỉ rõ bản chất của công cuộc “cải cách ruông đất” là gì ? Hãy đọc kỹ những trang tác giả tả hoạt động của Đội cải cách ruộng đất, hay chân dung của Đội Khoảnh, Kền…Những màn tra tấn bắt nhận tội, những tội hoàn toàn bịa đặt để chính những người tố “điêu" ấy cũng thấy xấu hổ, ân hận mà không làm sao thanh minh được, để đến tối, lần mò đến nhà người bị nạn giập đầu xuống xin lỗi.
          Bản chất của một cuộc Cách mạng nông dân hiện rõ khi có thành quả. Nó sẽ phản động, tàn ác và đem lại hậu quả xấu khôn lường, không những cho từng gia đình mà cả dân tộc. Với sự nhân văn, cao thượng, trong đoạn kết của cuốn tiểu thuyết, nhà văn Nguyễn Khoa Đăng muốn kết thúc câu chuyện này có hậu. Nhưng mình vẫn nghĩ, di hại của cái gọi là “cải cách ruộng đất”, đến nay vẫn còn, chỉ có điều nó diễn ra dưới hình thức tinh vi hơn, tàn độc hơn, phi nhân bản hơn, hèn hạ hơn vì tư tưởng nông dân, nếp nghĩ nông dân vẫn đang ngự trị cơ mà!
          Vào Sài Gòn, nhịp điệu cuộc sống lúc nào cũng vội, cũng gấp gáp, mình biết thế! Nên tranh thủ đợi Hà Tùng Sơn đến đón, mình đứng trước cổng của cơ quan Lê Thiếu Nhơn đọc gấp cuốn tiểu thuyết mà nhà văn Nguyễn Khoa Đăng vừa tặng. Sơn đến đón,  thấy vậy cười: “Nhà văn các ông, tôi nghe nói ít đọc sách của nhau. Nhìn ông thế này, tôi lại nghĩ khác…”. Lời nhận xét của Sơn không sai, nhưng tùy người. Riêng với mình, sách của các nhà văn tặng, cố đọc. Đọc để học thêm được điều gì hay điều nấy. Mình đang nghĩ, đọc xong cuốn tiểu thuyết này sẽ viết một bài nhận xét. Thực tế đây là cuốn tiểu thuyết đáng đọc.
          Buổi trưa ở Sài Gòn trong một quán vắng, mình với Hà Tùng Sơn nói chuyện nhiều. Nói gì thì nói, gốc của mình vẫn là anh thầy giáo, dẫu có bỏ nghề hơn hai mươi năm nay rồi. Mỗi khi đến ngày “Hiến chương các nhà giáo” 20 tháng 11, nghĩ lại, lòng vẫn thấy rưng rưng. Không có những năm tháng làm “thầy”, không có những năm tháng “thầy” ra “thầy”, “trò” ra “trò” mình không thể có ngày hôm nay và không thể có nguyên vẹn tình thầy trò như ngày hôm nay. Hà Tùng Sơn hơn mình, đã có lúc chuyển ngành, nên một quan chức, nhưng cương quyết không bỏ nghề, vào Sài Gòn vẫn quyết tâm trở lại với giáo án, giảng đường, vẫn đau đáu một ước nguyện làm thế nào “thầy” ra “thầy”, “trò” ra “trò” của một trường đại học lớn. Nhưng, bối cảnh bây giờ, xã hội đang sống, một thực tế “oi khói đen kịt” ai cũng chứng kiến. Nói đến giáo dục chỉ có tiếng thở dài đến não lòng, liệu quyết tâm của ông bạn vàng có trở thành hiện thực không ? Hay chỉ là một cốc nước trong đổ xuống một ao bùn!!! Nói chuyện giáo dục giữa trưa trong một quán vắng, thưa người, món ăn ngon thành ra nặng nề, không hợp, mình và Sơn quay sang nói chuyện gia đình, con cái. Thế là thấy nhẹ người!
      Trưa thứ ba, đang nghĩ cách làm sao tránh được cuộc nhậu với một ông doanh nghiệp có làm ăn với vợ chồng mình, thì được điện thoại của Nguyễn Quang Lập: "Định hẹn với ông chiều đến nhưng tám giờ tối nay ông “bay” ra Đà Nẵng, thời gian gấp rút quá. Trưa nay đến quán Ziều Đỏ đi, có thời gian nói chuyện nhiều. Anh Trung Trung Đỉnh, anh Nguyễn Trung Dân và Nguyễn Nhật Ánh cũng đến…”. Thế là có cớ để khước từ cuộc nhậu với ông doanh nghiệp nhiệt tình, hẹn khi khác. Trưa đấy mình đến quán Ziều Đỏ. Vừa đến cũng là lúc gặp nhà văn Nguyễn Quang Lập từ trên taxi bước xuống, chưa kịp chào hỏi nhau thì một chiếc xe du lịch màu đỏ bốn chỗ ngồi xịch tới. Nhà báo Nguyễn Trung Dân trực tiếp cầm lái, đưa nhà văn Trung Trung Đỉnh đến gặp mấy thằng viết văn đàn em.
         Mình cùng mọi người lên gác hai, ngồi chưa ấm chỗ thì Nguyễn Nhật Ánh, trên nét mặt mồ hôi đổ giọt không kịp lau cũng vừa đến. Đi cùng với Ánh là một em sinh viên khoa báo chí, dáng nhanh nhẹn, nét mặt vui. Hai thầy trò ngồi chung bàn, câu chuyện vì thế thêm ồn ã. Qua câu chuyện của nhà văn Nguyễn  Nhật Ánh, mình mới biết thêm một chi tiết, vì Nguyễn Quang Lập không nói. Trong hội sách vừa tổ chức, lẽ ra nhà văn Nguyễn Quang Lập, cũng giống như nhà văn Nguyễn Nhật Ánh đến tại hội chợ sách ký tặng vào tác phẩm của mình viết, nếu như độc giả mua có yêu cầu. Nhưng có lệnh miệng, không biết từ đâu “ ban” xuống. Yêu cầu nhà văn Nguyễn Quang Lập không được đến hội chợ sách!!! Một cái lệnh “ cấm” hết sức lạ lùng. Nhưng thôi, nếu nói đến chuyện “ lạ lùng” ở nước ta, thì kể cả ngày không hết. Với lại, những tác phẩm của nhà văn Nguyễn Quang Lập, đâu có cần bán ở hội chợ, bán chỗ nào chẳng có người mua. Có kẻ  “ghét” nhà văn viết trên blog, nói cạnh, nói khóe, cũng thừa nhận đã phải mua tác phẩm của nhà văn để đọc, mà đọc“ thích thú”. Rồi như chứng minh, nếu là tác phẩm hay, đáng đọc, chỗ nào cũng người đón nhận, một em tiếp viên nhà hàng Ziều Đỏ ( nơi  trưng bày sách của nhà văn ) đưa hai quyển sách “ Ký ức vụn”  của nhà văn Nguyễn Quang Lập  mà hai độc giả vừa mua đến để cho nhà văn ký tặng. Nhà văn Nguyễn Quang Lập ký rất trang trọng và cho rằng chuyện “cấm ”không cho nhà văn đến hội chợ sách ký tặng tác phẩm của mình cũng là một chuyện hết sức… trang trọng, không phải nhà văn nào cũng được như thế!
        Mấy nhà văn được ngồi với nhau, rượu vào, lại rượu ngon, tất yếu lời ra, ra vô tội vạ. Nhà báo Nguyễn Trung Dân mang ra một chai rượu ngoại  “ khủng”, mình không uống rượu nhiều, nên không biết tên, chỉ có một thoáng vơi gần nửa. Giữa trưa, quán Ziều Đỏ phải phục vụ cơm văn phòng nên đồ nhậu mang lên chậm, chỉ có rượu “ chay” nên phải uống. Uống rồi, phải say. Say thì phải nói. Nói chuyện trên giời, dưới biển. Nguyễn  Nhật Ánh nhận xét, trong những tản văn hay mà nhà văn Nguyễn Quang Lập viết, có bài “ Niệu liệu pháp” là hay nhất. Nhà văn Nguyễn Quang Lập cũng gật đầu công nhận vì có một thời ai nói gì cũng nghe, những điều vô lý mà cứ tin, tin một cách thành thực. Huống hồ là “ cái nước” của chính mình thải ra, chẳng lẽ mình lại hại mình à! Bây giờ mới phát hiện ra rằng, không ai hại mình cả, mà có hại may lắm chỉ vài lần. Còn chính mình đi lừa mình, hại mình thì lúc nào cũng có. Đề phòng đấy mà vẫn cứ bị lừa. Nguyễn Nhật Ánh hỏi tất cả mọi người trong bàn “ Uống chưa?” . người gật đầu: “ Uống rồi!”, kẻ thì bảo “ Tôi không uống, nhưng bố tôi uống!”, ngừơi khác thừa nhận: “ Do uống nhiều bia quá, đến lúc uống nước… của mình, khai toàn mùi bia, nên tôi sợ!”. Cười đau cả ruột!
          Cô bé đi cùng với nhà văn Nguyễn Nhật Ánh hóa ra là đồng hương với nhà văn Nguyễn Quang Lập, nhưng có thêm một chi tiết cảm động, cô bé chính là cháu nội của nhạc sỹ Nguyên Nhung, tác giả những bài hát vang mãi một thời: “ Chiếc đàn môi”, “Bài ca bên cánh võng”… Những bài hát của nhạc sỹ Nguyên Nhung, như nhà văn Nguyễn Quang Lập đánh giá  là “ sang trọng”. Bài hát “ Bài ca bên cánh võng” từng theo mình suốt dãy Trường Sơn năm 1972, khi dừng chân bên con suối, mắc võng đung đưa: “ Dừng chân bên suối võng đưa. Rừng ru ta thân yêu như quê nhà. Như con thuyền trên bến. Đợi rẽ sóng trùng khơi…”. Bọn mình hát lại cho cô bé nghe bài hát đó, ánh mắt cô bé rung rưng, cảm động, chắc đang nhớ về ông nội của mình.
         Chuyện không ra đầu, ra đũa cứ thế cho đến hết buổi chiều…
          Cũng còn may ra sân bay kịp!
          Tạm biệt nhé! Một lần lãng đãng… Sài Gòn.

 TKT

14 tháng 9, 2017

Vãi cả Paris, Singapore với Silicon

Thiệt lòng tui ghét mấy thằng cha lãnh đạo mắc bệnh khoác lác (dân miền Trung gọi là nói trạng). Sướng lên là chúng tuyên bố sẽ xây dựng Hà Nội thành một Paris của VN, Đà Nẵng thành Singapore, còn Sài Gòn sẽ thành một TP thông minh, một thung lũng Silicon.
Cả đêm qua Silicon nơi tôi đang sống trời mưa như trút. Sáng nay đi làm trong mưa tôi xắn cao ống quần, chân đeo đôi dép cũ, quai ba lô thắt chặt nhìn cứ như bộ đội vượt Trường Sơn thời chống Mĩ. Nhiều bà con chôn chân giữa những con đường ngập nước, công sở vắng hoe. Theo lịch, 8h30 tôi có một cuộc họp nhưng chờ đến 9h thì có tin báo là cancel vì nhiều người bị ngập nước tắc đường không đến được. Giờ này chắc Paris ngoài đó cũng đang mưa to gió lớn do ảnh hưởng của bão số 10 rồi.
Vãi cả Paris, Singapore với Silicon. Tụi bay bớt khoác lác cho dân nhờ. 

Đường phố "thũng lũng Silicon" sau mỗi trận mưa


13 tháng 9, 2017

Đã có iPhone 8, iPhone X rồi à

Tôi rất mê những sản phẩm công nghiệp và công nghệ. Từ xe máy, xe hơi đến máy bay; từ máy tính xách tay đến máy tính bảng và điện thoại di động tôi mê tất.
Rạng sáng nay hãng Apple đã cho ra mắt 3 chiếc iPhone mới trong đó có iPhone 8 và iPhone X.
Thật là tuyệt vời.


Dù không có tiền để mua nhưng tôi xem đó là niềm tự hào của một xã hội mà nền công nghệ đã phát triển ở tầm cao và đầy ắp tính sáng tạo. Tôi tự hào thay cho nước Mỹ, tự hào thay cho người dân Mỹ khi họ là quê hương của Apple.
Và tôi càng buồn cho đất nước Việt Nam chỉ mỗi chuyện bắt chước cũng không xong. Khi người ta làm iPhone thì anh Quảng làm bPhone và quảng cáo là rất “chất”. Tôi cứ nghĩ mãi cái chữ “b” trong bPhone của anh Quảng không biết có nghĩa là gì. Trong lúc chữ “i” trong iPhone thì rõ ra là viết tắt của innovation có nghĩa là đổi mới, sáng tạo; còn “b” thì là cái nghĩa gì có trời mà biết. Hay nói như dân mạng trên facebook đã dịch ra là “bom”. Nổ như bom. Bom phone bán gần chục triệu chẳng ma nào mua. Trong lúc cái điện thoại OPPO của Tàu hay cái ASUS zenfone 3 của Đài Loan (Sắp ra Zenfone 4 giá tại VN chỉ có 5 triệu) mà đẹp long lanh và vô cùng tiện ích. Dân ta dù ghét Tàu như xúc đất đổ đi nhưng vẫn sẵn sàng rút túi mua OPPO; và mua nhiều nhất là Zenfone 3, zenfone 4 về dùng với tất cả sự hài lòng vì vừa tốt vừa đẹp lại hợp túi tiền.
Sự bắt chước này đã có hệ thống từ trung ương rất lâu rồi. Đang là đảng lao động ngon lành và có nhiều ý nghĩa bỗng bắt chước TQ, Liên Xô đổi thành đảng CS cho giống người ta (giờ muốn đổi lại thành đảng lao động nghe cho êm tai cũng ngượng); bí thư thứ nhất đổi cho được thành tổng bí thư, hội đồng chính phủ thành hội đồng bộ trưởng, thủ tướng thành chủ tịch hội đồng bộ trưởng…  gọi cho nó oai.v.v. Đến khi chúng nó sụp đổ, Hội đồng bộ trưởng quay lại chính phủ thì ta cũng quay lại chính phủ, chủ tịch hđbt của nó thành thủ tướng thì ta cũng quay về lại với thủ tướng. Có mỗi cái ông Phạm Văn Đồng quay đi quay lại hết thủ tướng lại chủ tịch hđbt rồi lại thủ tướng đến chóng cả mặt oai đâu chẳng biết nhưng bắt chước thì giỏi hơn cả loài khỉ.
Khi nào cũng kêu gào sẽ công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước mà đến bây giờ cái xe máy cũng không sản xuất được, cái ô tô lại càng xa vời. Mới đây tay tỉ phú Vượng đã cho khởi công nhà máy sản xuất ô tô và tuyên bố chỉ 24 tháng nữa sẽ cho ra đời chiếc ô tô Việt Nam mang thương hiệu Vinfast. Tôi chắc chắn 100% là nó sẽ thất bại bởi đến khi đó các hãng xe hơi của Nhật, của Hàn… đang làm mưa làm gió trên thị trường VN hiện nay sau khi đã thu lãi chán chê với mức giá trên trời sẽ hạ giá xuống ngang đúng tầm của nó, mỗi chiếc chỉ còn khoảng 300 – 400 triệu như đang ở chính quốc thì Vinfast của tay Vượng chết yểu từ trong trứng là cái chắc.  
Chiều nay trên đường đi làm về sẽ mua vài tấm Việt lốt. Trúng số sẽ chơi ngay con iPhone 8 Plus cho nó sướng.  


5 tháng 9, 2017

Một chuyến xuất ngoại

Dịp 2/9 được nghỉ 3 ngày liền. Đang tính chuyện không biết nên đi đâu xả hơi thì Nguyễn Quang Ngọc gọi: Đi Đồng Tháp không? Chi vậy. Sáng mùng 2 Đài PTTH Đồng Tháp mời tao dự kỉ niệm 40 năm thành lập (Ngọc trước khi về báo Nông nghiệp có chục năm làm ở đài ĐT). OK. Đi ngay. Tôi đồng ý trong vòng chưa đầy 1 nốt nhạc.
Sáng mùng 1 thứ 6 tôi đi làm mang theo cả ba lô áo quần. 15h30 chiều Ngọc ghé xe vô Nguyễn Văn Tráng, tôi gửi ngay một cái mail cho sếp nói có việc riêng xin nghỉ sớm chút xíu rồi ra xe. 30 phút sau chúng tôi đã bon bon trên cao tốc Trung Lương – Mỹ Thuận. 18h đến Mỹ Tho ghé nhà đồng đội Trương Ngọc Kim lính C20 F341. Thấy hắn đang đánh trần nấu cơm hai thằng tôi bắt cóc đi nhậu luôn. Ở Mỹ Tho có quán thịt rắn ngon bá cháy, chúng tôi tấp vô làm con rắn ri nặng kí mốt với hai món xào hành sả và cháo. Con rắn là thứ động vật tôi sợ nhất nhưng ăn nó thì tôi lại thích. Tôi sợ tất cả những con thuộc loài bò sát.
Tối đó ngủ lại 1 đêm với xứ sở nổi tiếng của những ngọn đèn nửa tỏ nửa lu (Rút từ câu ca dao:
Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ
Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ, ngọn lu
Anh về học lấy chữ nhu
Chín trăng em cũng đợi, mười thu em cũng chờ…)
Sáng hôm sau đúng ngày QK 2/9 chúng tôi đi tiếp về Đồng Tháp để 9h Ngọc kịp dự Lễ kỉ niệm ĐTTV. Có rủ Kim cùng đi cho đủ bộ ba nhưng nhà nó hôm đó lại có kế hoạch lên SG có việc.
Vui chơi ăn nhậu ở Cao Lãnh một ngày, sáng mùng 3/9 hai thằng tôi lại bon về vùng biên giới VN-CPC. Xe chúng tôi đi dọc QL 30, đi xuyên qua huyện Tam Nông (Tỉnh Đồng Tháp trước đây kết nghĩa với tỉnh Phú Thọ nên khi lập huyện mới này đã lấy tên một huyện ở Phú Thọ có tên là Tam Nông để đặt tên) nơi có thi trấn Tràm Chim với khu sinh quyển Tràm Chim nổi tiếng. Chúng tôi tấp vô một quán hủ tiếu giữa thị trấn Tràm Chim ăn sáng cafe để lấy sức đi tiếp. Chưa ở đâu tôi ăn tô hủ tiếu mà thấy ngon như thế, đúng chất hủ tiếu Sa Đéc. Nước ngọt lừ, sợi mì dai mà dòn, những cục xương hào phóng với dày thịt thơm mà mềm ăn nhức cả răng, rau sống cả dĩa tràn trề ăn vô tư. Li café cũng thơm ngát luôn. Quá đã.
11h trưa thì đến thị trấn Sa Rài của huyện Tân Hồng Đồng Tháp. Vùng đất này với Ngọc là thổ công nên đã quá quen thuộc vì hắn từng có hàng chục năm làm dân Tháp Mười nhưng với tôi thì đây là lần đầu tiên được đặt chân đến nên có cảm xúc thật khó tả. Thời còn là phóng viên truyền hình ĐT, Ngọc từng lên đây làm một phim tài liệu về đơn vị bộ đội biên phòng đóng quân ở vùng biên giới Dinh Bà đi dự liên hoan truyền hình toàn quốc đạt huy chương vàng. Vùng đất này có thể nói đã thành máu thịt của Ngọc. Hôm nay coi như Ngọc đưa tôi trở lại chiến trường xưa.  
Địa giới huyện Tân Hồng ở phía đông giáp tỉnh Long An, phía tây giáp thị xã Hồng Ngự, phía nam giáp huyện Tam Nông, phía bắc giáp Vương Quốc Campuchia. Từ Thị trấn Sa Rài lên biên giới CPC chỉ 10km. Ngay cái tên Sa Rài nghe đã rất có vẻ Khmer rồi.
Đón chúng tôi ở Sa Rài là nhà thơ Đỗ Văn Thắng bút danh Đỗ Ký. Thắng quê gốc Quảng Nam, tổ tiên di cư vào vùng đất biên giới này từ những năm 30 của thế kỉ trước. Anh lên SG học và tốt nghiệp khoa văn ĐHSP Tp. HCM năm 1984. Sau những năm tháng hành nghề dạy học, anh xin nghỉ việc một cục ở nhà làm thơ. Đỗ Ký có lẽ là người làm thơ hiếm hoi của xứ Việt Nam này bởi anh từng có 9 tập thơ được xuất bản với số lượng lên đến 700.000 bản và tập nào in ra cũng bán được. Thậm chí có tập anh in đến 170.000 bản vẫn bán hết. Kể cũng là một sự lạ đời. Sự lạ của Đỗ Ký khiến nhà thơ Lê Thiếu Nhơn nghe mà phát choáng và phải tìm lên tận nhà Đỗ Ký ở Sa Rài muc sở thị để rồi sau đó viết một bài dài về tay nhà thơ lạ lùng này với title “Vẫn còn một gã bán thơ” in trên tờ Văn nghệ công an.
Hàn huyên và café được một lúc thì Đỗ Ký cùng nhập bọn đi lên biên giới. Ngay sát biên giới là một quán café có tên Nắng chiều do một ông bạn của Đỗ Văn Thắng tên là Nguyên làm chủ quán. Lại café, lại thêm Nguyên nhập bọn, chúng tôi vượt qua biên giới để sang chơi bên đất CPC. Nguyên là cư dân biên giới, Đỗ Ký có con trai là sĩ quan biên phòng cửa khẩu nên chúng tôi xin qua CPC khá dễ dàng.
Cửa khẩu này phía VN gọi là cửa khẩu QT Dinh Bà (thuộc xã Tân Hộ Cơ, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp. Đây là điểm cuối của Quốc lộ 30 (Km 120 + 000). Bên phía CPC gọi là cửa khẩu Bon Tia Chak Cray thuộc tỉnh Prey Veng. Gọi là cửa khẩu Quốc tế nhưng khá hoang vu và nghèo nàn. Không có khách du lịch, Dinh Bà chỉ là nơi qua lại của cư dân vùng biên và dân buôn lậu VN chủ yếu là gạo, đường, thuốc lá… Ranh giới giữa hai nước là con sông Sở Hạ mùa khô có thể xắn quần lội qua lội lại giữa 2 nước. Bắc qua sông là một cây cầu bê tông dài chừng 40m, ở chính giữa cầu là ranh giới phân chia 2 nước với một lá cờ trắng có hình chữ thập đỏ dấu hiệu của trạm cứu hộ cứu nạn. Tôi đã đứng ngay lằn ranh giới giữa 2 nước ấy mà chụp một tấm hình kỉ niệm với lòng bồi hồi xúc động.
Chúng tôi xin phép đi qua đồn biên phòng nước bạn và đi sâu khoảng 300m, lượn qua các tiệm tạp hóa, cửa hàng cửa hiệu của người CPC mua mấy món đồ làm quà. Cũng coi như là có thêm một chuyến xuất ngoại để ghi vô lí lịch. Ngẫm ra tôi rất có duyên với CPC bởi đã có đến 4 lần đi qua biên giới của đất nước Chùa Tháp. 3 lần đi qua cửa khẩu Mộc Bài và bây giờ là cửa khẩu Dinh Bà.
Sau 30 phút xuất ngoại chúng tôi lại quay trở về với Tổ Quốc VN. Tấp vô một cái quán ngay bên đồng ruộng đang mùa nước nổi ăn các món thuộc về đặc sản Nam Bộ như cá linh chiên xù, cá linh lẩu… Đi miền Tây mùa nước nổi mà không ăn cá linh, chuột, rắn, bông súng, bông điên điển… thì thà ở nhà còn hơn.
Nhậu xong đã 2h chiều, chúng tôi tạm biệt Đỗ Ký, tạm biệt Nguyên, tạm biệt miền biên ải Tổ quốc. 19h thì về đến SG. Kết thúc một chuyến đi quá thú vị.

Đoàn dừng lại phía VN trước khi vượt biên. Sau lưng là cửa khẩu. Nhìn cái bóng tròn ngay dưới chân mỗi người có thể biết chúng tôi vượt biên sang nước bạn đúng lúc 12h trưa. Trời biên giới mùa này nắng chang chang vẫn không ngăn được bước chân lang bạt của chúng tôi.

Trái sang: Nhà thơ Đỗ Ký, NB Nguyễn Quang Ngọc, Hà Tùng Sơn và anh bạn tên Nguyên (chủ quán cafe Nắng Chiều trên biên giới VN-CPC), người hướng dẫn chúng tôi du ngoạn sang nước bạn. Nơi này thuộc tỉnh Prey Veng CPC cách cửa khẩu Dinh Bà khoảng 500m. Trên đất nước CPC đi đâu cũng gặp bức tranh lớn có hình ảnh của Thủ tướng CPC Hun Xen và Chủ tịch Quốc hội Chia Xim.

Đứng trên đất nước bạn CPC nhìn về phía VN

Con sông này gọi là sông Sở Hạ, ngăn đôi 2 nước VN và CPC bằng một cây cầu gọi là cầu Sở Hạ. Tôi đang đứng ở lằn ranh giữa hai nước nơi có đặt một trạm cứu hộ cứu nạn. Bên tay phải tôi là VN, bên tay trái tôi là CPC. Đứng ở đây không xúc động mới lạ.

Nhà báo Nguyễn Quang Ngọc tác nghiệp. Nhìn cái bóng Ngọc ở dưới chân mới hiểu hết nghĩa của thời điểm buổi trưa tròn bóng.

Chúng tôi ngồi nhậu bên cánh đồng Sa Rài đang mùa nước nổi

Con sông Sở Hạ ranh giới tự nhiên giữa 2 nước VN - CPC chỉ rộng bằng một con rạch nhỏ ở Tp. HCM

Trên đường về chúng tôi ghé thăm tượng đài Chiến thắng Giồng Thị Đam - Gò Quản Cung. "Cách đây 50 năm, ngày 26/9/1959, tại Giồng Thị Đam – Gò Quản Cung, Tiểu đoàn 502 Bộ đội tỉnh Kiến Phong (nay là tỉnh Đồng Tháp) đã làm nên chiến thắng lịch sử, tiếp thêm lực đẩy trong thế chuyển mình vươn lên của cách mạng miền Nam. Đây là sự kiện lịch sử, mang ý nghĩa quan trọng trong việc chỉ đạo, lãnh đạo, không những đối với cán bộ, quân và dân trong tỉnh, mà còn cho Liên Tỉnh uỷ miền Trung Nam bộ, cũng như cả chiến trường Nam bộ lúc bấy giờ".

Thơ đề ở tượng đài Chiến thắng Giồng Thị Đam - Gò Quản Cung

Điều gây cho tôi xúc động là ở chân tượng đài nơi cùng trời cuối đất này không hiểu sao lại có 2 cái ghế đá của Trường Đại học Vinh và Khoa Sau đại học Trường Đại học Vinh kính tặng. 

Hai thằng tôi rong ruổi trên chiếc Mazda 5 chỗ rộng rinh của Ngọc. Hắn cầm lái còn tôi ngồi ngắm cảnh và tán phét 



28 tháng 8, 2017

Quy Nhơn và tôi - 1

Tháng 9 năm 1979 tôi tốt nghiệp đại học và dù trước đó đã có 3 năm 3 tháng đi lính trở về với quân hàm hạ sĩ một sao đè lên một vạch mềm bằng lụa màu vàng, tôi vẫn được ưu ái cử đi học thêm khóa sĩ quan dự bị 3 tháng ở Trường quân sự Nghi Kim để tốt nghiệp được phong quân hàm thiếu úy với một ngôi sao bạc nằm trên một vạch bạc. Tiếng là thành sĩ quan nhưng tôi chẳng những không thấy oai phong gì mà chỉ lấy làm căm hận thêm cái chế độ quân trường dã man chỉ vì trong thời gian học tôi suýt nữa bị kỉ luật đuổi học trả về trường đại học. Mà đã bị trường quân sự trả về trường thì chắc chắn tôi sẽ bị treo bằng, chuyển sang khu lao động Nghi Xuân trồng rau nuôi gà cải tạo lao động một năm sau đó mới được phân công đi dạy ở một trường cấp 3 nào đó, tan giấc mơ dạy đại học là cái chắc.
Mà lí do của vụ suýt bị kỉ luật thì có gì ghê gớm đâu. Lần đó, sau cả chục ngày nhập trường, đã ra thao trường học chiến thuật quân sự rồi nhưng lũ sinh viên chúng tôi, bây giờ gọi là tân cử nhân, vẫn không được bộ phận hậu cần cấp phát quân trang để huấn luyện theo quy định. Tôi khi đó do là cựu binh, đảng viên nên được cử làm tiểu đội trưởng đã cùng 6 tiểu đội trưởng đảng viên khác trong đó có Lê Trọng Minh bạn cùng lớp với tôi trong một tối sinh hoạt đại đội nhất loạt đứng lên phản ánh rất gay gắt về sự chậm trễ vô trách nhiệm của lãnh đạo nhà trường đối với quyền lợi của học viên.
Trước sự thẳng thắn đến dũng cảm của chúng tôi (gồm 7 tiểu đội trưởng đều là cựu binh, đều là đảng viên), đám sĩ quan cấp tá lãnh đạo trường QS rất lấy làm tức tối. Bởi lần đầu tiên trong cuộc đời binh nghiệp chúng thấy một đám hạ sĩ quan cấp dưới lại dám đứng lên phê phán cả sĩ quan chỉ huy. Sự việc lập tức được cấp báo lên bộ tư lệnh quân khu IV. Ngay sáng hôm sau một chiếc com măng ca đưa một thiếu tướng phó chính ủy quân khu về làm làm việc với ban chỉ huy nhà trường. Trong buổi họp, 7 thằng tiểu đội trưởng chúng tôi bị khép vào tội chống lại cơ quan hậu cần, mà chống lại cơ quan hậu cần tức là chống lại quân đội, mà chống lại quân đội có nghĩa là chống đảng vì quân đội là của đảng. Ở chế độ này, chống ai cũng được nhưng đã chống đảng thì chỉ có nước đi tù hoặc chết. Sau buổi làm việc đó, ông đại úy đại đội trưởng có cảm tình với tôi gọi ra cho biết: Bộ tư lệnh quân khu IV đã ra quyết định kỉ luật bằng cách đuổi chúng tôi ra khỏi trường sĩ quan, trả lại cho trường ĐHSP Vinh giáo dục tiếp.
Nói tôi hận vụ đi học sĩ quan là vì thế. Bởi trước khi lên học sĩ quan dự bị, tôi đã có quyết định của Bộ Giáo dục cử vào làm cán bộ giảng dạy của Trường ĐHSP Quy Nhơn. Chỉ cần sau 3 tháng huấn luyện ở trường quân sự là về phòng tổ chức cán bộ nhận quyết định lên tàu Nam tiến. Hồi đó tốt nghiệp đại học mà được ở lại trường làm giảng viên cũng là cả một niềm tự hào cho bản thân và gia đình. Tôi đã viết thư về quê khoe với ba mạ tôi. Bây giờ thì biết ăn nói giải trình làm sao với ông cụ đây. Cả một tương lai tươi sáng của tôi tại ĐHSP Quy Nhơn tưởng đã cầm chắc trong tay vậy là bị dập tắt chỉ vì dám đứng lên đấu tranh cho lẽ công bằng.
Sau khi biết tin, tôi cùng Lê Trọng Minh và 5 đồng đội kia buồn vô hạn. Có người định ra đường tàu nhảy vô đầu tàu hỏa tự tử, có người tính đường viết thư tình nguyện lên biên giới phía Bắc chiến đấu với quân Trung Quốc xâm lược, thà chết ở biên ải còn hơn nhận án kỉ luật nhục nhã trở về trường đi lao động một năm ở Nghi Xuân.
Thế nhưng ở đời có những điều bí ẩn mà có khi đến chết cũng không giải mã được. Đó là trường hợp thoát án kỉ luật của tôi.
Sáng thứ 2 toàn trường có lễ chào cờ đầu tuần. Viên trung tá hiệu trưởng mặt quắt queo như mặt chuột nhìn gian ác dễ sợ bước lên đứng dưới cờ dõng dạc đọc quyết định kỉ luật của Bộ tư lệnh quân khu. Cả hàng quân im phăng phắc. Tôi là tiểu đội trưởng đứng ở đầu hàng quân lúc đó nhìn cái cột cờ và đám sĩ quan chỉ huy của nhà trường đứng hai bên mà như mờ hẳn đi. Mọi người nhìn chúng tôi như nhìn những tội đồ của lịch sử. Tội chống đảng thì chỉ có nước chết. Có trời cứu may ra...
Tay trung tá hiệu trưởng hắng giọng lấy uy rồi đọc: Căn cứ..., nay quyết định kỉ luật tước quân tịch đuổi ra khỏi trường Quân sự Quân khu, trả về trường ĐHSP Vinh các học viên sĩ quan sau đây: 1/....; 2/..3, 4, 5..., người thứ thứ 6 trong bản quyết định kỉ luật là anh Lê Trọng Minh bạn học cùng lớp 16D K2 với tôi. Lê Trọng Minh, quê Đức Thọ Hà Tĩnh, học trước tôi hai khóa, là SV khóa 10 nhập ngũ làm lính sư đoàn 2 binh đoàn Tây Nguyên, từng tham gia chiến dịch HCM. Trở lại trường anh và tôi học cùng một lớp 16D K2. Minh người nhỏ con, hiền lành, điềm đạm, da xanh tái vì những năm tháng bị sốt rét rừng Trường Sơn hành hạ. Trở về trường cũ sau chiến tranh, Minh học hành chăm chỉ và học giỏi như để bù lại cho những năm tháng thất học vì đi lính. Là đảng viên, Lê Trọng Minh còn là bí thư chi bộ của lớp tôi. Anh luôn làm ra vẻ nghiêm nghị của một bí thư chi bộ nhưng thực sự tôi biết Lê Trọng Minh mang tâm hồn của một nghệ sĩ và lãng mạn. Anh kéo đàn nhị khá hay và biết hát các làn điệu dân ca từ Bắc Bộ đến Nam Bộ, nhất là bài Xe chỉ luồn kim dân ca quan họ Bắc Ninh. Anh tốt nghiệp loại giỏi và cũng được phân công về làm CBGD của một trường đại học. Vậy mà... Sau quyết định dã man và thảm khốc trên, Lê Trọng Minh rơi vào một quãng đời đầy bi kịch. Anh bị treo bằng tốt nghiệp một năm để sang trại cải tạo Nghi Xuân trồng lúa, trồng khoai lang. Sau một năm cải tạo, Lê Trọng Minh được phân công về dạy ở một trường cấp 3 trong Ninh Thuận. Dù bị cuộc đời vùi dập nhưng với bản chất khảng khái của một nhân cách tốt đẹp, Lê Trọng Minh vẫn ung dung sống, anh đã trở thành Hiệu trưởng của nhà trường, sau này còn được tín nhiệm cử làm hội thẩm nhân dân của tòa án tỉnh. Bây giờ thì anh đã vợ con cháu đề huề với một căn nhà rất đẹp định cư luôn ở khu nghỉ mát Ninh Chữ. Tôi luôn nhớ về Lê Trọng Minh với vụ án cũng ngang tầm với vụ án Lệ Chi Viên thời Nguyễn Trãi ở thế kỉ thứ XV. Vì thế mà hễ có dịp là tôi lại ghé Ninh Chữ thăm anh, hai thằng thường cùng nhau đi tắm biển Ninh Chữ vừa ngụp lặn vừa nhắc về kỉ niệm xưa. Cái buồn đã được chúng tôi chôn chặt và ở lại phía sau, bây giờ chỉ còn niềm vui.
Trở lại với vụ đọc quyết định kỉ luật trong buổi chào cờ nghiệt ngã ở trên. Người thứ 6 là Lê Trọng Minh. Đọc đến đây, tay trung tá hiệu trưởng bỗng dừng lại. Mọi ánh mắt đều dồn hết về phía tôi, người chắc chắn xếp ở vị trí thứ 7, vị trí cuối cùng trong bản danh sách. Tay trung tá cũng đưa mắt nhìn về phía tôi với một ánh nhìn rất khó hiểu và có cả sự ngạc nhiên lớn dù mọi thông tin về tôi đang nằm trong tay hắn. Người tôi như run lên. Chắc chắn là tôi sẽ cùng một số phận với người bạn học, người đồng đội Lê Trọng Minh. Tôi nghĩ đến trại cải tạo Nghi Xuân, sẽ có 365 ngày trồng khoai chờ tôi ở đó vào ngày mai.
Bỗng tay trung tá tuyên bố: Buổi chào cờ hôm nay đến đây là hết. Giải tán.
Và đó là một bí ẩn đối với tôi, một bí ẩn lớn của cuộc đời tôi mà đến ngày hôm nay, sau 38 năm vẫn chưa được giải mã. Vì sao tôi không bị kỉ luật, vì sao tôi vẫn được giữ lại trường sĩ quan, vì sao sau đó tôi vẫn được nhận quyết định của Bộ Giáo dục về làm giảng viên của Trường ĐHSP Quy Nhơn để rồi sống mãi ở Quy Nhơn đến 31 năm trời.
Cả một bí ẩn lớn mà đến nay mỗi lần gặp nhau, Lê Trọng Minh vẫn hỏi tôi. Điều mà chính tôi đến nay cũng không biết.
Đó cũng là lí do vì sao mà tôi phải show cái phần đời ở trên của tôi ra đây trước khi viết về Quy Nhơn và tôi. Bởi nếu vào cái buổi sáng chào cờ đó mà có thêm một người mang thứ tự số 7 trong bản án kỉ luật của Bộ tư lệnh Quân khu IV thì chắc chắn sau đó một năm tôi cũng sẽ như Lê Trọng Minh nhận một quyết định về dạy ở một trường cấp 3 của một tỉnh nào đó. Và chắc chắn khi đó tôi sẽ không có cơ hội đặt chân đến Quy Nhơn để sinh sống, cũng như đến Trường ĐHSP Quy Nhơn để lập nghiệp. Và cũng không biết cuộc đời tiếp theo của tôi sẽ trôi nổi thế nào.

(Còn tiếp) 

Ngày tôi còn dạy ở Khoa Ngữ văn ĐHQN, Lễ ăn mừng tốt nghiệp của SV lớp tôi chủ nhiệm khóa 6 (Văn 6A), 7/1988. Trái sang: Hà Tùng Sơn, Nguyễn Hồng Thoa (SV khóa 6) Nguyễn Công Thắng (VHVN) Nguyễn Khánh Nồng (Ngôn ngữ, đã qua đời) Biện Tấn Mân (SV khóa 6)





24 tháng 8, 2017

Nhớ Bùi Lợi

Vậy là tròn 7 năm người bạn, người đồng nghiệp Bùi Lợi đi xa. Nhớ Lợi đăng lại bài viết ngày Lợi mất như một nén tâm nhang tưởng nhớ bạn.

Sáng nay lên trường, vừa mở cửa phòng thì Ngô Quang Hiển đang có chuyến công tác ở Hà Nội điện thoại báo Bùi Lợi đã mất chiều ngày hôm qua tại BV Bạch Mai Hà Nội, thi thể đang quàn ở HN để đợi ngày đưa về an táng tại quê Lợi nơi Quỳnh Lưu Nghệ An. Nhận hung tin về người bạn người đồng nghiệp có hàng chục năm dạy với nhau ở khoa Văn ĐHQN mình cứ thảng thốt cả buổi sáng. Là bạn đồng môn ở khoa Ngữ Văn Đại học Vinh, Lợi học K15 mình K16, bọn mình là lứa giảng viên đời đầu cùng về dạy khoa Văn Trường ĐHSP Qui Nhơn (QNU). Lợi dạy văn học VN hiện đại, mình ở tổ nước ngoài.
Nhớ hồi mới về khoa, có hôm diễn ra trận đấu bóng đá trên sân vận động của trường, đám GV gồm các thầy giáo trong khoa mà khi đó bọn mình mới hai ba hai lăm tuổi thi đấu với đội bóng của SV trong khoa. Đội thầy đá với đội trò, các thầy thì lẻo khoẻo trò thì sung sức, riêng mình chẳng biết bóng bánh gì nên đá lung tung, Bùi Lợi chạy lại ghé tai nói nhỏ: anh cứ đá về phía gôn của bọn SV ấy, đừng đá về gôn quân mình là được. Thật hài hước làm sao.
Ngẫm nghĩ lại thấy con người ta đúng là có số thật. Số Lợi là số không sướng nếu không nói là khổ. Khi mọi người cùng khổ thời bao cấp như nhau thì Lợi ngoài giờ dạy trên lớp đại học từng phải đi lao động phổ thông để kiếm sống thêm.
Khi mọi người gọi là bắt đầu có chút sướng lên thì Lợi dính bệnh nặng. Những năm cuối đời lại càng khổ vì bệnh tật.
Đã thế Bùi Lợi lại hay nặng lòng quan tâm đến thời cuộc, chuyện trường chuyện khoa anh đều không rời ngay cả khi nằm trên giường bệnh vì thế đã khổ lại càng khổ thêm, khổ thân xác và khổ cả tâm.
Sau cú đt của Ngô Quang Hiển, nhiều bạn bè khác cũng đt cho mình. Hải Vân, người dạy cùng tổ bộ môn với Lợi đang vừa phải chịu tang chồng cũng đt nói cái số BL sao mà khổ, thương Lợi quá.
Vậy là khoa văn QNU của mình đã có mấy người ra đi mãi mãi. Trước Bùi Lợi là Võ Lý Hòa ra đi ở tuổi 45, sau Võ Lý Hòa là Nguyễn Khánh Nồng mất khi nghỉ hưu ở SG. Trước đó nữa là anh Huỳnh Văn Trứ dạy Hán Nôm. Tất cả đều ra đi do bạo bệnh.
Ai mất cũng khiến mình bần thần bởi dù thân thiết nhiều hay ít thì ít nhất cũng gắn bó với mình qua hàng chục năm giảng dạy ở khoa Văn QNU. Bao nhiêu là kỉ niệm buồn vui.
Bùi Lợi, Võ Lý Hòa, Nguyễn Khánh Nồng, Huỳnh Văn Trứ dù đã đi mãi về thế giới bên kia thì vẫn cứ hiển hiện trước mắt mình như là mới gặp gỡ chuyện trò với nhau ngày hôm qua. Chuyện nhà chuyện khoa chuyện trường và cả chuyện đời.
Ở xa không đến nơi bạn nằm xuống để thắp hương viếng bạn được mình viết mấy dòng này cầu mong Bùi Lợi được thanh thản nơi chín suối mà an giấc ngàn thu.
Sài Gòn, 24/8/2010
Bùi Lợi chụp hình lưu niệm cùng lớp SV khóa 9 khoa Ngữ văn ĐHQN, Lợi tay đeo đồng hồ thứ 7 đứng hàng đầu từ trái sang. (Ảnh: http://vank9dhqn.blogspot.com/2010/08/vinh-biet-thay-bui-van-loi.html)



12 tháng 8, 2017

Anh về trải chiếu đếm sao

Chiều cuối tuần cô văn thư đưa cho cái phát chuyển nhanh từ Hà Nội: Anh có thư. Đó là tập thơ mới ra lò Anh về trải chiếu đếm sao(*) món quà của Uông Ngọc Dậu bạn học cùng lớp thời đại học 16D K2, đang là GĐ Hệ thời sự Tổng hợp của Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV).
Thời còn học khoa văn Dậu cũng đã có máu làm thơ, khi thì làm vài câu tỏ tình với cô bạn gái trẻ nhất lớp: Em sinh 59 hỡi em/ Mà gieo bao nỗi khát thèm trong anh (cả lớp tôi hầu hết sinh năm 1957 tuổi con gà như Dậu, riêng có một em chíp hôi sinh năm 1959 không giống ai lọt vô); khi thì trêu một đàn anh đi bộ đội về thuộc loại cao to..., anh này có tài làm ra tiền bằng cách mỗi tuần lên chợ Vinh mua một cái khung xe đạp rồi mua đầy đủ phụ tùng rẻ tiền ráp thành cái xe đạp hoàn chỉnh mang về Thanh Hóa bán kiếm lời. Thơ Dậu về anh Lê Ca lớp tôi ai cũng thuộc: Lớp ta có anh Lê Ca/ Người thì rất xấu đi buôn rất tài/ Mỗi lần cất bước ra đi/ Trời đang nắng bỗng tối sầm lại ngay. Sau này lấy vợ thấm thía với cuộc sống gia đình rồi Dậu cũng có một câu thơ hay: Đêm nằm bên vợ thấy cô đơn (ý nói vợ chồng đồng sàng dị mộng). Nói chung là ai từng học khoa văn thì ít nhiều đều biết làm thơ và có ít nhất một lần làm thơ dù chưa hẳn đã thích thơ. Riêng Dậu tôi biết có năng khiếu thơ thứ thiệt.
38 năm tốt nghiệp ra trường, Uông Ngọc Dậu có mấy năm dạy ĐH Tây Nguyên, rồi chuyển sang làm PV báo Đaklak, rồi chuyển nữa sang làm PV cơ quan thường trú VOV tại Tây Nguyên. Tại cơ quan này, Dậu có số làm quan nên lên đến chức GĐ, đi đâu có ô tô riêng, lỡ để quên cặp có thằng xách vô cho. Có lần lên họp kỉ niệm gì đó ở Buôn Mê Thuột, tôi vô phòng Dậu thấy hắn mở tủ lấy ra hũ rượu nhỏ rót cho một li: Em ngâm với 100 cái đuôi con nai cái đấy anh. Bổ lắm. Tôi nhấp một ngụm thấy đắng nghét, hỏi bổ cái gì chú. Thì ngâm gì bổ nấy. Nghe thế tôi cũng nhắm mắt ráng nuốt cho hết. Rồi Dậu chuyển ra tổng hành dinh VOV ở 58 Quán Sứ với chức GĐ (ngang vụ trưởng) của cái hệ phát thanh quan trọng nhất – thời sự tổng hợp. Có lần ra công tác Hà Nội, Dậu đèo tôi về thăm căn nhà mới mua. Đi giữa những con hẻm ngoằn ngoèo bề ngang rộng chỉ 1m, rộng đến mức 2 xe máy tránh nhau còn khó. Tôi nói đường sá vầy mà sau này chú mày có mua được ô tô thì quên cái chuyện xe vào tận cửa đi nhé. Dậu lạc quan: Vào được chứ anh. Vào cách nào mày, bay à. Thì tháo ra. Ôi trời. Cái thằng vua hài hước.   
Có lẽ Dậu là người thành đạt nhất về đằng quan chức của lớp tôi. Ngoài Dậu và một vài bạn khác lên đến chức GĐ sở, lớp tôi tinh những anh làng nhàng, chức tước, học hàm học vị chẳng có gì đáng kể.
Nay thì sau 38 năm quăng quật với đời, Dậu cho ra tập thơ đầu tay này, kể cũng là một anh chàng thận trọng và không háo danh. Tập thơ đầu tay của một đời làm quan chức cơ quan báo chí lớn nhất nước.
Tập thơ của Dậu dày 130 trang với 60 bài thơ. 60 tuổi Dậu mới cho ra với đời 60 bài thơ, trung bình mỗi tuổi Dậu có một bài. Quá quí cho sự chắt lọc của câu chữ và xúc cảm. Vì thế mà đọc thơ Dậu thấy rất chân thật. Không rung động thực sự Dậu không làm thơ. 
Như đã nói, cả một đời Uông Ngọc Dậu gần như gắn hết với nghề làm báo, một cái nghề rất khó nói với những ai ở ngoài nghề. Nhưng Dậu đã nói ra một cách thẳng thắn:
Một tấc tới trời cao
Ưa tào lao xích đế
Cái mặt thì ra vẻ
Mà lòng dạ rối bời
(Tự trào nghề báo)
Là người có hơn 20 năm làm nghề báo nên tôi rất hiểu mấy câu trên của Dậu.
Cũng vì thế mà những người làm báo lâu năm như Dậu rất thấu hiểu sự đời, một sự đời chua chát lắm khi cười ra nước mắt:
Ngày ngắn thôi đừng lắm lẽ nhiều lời
Đã thị trường là bán mua đo đếm
Cứ tiền tiền là ông to bà lớn
Kẻ tầm tầm có thể hóa thánh nhân

Hồn nhiên như tất thảy dân gian
Được làm chủ (chẳng có gì to tát)
Ngày mỗi ngày thuộc thêm câu hát
Ra ngõ mà trông… kìa… ra ngõ mà trông
(Ra ngõ mà trông)
Đọc Anh về trải chiếu đếm sao thỉnh thoảng bắt gặp những kỉ niệm, những suy tư tinh tế của tác giả. Còn nhớ năm 1979, chúng tôi tốt nghiệp ra trường, mỗi đứa đi một phương. Trong lúc tôi về dạy ở ĐHSP Quy Nhơn thì Dậu lên với bục giảng của khoa Sư phạm ĐH Tây Nguyên, nơi có mấy năm liền tôi cũng lên đó thỉnh giảng. Ấn tượng của tôi những đêm ngủ ở Tây Nguyên là nghe tiếng tắc kè kêu như cầm canh và khác với tiếng tắc kè ở những nơi khác là tắc kè Tây Nguyên kêu rất trầm đục, rất thong thả, rất trầm tĩnh chỉ bởi con tắc kè ở Tây Nguyên to, mập hơn tắc kè nơi khác. 
Còn đây là cảm nhận của Dậu về tiếng tắc kè Tây Nguyên:  
Tắc kè… tắc
Hẫng hụt hơi
Tiếng chạm khung cửa tiếng rơi chân tường

Tắc kè… đẫm ướt đêm sương
(Đêm đầu đến Tây Nguyên nghe tiếng tắc kè)
Người ta bảo thơ mang tính dự báo. Tôi cầm tập thơ của Dậu lật đọc lướt ngay vài bài đã thấy được sự dự báo của tác giả. Ngay từ cái tên Dậu đặt cho tập thơ (Anh về trải chiếu đếm sao) đã là cả một sự dự báo lớn: Sau 38 năm tuổi nghề, 60 năm tuổi đời, đã đến lúc Dậu sắp nghỉ làm việc nhà nước, chuyển từ Hà Nội về quê Quảng Xương, Thanh Hóa sống cuộc đời hưu trí. Nghỉ hưu mà lại về sống hẳn ở làng quê thì hiển nhiên là rất thanh thản, thanh thản đến mức sẽ không có việc gì để làm cho nên đêm đến mới trải chiếu ra sân nằm hóng mát và đếm… sao trời. Đếm sao trời, với người vô công rỗi nghề thì nói là lẩn thẩn, với người có tâm hồn thì nói là lãng mạn. Người như Dậu không thể là lẩn thẩn, vậy thì Dậu đúng là một tay lãng mạn. Lãng mạn nên mới... trải chiếu đếm sao.
Vụ này – Dậu về quê nghỉ hưu và trải chiếu đếm sao – cũng không biết là nên buồn hay vui, nhưng với Dậu thanh thản là cái chắc. Sau một đời quan chức với những họp hành, viết lách, giao ban, họp báo… tháng 10 này Uông Ngọc Dậu sẽ chia tay với tất cả:
Chia tay là về chia tay là đi
Em chia tay em ở lại
Em có biết là trong ta mãi mãi
Nỗi buồn thấm mưa…
(Nỗi buồn thấm mưa)
Một tập thơ có khi chỉ cần có một bài hay là đủ. Trong một bài thơ hay có khi chỉ cần một câu thơ hay cũng là đủ. Ta về trải chiếu đếm sao của Uông Ngọc Dậu có hơn một bài thơ hay và có nhiều câu thơ hay. Chúc mừng.







(*) Anh về trải chiếu đếm sao; Uông Ngọc Dậu; NXB Hội Nhà văn; 2017.



Uông Ngọc Dậu