14 tháng 1, 2020

Chuyện ở U Minh


Nhờ có chuyến công tác dài ngày đến 5 tỉnh cực Tây Nam Bộ tôi mới được đặt chân đến một nơi gọi là U Minh, tên một huyện ở miệt rất sâu và rất xa của tỉnh Cà Mau.
Thuở nhỏ tôi đã biết đến rừng U Minh qua tác phẩm Đất rừng phương Nam của nhà văn Đoàn Giỏi. Vậy mà bây giờ tôi mới đươc thấy tận mắt, được đi lại trên mảnh đất đầy hấp dẫn này. Nghĩ đời mình thật may mắn khi được đặt chân đến nơi đây bởi U Minh không có tên trong 1 tour du lịch nào ở miền Tây.
Từ huyện Cái Nước về U Minh xe chúng tôi chạy trên một con đường nhựa hẹp hai bên bời bời lau sậy. Bầu trời U Minh không trong xanh cũng không u ám. Nhìn nó cứ ong ong một màu vàng vọt rất khó tả. Chỉ có thể nói là rất ... U Minh.
Nói đến từ ong ong làm tôi nhớ ngay đến một đặc sản của rừng U Minh mà ông Đoàn Giỏi đã tả rất hay trong Đất rừng phương Nam: mật ong rừng tràm U Minh. Tôi đã căng mắt chú ý xem có chỗ nào treo biển bán mật ong để mua về làm quà. Nhìn mãi hai bên đường vẫn không có.
Chợt đi qua một gốc cây đang tỏa bóng mát Trần Anh Tuấn rất tinh mắt nhìn thấy có bày mấy nải chuối chín mấy bịch chuối khô và 2 chai nhựa loại 1 lít đựng thứ gì như là mật ong.
Xe chúng tôi dừng lại bên đường.
Nhìn chung quanh chẳng thấy ai. Sâu bên trong là một ngôi nhà lợp tôn tuềnh toàng cửa mở sẵn. Tôi lấy cái chai nhựa 1lit vặn nắp ra ngửi đúng mùi mật ong, rất thơm lại sủi bọt phun tràn lên như gas. Đây chắc là mật ong rừng tràm U Minh rồi. Tôi mừng húm như bắt đc vàng. Liền đi sâu vào trong nhà gọi có ai không...
Gọi mãi mới thấy một bác gái khoảng trên 75 tuổi khuôn mặt rất hiền từ chậm rãi từ sau nhà đi ra.
Chú hỏi gì đấy. Mật ong kia có bán không bác. Thì tui đang bày bán mà. Có đúng mật ong rừng tràm không bác. Không rừng tràm thì rừng gì ở xứ này chú. Bác làm sao có mật bán đây ạ. Của thằng cháu nó vô rừng bắt về đấy. Mà chỉ có chừng đấy thôi. 2 lit đấy. Bác bán bao nhiêu 1 lít ạ. 400 chú. Trong nhà còn nữa không bác. Còn có 2 lít à. Vậy bọn cháu mua cả 4 lít bác bớt tiền không. Tui bớt chú 50k 2 lít. Vậy là 750k 2 lít mật ong rừng tràm U Minh. Quá rẻ luôn. Tuấn mua 2 lit tôi 2 lít. Chúng tôi lấy tiền trả bác. Bác gái hỏi hai chú mua gì nữa không. Dạ không ạ. Có ăn chuối khô không cầm 1 bịch ăn cho vui này. Tui cho chú tài xế nha.
Ôi trời, qúa ngạc nhiên luôn.
Nhớ buổi sáng xe đi dọc kênh 19/5 để đến trường THPT huyện Cái Nước, thấy ở Cái Nước dân bày bán rất nhiều bồn bồn tươi và bồn bồn muối chua. Ở Cái Nước trên trời dưới bồn bồn, không mua ở đây thì mua ở đâu nữa. Tôi đã dừng lại hỏi mua 1 hũ bồn bồn muối chua. Hỏi chị chủ nhà bao nhiêu 1 hũ. 35k chú. Tôi mua luôn 2 hũ trả 70k. Chị chủ đếm tiền rồi thối lại tôi 5k. Lấy chú 65k thôi.
Tôi lại tròn mắt ngạc nhiên.
Rồi hôm trên đường từ Cà Mau về Hậu Giang đi qua Bạc Liêu dừng lại ăn trưa ở một quán ăn rất nhỏ bên đường, vợ chồng chị chủ quán đã nấu cho chúng tôi 1 bữa cơm gia đình với nồi canh chua đặc loại cá chốt to bằng ngón tay nhưng bụng con nào cũng căng phình đầy trứng. Tôi ăn nồi canh cá chốt đến no căng. Lâu lắm tôi mới được ăn bữa cá chốt ngon như thế.
Ăn xong thấy trong nhà có treo buồng chuối 5 nải đang chín vàng hỏi mua bỏ lên xe ăn. Chị chủ nói chỉ lấy tiền cơm canh cá 150k. Còn buồng chuối chị chặt thành từng nải rời cho chúng tôi bỏ lên xe ăn dọc đường.
Lòng tốt vô bờ bến ấy của vợ chồng chị chủ quán đã làm tôi bị sốc.
Có lẽ miền Tây Nam Bộ là xứ sở của nước VN này còn sót lại cuối cùng những con người hiền lành chất phác và tốt bụng nhất thế giới.
Tôi ước sao mình được sống giữa những con người như thế.


23 tháng 12, 2019

Sự cố ngày tôi xuất ngũ


Chương 1: Suýt bị giữ lại làm giáo viên văn hóa quân đội
Mấy bữa nay thấy trên Fanpage đồng đội CCB C20 F341 tràn ngập hình ảnh họp mặt kỉ niệm 47 năm ngày thành lập sư đoàn 23/11 tại Đồng Nai, Bà Rịa Vũng Tàu, Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa... Đó cũng là ngày những thằng lính SV chúng tôi rời C12 đoàn huấn luyện 22A ở Nghĩa Đàn về C20 F341 để trở thành những chiến sĩ đầu tiên của đại đội trinh sát C20 sư đoàn bộ binh 341.
Tuy nhiên mấy năm đi lính ngắn ngủi, tôi không nhớ ngày thành lập sư đoàn bằng việc nhớ ngày tôi xuất ngũ cũng vào những ngày của tháng 11 này của 44 năm về trước, 11/1975.
Ngày 30/10/1975 tôi lưu luyến chia tay UBNDCM (ủy ban nhân dân cách mạng) phường Hiền Vương quận 3 là nơi tôi đang làm công tác quân quản để về lại Sư đoàn đang đóng ở Tô Hiến Thành quận 10.
Ngày 1/11/1975 những thằng lính SV chúng tôi được nhận quyết định xuất ngũ trở về trường cũ.
Một đoàn xe đò dài dằng dặc trên 20 chiếc của hai hãng xe nổi tiếng khắp miền Nam lúc ấy là Phi Long và Tiến Lực được Ủy ban Quân quản Thành phố SG điều động để chở tất cả lính sinh viên của quân đoàn 4 ra Bắc. Đó là những người lính sinh viên của các sư đoàn 341, sư đoàn 7 và sư đoàn 9. Và đó cũng là cả một sự ưu ái lớn của Chủ tịch UBQQ Thượng tướng Trần Văn Trà đối vói chúng tôi.
Lần đầu tiên trong đời tôi được đi trên một cái xe khách to đẹp và êm ái lại chạy nhanh như tên bắn trên con đường quốc lộ 1 xuyên Việt đi qua những thành phố làng mạc tỉnh thành của miền Nam vừa giải phóng như thế.
Cứ tưởng chắc chỉ vài ba ngày là chúng tôi ra đến miền Bắc, gặp lại cha mẹ quê hương, trở về trường cũ. Nhưng chuyến Bắc tiến ấy kéo dài gần 2 tuần tôi mới đặt chân đến Quảng Bình.
Nếu chặng đường hành quân vào Nam của sư đoàn trước đây cũng bằng ô tô của Binh đoàn Trường Sơn 559 ngày ngủ đêm đi thì bây giờ ra Bắc ngược lại, ngày đi đêm ngủ. Đã thế có những nơi đoàn chúng tôi phải dừng lại nghỉ ngơi vài ba ngày rồi mới đi tiếp mà không biết vì lí do gì.
Tôi nhớ cái lần ra đến Bình Định, chúng tôi ngủ lại trong những cái hầm để máy bay chiến đấu của sân bay Phù Cát hai ngày. Đến bữa ăn mỗi thằng được chia hẳn 1 nửa cái bắp cải luộc nhừ chấm xì dầu ăn với cơm. Mà vẫn thấy rất ngon.
Lâu nhất là khi ra đến Đà Nẵng, chúng tôi nằm lại ở Hòa Khánh mất cả tuần rồi mới được đi tiếp ra Huế. Trong túi tôi khi đó có 30 đồng tiền giải phóng là một khoản tiền rất có giá trị tôi kiếm được trong đợt đổi tiền từ VNCH sang tiền GP hồi tháng 9/1975 (Một cái đài Sony mới cứng khi đó tôi mua ở SG chỉ 10 đồng). Tôi đưa ra chiêu đãi bạn bè ăn cho bằng hết vì mang ra Bắc sẽ thành giấy lộn.
Khoảng giữa tháng 11 thì chúng tôi ngủ đêm cuối cùng trên hành trình ra Bắc tại một trạm giao liên ở Hàm Ninh, phía nam phà Quán Hàu. Đây là quê của Nguyễn Hữu Nhơn nên đến đó là hắn chia tay về nhà luôn. Đêm ngủ ở Hàm Ninh tôi và Hoàng Tấn Quả hầu như không ngủ được. Mới tinh mơ 5 giờ sáng hai thằng tôi đã đập nhau dậy mang ba lô chạy lấp xấp một mạch gần 20 km vượt phà Quán Hàu về Đồng Hới.
Chia tay ai về nhà nấy nhưng chúng tôi gồm 4 thằng Quả, Nhơn, Trần Quang Ánh và tôi không nghỉ xả hơi ngày nào mà hẹn nhau ngay hôm sau lên tỉnh đội QB làm thủ tục xuất ngũ.
Nơi làm thủ tục ra quân là Trạm 31 tỉnh đội QB đóng trong nhà dân ở cái làng gần Diêm Điền, trên đường ra ga Đồng Hới. Từ nhà tôi ra đó chỉ hơn cây số.
Mấy tay cán bộ chính sách của Trạm 31 thấy chúng tôi chìa giấy tờ của F341 Quân đoàn 4 ra là biết ngay đang chạm mặt với mấy thằng lính SV từ mặt trận B2 (Miền Đông Nam Bộ) ra nên có vẻ lễ độ phết.
4 thằng tôi ngồi trên một cái băng ghế dài trong một căn nhà dân rộng rãi được lấy làm văn phòng cơ quan trạm.
Tôi được gọi lên làm đầu tiên. Khi cái quyết định cho xuất ngũ trở về trường cũ là ĐHSP Vinh của tôi vừa được kí và đóng dấu xong, chỉ còn tích tắc nữa là trao vào tay tôi thì bỗng có một ông sĩ quan ra dáng chỉ huy của Trạm 31 mang xà cột từ đâu chạy vào. Viên chỉ huy này nói với người cán bộ quân lực đang cầm tờ QĐ mang tên tôi trên tay: Trường hợp đồng chí HTS này thủ trưởng tỉnh đội ra lệnh giữ QĐ lại không giải quyết xuất ngũ nữa nhé, để đưa về dạy ở trường văn hóa.
Hai người họ nói qua lại với nhau về số phận của tôi ngay trước mặt tôi và mấy tên Quả, Nhơn, Ánh cùng nghe rất rõ và chứng kiến. Chỉ giữ một trường hợp tôi thôi, còn tất cả mấy vị kia làm quyết định cho xuất ngũ về trường cũ hết.
Đất dưới chân tôi như sụp xuống.
Thế là tan giấc mơ quay lại trường đại học.
Khi đó tôi cũng không biết cái trường văn hóa quân đội ấy là ở đâu, của ai, quân khu hay tỉnh đội. Chỉ biết là tôi sẽ tiếp tục mặc áo lính khi chiến tranh đã hết, nhất là khi mấy thằng bạn thân cùng C20 lại ung dung trở về trường, còn tôi thì mắc kẹt lại. Người cán bộ Trạm 31 vẫn cầm tờ QĐ của tôi trên tay nói: đồng chí về nhà nghỉ ngơi mấy hôm rồi quay lại nhận quyết định về trường văn hóa.
Tôi hoang mang vô cùng. Nếu khi đó tôi bỏ ra về thì chắc chắn là mấy hôm nữa sẽ nhận được QĐ về trường văn hóa quân đội làm một anh giáo viên mặc áo lính dù trình độ tôi khi đó mới hết năm thứ nhất khoa văn.
Nhưng tôi chưa vội về mà ở lại chờ bọn Quả Ánh Nhơn làm xong rồi cùng về. Mấy tay này vẫn ngồi nguyên trên cái băng ghế theo dõi sự oái oăm của số phận tôi.
Đúng lúc đó thì cái điện thoại hữu tuyến trên bàn làm việc của người cán bộ quân lực réo vang. Anh ta nghe xong thì bỏ lại trên bàn cái tờ QĐ xuất ngũ của tôi rồi vội vàng chạy sang căn nhà bên cạnh. Chắc là có việc gì đó gấp lắm.
Trong đầu tôi lúc đó bỗng vụt sáng một quyết định táo bạo. Không một chút chần chừ, tôi lượm ngay tờ quyết định giấy in đen không ra đen trắng không ra trắng to bằng tờ A4 gấp nhỏ lại cho vào túi áo ngực bộ đội, cài nắp đóng khuy lại cho chắc chắn rồi chạy ra sân, nhảy lên cái xe đạp Favorit mượn của ba tôi, phóng vèo vèo về nhà. Cả 3 thằng bạn Quả, Nhơn, Ánh há hốc mồm nhìn tôi biến mất với tờ QĐ trước mắt chúng.
Chả biết lúc đó chúng nó nghĩ gì nữa nhưng tôi thì không còn thời gian để nghĩ. Chính quyền Bảo Đại năm 1945 mà cách mạng ta còn cướp được huống chi là tờ quyết định ra quân.
Vừa phóng xe đạp tôi vừa nghĩ cách ra Vinh.
Đi xe khách Đồng Hới ra Vinh ngày đó là cả một sự không tưởng. Tàu thì chưa có. Nếu chần chừ tồn tại ở cái đất Quảng Bình này có khi tôi bị bắt vô trại cải tạo cũng nên. Chỉ còn cách lấy xe cơ quan đi. Cả cơ quan ba tôi khi đó chỉ có một cái xe com mang ca.
Về đến nhà, tôi vứt cái xe đạp quý hơn vàng của ba tôi giữa sân cơ quan hộc tốc chạy lên phòng làm việc của ba tôi. Tôi nói với ông là con đã làm xong thủ tục ra quân. Bây giờ con rất cần phải ra Vinh sớm để nhập học trở lại. Ngẫm nghĩ một lúc lâu, ba tôi gọi chú lái xe tên Trinh lên, nói sáng mai anh chở thằng S ra Vinh nhé. May thế. Có lẽ đó là cái cách ông thưởng công cho thằng con trai đầu sau mấy năm đi lính trận mạc trở về.
Sáng hôm sau trời Đồng Hới lạnh mờ sương, mới 6 giờ sáng hai chú cháu tôi đã lên xe ra Vinh. Xe vừa ra khỏi cổng cơ quan thì thấy Nhơn và Ánh chở nhau trên cái xe đạp định vào nhà tôi hỏi thăm xem tình hình thế nào sau cái vụ giật tờ QĐ và chạy bay biến ấy, nhân thể ra nhà Hoàng Tấn Quả bàn chuyện đi Vinh. Cả bọn chúng nó đều đã xong hết thủ tục xuất ngũ mà không gặp trở ngại gì. Tôi bảo chú Trinh dừng xe lại, nhảy xuống nói tao đi trước đây, gấp lắm, tụi bay đi sau nhá. Nói xong nhảy lên xe đóng cửa cái rầm đi tiếp. Cái com măng ca chẳng có điều hòa máy lạnh gì, cửa thì mở toang hoác chạy càng nhanh càng mát.
Hai thằng Nhơn, Ánh lại thêm một lần há hốc mồm nhìn tôi.
Chiều hôm đó thì đến Vinh.
Chia tay chú lái xe tôi mang ba lô đi thẳng vào phòng Tổ chức cán bộ. Gặp ngay thầy Minh phó phòng phụ trách công tác sinh viên. Ông xem kĩ giấy tờ rồi bắt tay chúc mừng tôi sống sót trở về, viết ngay cho tôi cái giấy giới thiệu về khoa văn.
Tôi đã xuất ngũ trở về trường cũ như thế đấy.
Chuyện này Hoàng Tấn Quả và Trần Quang Ánh chứng kiến rõ ràng đầy đủ từ đầu đến cuối (Nguyễn Hữu Nhơn thì đã mất rồi). Thỉnh thoảng gặp nhau Quả vẫn tủm tỉm nhắc lại vụ tôi cướp tờ QĐ ra quân ấy như một kỉ niệm để đời.
(Còn tiếp. Chương 2: Tôi đã trở thành đảng viên đa đảng ntn)


 Tờ QĐ ra quân chẳng hiểu sao tôi vẫn đươc giữ lại đến giờ. Đọc vẫn rất rõ ràng, chất liệu giấy rất tốt.

 Giấy chứng nhận học tập do thầy Hiệu trưởng GS Nguyễn Thúc Hào kí ngày 10/9/1972 . Ghi rõ là tôi Học sinh năm thứ 2 khoa văn được thôi học để làm NVQS. Ngày đó SV không được gọi là SV mà phải gọi là học sinh. Nghe nói là do Bác Hồ chỉ đạo, gọi thế để chúng nó khỏi tự hào kiêu căng, cũng như giảng viên đại học không được gọi là giảng viên mà phải gọi là cán bộ giảng dạy, phi công thì phải gọi là chiến sĩ lái máy bay... tất cả là để mấy người làm nghề đó khỏi kiêu căng, hợm mình.

Về thăm lại Sư đoàn – Hơn cả thân tình và trọng thị


14h chiều ngày 14/12/2019, có hai chiếc xe 30 chỗ chở 60 CCB cùng các thân nhân và bè bạn Đại đội Trinh sát C/D20 F341 rời Nhà khách Z111 Bộ Quốc phòng nằm trên đường Bà Triệu TP. Thanh Hóa đến Sở chỉ huy Sư đoàn 341 để thăm lại Sư đoàn.
Đây là một chuyến thăm mang ý nghĩa “về nguồn” bởi sau gần 45 năm kể từ ngày giải phóng Sài Gòn, giải phóng miền Nam 30/4/1975, đa số các CCB C20 đã chia tay Sư đoàn 341, rời quân ngũ để trở lại với cuộc sống đời thường, người phục viên về quê, người xuất ngũ trở lại trường đại học, người chuyển ngành công tác dân sự...
Trở lại thăm Sư đoàn khi ai nấy đều đã quá tuổi lục tuần, mái tóc đã bạc màu sương khói, 60 CCB C/D20 đều trào dâng một cảm xúc hồi hộp và cảm động.
Nhớ lại sáng ngày 1/11/1975 của 45 năm về trước, khi đoàn xe chở những người lính sinh viên chúng tôi rời cổng Sở chỉ huy Sư đoàn 341 lúc đó đóng trên đường Tô Hiến Thành quận 10 TP. Sài Gòn để xuất ngũ trở về trường cũ, chúng tôi ai cũng ngoái đầu nhìn lại và nghĩ không biết có một dịp nào đó trong cuộc đời được gặp lại Sư đoàn. Bởi ở đó, đằng sau cái cánh cổng của Sở chỉ huy Sư đoàn 341 là cả một thời trai trẻ đầy oanh liệt, rất đáng tự hào của chúng tôi trong những năm tháng làm người lính của Sư đoàn.
Cái ngày mong đợi đó hôm nay đã đến. Dưới sự tập hợp và kêu gọi của BLL CCB C20, hôm nay, 60 CCB C/D20 chúng tôi về thăm lại Sư đoàn 341 thân yêu của mình.
Để đến được với cuộc gặp gỡ này, nhiều CCB C/D20 đã phải vượt qua không ít rào cản như sức khỏe, bệnh tật, thương tật, thậm chí cả tâm lí; nhiều người tuổi cao sức yếu, không ít người có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn để có một chuyến đi xa không phải là sự dễ dàng. Một số CCB ở miền Nam đã phải vượt chặng đường dài hàng ngàn cây số, thậm chí do kế hoạch thay đổi vào phút chót họ đã phải mua vé máy bay khứ hồi đến hai lần. Khó khăn là thế nhưng vẫn không cản được bước chân những CCB C20 tìm đường về thăm lại Sư đoàn và gặp gỡ lại đồng chí đồng đội.
Khi xe chúng tôi đi qua cánh cổng to đồ sộ của Đại bản doanh Sư đoàn 341, nhìn qua cửa kính thấy các chiến sĩ vệ binh sắp thành hai hàng thẳng tắp đứng nghiêm giơ tay lên vành mũ kính chào, chiếc xe chạy chầm chậm giữa hai hàng quân và chúng tôi đã vô cùng xúc động. Nhiều người đã sốc khi gặp khung cảnh đón tiếp trang nghiêm ấy. Vừa bước xuống xe đã thấy hàng chục sĩ quan cấp tá do Đại tá Lê Văn Tặng, Phó Sư đoàn trưởng kiêm Tham mưu trưởng Sư đoàn dẫn đầu cùng lãnh đạo các phòng ban của Sở chỉ huy Sư đoàn đứng chào chúng tôi ngay ở tiền sảnh. Lấp lánh trên cầu vai là những quân hàm cấp tá 4 sao, 3 sao, 2 sao... đầy kiêu hãnh.
Những cái bắt tay, ôm hôn thắm tình đồng đội giữa hai thế hệ cán bộ và chiến sĩ cách nhau một khoảng cách gần 45 năm của những người lính Sư đoàn 341.
Rồi chúng tôi được các chỉ huy Sư đoàn hướng dẫn và đưa đi thăm Nhà truyền thống Sư đoàn, dâng hương hoa viếng Đài tưởng niệm các Anh hùng, Liệt sĩ của Sư đoàn đã hi sinh trong các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ Quốc, thăm doanh trại, thăm vườn rau cây cảnh...
Có chuyện vui là trước khi vào thăm Nhà truyền thống, chúng tôi đang đứng chuyện trò giữa sân thì bỗng khẩu lệnh từ vị Thiếu tá trực ban Sư đoàn hô vang: Tất cả 3 hàng dọc tập hợp! Đã 45 năm không nghe cái khẩu lệnh quân đội như thế nên tất cả 60 CCB chúng tôi nhìn nhau ngỡ ngàng cứ tưởng như là nó được dành cho ai đó. Cuối cùng thì chúng tôi cũng tập hợp thành 3 hàng dọc. Trong đầu tôi nghĩ thầm: anh Thiếu tá trực ban này mà hô tiếp “Đi đều bước!” chắc chết. May mà anh ta chỉ hô “Đi thường bước”.
Sự đón tiếp của Sư đoàn đối với CCB chúng tôi phải nói là vô cùng trọng thị và thân tình. Ngay ở mặt tiền sảnh của Hội trường là dải băng rôn lớn: Chào mừng các CCB C/D 20 F341 về thăm Sư đoàn; lối vào Hội trường được rải thảm đỏ; trên Sân khấu là hoa tươi với tấm pa nô lớn mang dòng chữ: “Sư đoàn 341 (Đoàn Sông Lam) gặp mặt truyền thống Đại đội, Tiểu đoàn 20 Trinh sát lần thứ II”.
Trưởng ban Tuyên huấn Sư đoàn làm MC giới thiệu Đại tá Sư đoàn phó Lê Văn Tặng lên phát biểu chào mừng. Trong phát biểu, Đại tá lê Văn Tặng đã nhấn mạnh: “Lịch sử vẻ vang của Sư đoàn 341, của Quân khu 4, Quân đoàn 4 sẽ mãi mãi khắc ghi những chiến công hiển hách và những thành tích đặc biệt xuất sắc mà các bác, các anh, các chú, lực lượng "Tinh thông nhạy bén", "Đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng" đã đóng góp vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc, vì nghĩa vụ quốc tế cao cả và sự trưởng thành, lớn mạnh của Sư đoàn hôm nay.”
Tiếp theo là các phát biểu của Trưởng ban Liên lạc CCB C/D20 Lê Hồng Mão, của nguyên C/D trưởng C/D 20 Lê Trần Quý, của Tổng Thư kí Phạm Thanh Tùng, của một trong những chiến sĩ đầu tiên của C20 Hà Tùng Sơn. 


 
Trong phát biểu của mình tại Sở chỉ huy sư đoàn 341 tôi đã nói một điều rất cật ruột: “Nhiều đồng đội của chúng ta đã vĩnh viễn nằm xuống ở các NTLS, nhiều đồng đội bị thương tật, bệnh tật nặng nề chỉ ao ước được một lần bước chân ra khỏi nhà để gặp lại bạn bè đồng đội mà không thực hiện được.
Chỉ nghĩ thế đã thấy mình đang quá may mắn. Sau 45 năm được cùng đồng đội C20 về thăm lại sư đoàn trong sự đón tiếp hơn cả thân tình và trọng thị tôi bỗng thấy mình quá hạnh phúc”.
Tiếp theo là phát biểu của Đại úy Trần Tuấn Anh, đại đội trưởng C20, đại diện thế hệ cán bộ, chiến sĩ đại đội trinh sát.
Hình ảnh đẹp nhất của cuộc gặp có lẽ là cái bắt tay và ôm hôn giữa Đại úy Lê Trần Quý nguyên C trưởng C20 và Đại úy Trần Tuấn Anh đương kim C trưởng C20. Một cái bắt tay và ôm hôn mà giữa nó là một khoảng thời gian của 47 năm đã đi qua.
Về thăm Sư đoàn lần này, CCB C20 đã mang theo món quà quý là bộ sách hồi kí Từ dòng Kiến Giang đến Dinh Độc Lập (hai tập) do các CCB của C20 viết và tổ chức biên soạn in ấn. Bộ sách khẳng định sự tài hoa của một thế hệ cán bộ, chiến sĩ C20 trong thời kì đầu của C20 những năm tháng cuối cùng của chiến tranh chống Mĩ và sau này là cuộc chiến tranh bảo vệ biến giới Tây Nam Bộ. Họ chính là những con người tài hoa ra trận và thắng lợi trở về.
Riêng tôi khi ngồi giữa những đồng đội CBB C20 và được gặp lại Sư đoàn thân yêu của mình, tôi chợt nhớ những câu thơ trong bài thơ “Chẳng có ai tẻ nhạt ở trên đời” của nhà thơ Nga Evghenhi Evtushenko:
Chẳng có ai tẻ nhạt ở trên đời
Mỗi số phận chứa một phần lịch sử
Mỗi số phận rất riêng, dù rất nhỏ
Chắc hành tinh nào đã sánh nổi đâu?
Những người CCB C20 F341 chúng tôi dù mỗi người là một số phận, dù có người thành đạt trong sự nghiệp hoặc còn vất vả lao đao trong cuộc sống nhưng tất cả đều tự hào và kiêu hãnh vì chúng tôi, những người lính đầu tiên của C20, cũng là những người lính đầu tiên của Sư đoàn 341 đã đóng góp phần nhỏ nhoi của mình để làm nên lịch sử của C20 và cũng là làm nên lịch sử của Sư đoàn 341.
TP. Hồ Chí Minh
Ngày thành lập QĐND VN 22/12/2019

6 tháng 11, 2019

Đêm chợ Cồn


         Truyện của Nguyễn Trung Ngọc

Tôi muốn thử viết về con người
 chứ không phải viết về thần thánh


    
      I. 
                                                  
Hồi ấy khu đất vùng chợ Cồn khác bây giờ nhiều lắm. Ngay nay qua đây người ta thấy một cái chợ quê thật sầm uất, người quê buôn bán tấp nập. Vào mùa hoa trái, dân mấy xã miền hạ Thanh Chương dọc 2 bờ sông Lam mang đầy các loại hoa tươi quả ngọt về đây không chỉ để đổi trao mua bán trong vùng mà còn để giao cho thương lái từ thành phố Vinh ngược lên. Nhiều lần qua đây, tôi như được hoà vào không khí vui nhộn mà rất lành của một chợ quê điển hình. Tôi rất thích ghé chợ Cồn. Nhưng không phải là ghé vào mua bán mà là ghé về miền kí ức, nhớ về kỉ niệm của một thời chiến tranh đã qua.
Thời ấy, lần ấy, chỉ là một đêm duy nhất và đã đi qua 46 năm rồi mà sao cứ cháy mãi trong tôi ngọn lửa của tuổi 20 không thể nào dập tắt. Có dịp là trào ra, bùng lên, thiêu đốt và gào thét…
Một ngày đầu thu năm 1972, trong tư cách anh lính quân nhu Trung đoàn, tôi từ Quảng Bình ra Quân khu nhận nhu yếu phẩm và thuốc men cho đơn vị. Chuyến đi công tác lẻ này chỉ có tôi và đồng chí lái xe trạc tuổi nhưng đã có gia đình. Chúng tôi chạy một mạch từ bản doanh của E bộ đóng bên đường 22A khói lửa ra đến T50 ở Nam Đàn thì đã chiều muộn. Lẽ ra chúng tôi sẽ nghỉ lại T50 của Quân khu nhưng đồng chí lái xe đề nghị với tôi:
- Ta chạy thêm đoạn nữa lên chợ Cồn, ở đó tôi có bà chị con bác bán trong cửa hàng thực phẩm sơ tán từ Vinh lên đóng trên một gò đất cao rộng rãi, mát mẻ, một nơi nghỉ qua đêm lí tưởng. Sáng mai ta nhận thuốc quân y ở Thanh Chương trước, quay về Nam Đàn nhận hàng quân nhu rồi chạy vào luôn cũng rất tiện. Luôn thể anh trông xe cho tôi về thăm nhà qua đêm, sáng mai tôi trở lại. Nhà ở bên kia sông Lam, qua bến đò là đến mà!
Nghe cũng hợp lí, tôi đồng ý để lái xe chạy lên nơi anh ta nói đến. Đó quả là một gò đất quá thích hợp cho việc nghỉ lại của một vài chiếc xe quân sự đi công tác lẻ như chúng tôi. Cửa hàng thực phẩm được rào quanh bằng dây thép gai khá chắc chắn. Phía trước có một cổng to có khoá cẩn thận để bảo vệ, xe ô tô có thể chạy thẳng vào sát bên ngôi nhà lợp lá cọ làm nơi bán thực phẩm của nhà nước, sơ tán từ dưới Vinh lên. Chừng 17h thì chiếc gats 63 của chúng tôi yên vị trên khoảng đất đồi đã được san bằng bên cạnh cửa hàng thực phẩm. Nền nhà cao hơn nên xe đậu phía dưới thì thùng xe gần như ngang với nền nhà. Có lẽ khi làm cửa hàng người ta đã có chủ ý san sân, nền thế này để đỗ xe chuyển thực phẩm cho thuận tiện. Hạ tấm chắn sau xe xuống, mở cửa bên ngôi nhà là có thể bước lên sàn xe một cách dễ dàng. Xe đậu trên gò cao, từ trên xe quan sát cổng đi vào và con đường chạy phía trước giống như một đài quan sát, mình nhìn “đối phương” thì rất rõ nhưng họ ở dưới ngước lên khó thấy được gì. Nhìn vị trí đỗ xe quá thuận tiện, tôi thầm nghĩ: từ nay ra công tác Quân khu mình cứ đến nơi này là tuyệt nhất.
Có lẽ đã đến đây nhiều lần, cậu lái xe thông thạo từ cái ngõ vào, đám đất đỗ xe bên ngôi nhà để có thể đi vào từ cửa bên không cần gặp chủ nhân từ trước quầy hàng lúc nào cũng có khách. Xe đỗ lại sau khi phải xuống số 2 để bò sát lên cửa hàng đang vừa lúc đóng cửa sau một ngày phục vụ. Hoà (tên cậu lái xe) dẫn tôi vào giới thiệu với hai người phụ nữ, chủ nhân của cửa hàng:
- Các chị ơi! Lại về quấy các chị nữa đây. Sáng mai xe bọn em lên Đô Lương nhận hàng, ghé đỗ lại chỗ các chị một đêm. Nghỉ ở đây yên bình mà mát mẻ. Mà có gì đâu nhỉ, các chị có một xe bộ đội đến bảo vệ cửa hàng, đêm càng khỏi lo, đúng không? Hôm nay có anh Phương đi cùng, lính đại học sáng choang đấy. Chị Loan thích nghe chuyện, tối nay làm ấm chè xanh chiêu đãi anh Phương, tha hồ mà nghe!
Người mà Hoà gọi là chị Loan là một phụ nữ trạc 30 tuổi, đẹp mặn mà, người chắc khoẻ, đầy đặn. Nước da trắng mịn màng càng làm nổi bật làn môi đỏ đầy thách thức dưới cái mũi thẳng sang trọng, quý phái. Loan vẫn gọi tôi bằng “anh” dù Hoà giới thiệu là “bọn em” ra quân khu lấy hàng cho đơn vị.
Hai người phụ nữ nhanh chóng đóng quầy hàng, dọn dẹp gọn gàng các thứ rồi mở rộng cánh cửa của căn phòng phía đông hướng ra chỗ chiếc xe chúng tôi vừa đỗ lại. Trong khi đó chúng tôi đi ra phía sau, múc nước từ một cái giếng rất sâu tắm vội bằng những gàu nước mát lạnh như nước đá. Mới đầu thu chưa hết hơi nóng mùa hè mà nước dội vào người, nổi cả da gà.
Chắc không muốn bỏ tôi lại một mình khi vừa chân ướt chân ráo đến đây, dù tôi đã đồng ý để Hoà về thăm nhà nhưng anh chàng vẫn rất thư thái, cùng tôi xách gạo cùng mấy hộp thịt, ruốc bông…vào bếp bảo hai cô chủ cửa hàng cùng thổi cơm chiều để ăn chung. Mùa hè nên ngày rất dài. Chúng tôi ăn xong mà trời vẫn chưa tối. Cơm nước xong, Hoà mới thong thả nói, giọng đùa đùa:
          - Giờ thì gửi anh Phương cho 2 chị, em phải về với mụ vợ tí, bỏ không lâu ngày héo cả rồi!
          Nghe vậy, chị nhân viên cửa hàng ở với chị Loan bỗng cuống lên:
          - Vậy thì cho chị về với! Chiều nay có người bên làng qua đây nói chuyện chị mới biết, thằng cu lên bốn nhà chị bị ốm mấy ngày nay. Chị đang tính về mà đi một mình lại sợ. Thôi, Hoà đạp xe chị chở chị về luôn nhé! Ta đi hai người cũng mất chừng 30 phút.  
          Hoà gật đầu:
- Thế lại hoá may cho em rồi!
Giờ tôi mới biết chị Luyến (tên người bán hàng cùng Loan) là người cùng làng với Hoà. Chính vì vậy mà hắn quen thuộc cái gò cao chợ Cồn này như vườn nhà mình. Lần nào đi công tác qua đây Hoà cũng ghé đỗ xe thổi cơm ăn hay nghỉ ngơi, tắm táp…
          Tự nhiên tôi rơi vào một hoàn cảnh thật đặc biệt: Trở thành người đàn ông duy nhất trong một đêm cuối tuần ở lại bảo vệ cái cửa hàng thực phẩm nơi sơ tán và một người phụ nữ cô đơn.
Hoà và chị Luyến đi rồi, cả khu đồi trở nên yên lặng hẳn. Tính tôi vốn ngại bắt chuyện, nhất là đối với phụ nữ chưa quen biết. Vì thế tôi lên xe sớm, trải chiếc bạt còn thơm mùi mới, lật chiếc ghế xe ra làm bàn và bật chiếc bóng đèn nhỏ sau thùng xe ngồi viết nhật kí. Chếch sau thùng xe chừng 15m, dưới bóng đêm mờ ảo được giàn Thiên Lí che kín thêm, chị Loan sau một lúc nghỉ ngơi cũng đi ra cái giếng phía sau múc nước tắm. Sau một ngày hè làm việc tất bật, có lẽ chị đang tận hưởng những phút tắm tiên thư thái với những gàu nước mát lấy lên từ lòng đất sâu. Nghe tiếng nước dội, tôi tắt đèn thôi không viết nữa, cố nhìn về phía giếng nước nhưng chỉ thấy một bóng người nhờ nhờ, hình như rất trắng, nhưng bị bóng đêm quây chặt. Nhắm mắt mơ màng, tưởng tượng làn nước mát đang chảy trên da thịt Loan, cả người tôi râm ran, nóng như phát sốt.                 
Sau một hồi tắm xong, từ trong nhà, Loan mở cánh cửa bên bước rất nhanh về phía chiếc xe tôi đang ngồi trên đó ngắm trăng lên. Trong bộ đồ đen cài khuy bấm, Loan đẹp như một phụ nữ vẽ trong tranh Phục Hưng. Nàng không chút e dè, xăm xăm bước lên sàn xe đã hạ sẵn vách chắn sau trải lên nền đất tạo nên một khoang rộng như cái sân khấu. Xung quanh yên tĩnh lạ lùng. Chưa bao giờ tôi được thấy một người đàn bà quyến rũ đến vậy. Đối với một người đàn ông, có thể đây là những giây phút định mệnh. Dưới làn áo mỏng, những đường cong của cơ thể người phụ nữ một con hiện lên thật rõ khi vầng trăng 17 đằng đông cũng vừa nhô lên khỏi rặng cây phía dưới đường, sáng như rải bạc. Tôi cảm thấy hình như Loan không bận nội y (ngày nay bọn trẻ gọi là “thả rông”) vì dưới lớp lụa mỏng, “toà thiên nhiên” nhô lên trông rõ mồn một. Nàng như một bó đuốc tiến đến gần tôi là một kho xăng đầy nguy cơ bùng phát dữ dội.
Rất tự nhiên, Loan ngồi xuống chiếc ghế đã hạ sẵn bên thùng xe, một tay xách ấm nước còn tay kia cầm cốc, tươi cười bảo tôi:
- Có chè xanh đây! Nghe Hoà nói chú là lính sinh viên. Tui rất thích nghe chuyện. Uống chè xanh cho tỉnh táo rồi kể vài chuyện trong Văn nghệ quân đội hay hay cho nghe với nào.
- Ối dào! Sinh viên sinh viếc gì, lính chiến trường khô cả xương rồi đây nè. À, chị đọc truyện “Người trên đỉnh đèo” mới đăng VNQĐ số vừa rồi chưa?
Tôi không ngờ Loan trả lời ngay: “đọc rồi!” và còn bình luận rất sắc: “Tác giả lãng mạn hoá tình yêu của anh lính công binh – kĩ sư Xinh thôi chứ trong thực tế người ta yêu “thực tế” hơn nhiều”.
- Yêu “thực tế” là yêu thế nào? Trung uý Xinh có tình yêu đẹp chết còn gì! Mà chị nói về văn chương cứ như cô giáo dạy văn ấy nhỉ. Hay là…
Loan ngắt lời tôi nhưng giọng bỗng trầm xuống và đột ngột xưng “em” rất nhẹ nhàng (Loan hơn tuổi tôi một chút nhưng nhìn lại không giống “chị” tí nào):
- Nếu cuộc đời suôn sẻ em đã là cô giáo thật. Đang học dở Trung cấp sư phạm văn thì nhà em trúng bom. May hôm đó cả nhà đi vắng hết. Em bỏ học, cùng bố mẹ và hai em trôi dạt lên đây rồi tự trói mình vào cột đã 6, 7 năm nay rồi. Thôi, mà chuyện dài lắm, buồn lắm, chẳng nhắc làm gì…Mà chuyến này các anh ra đây…lâu không? – Loan nhấn giọng chữ “lâu” như một nốt nhạc. Tự nhiên tôi nghe như một lời van xin, ẩn chứa trong đó một ý nghĩa mà chỉ có người nghe mới hiểu.
Tôi chưa biết gì về hoàn cảnh của Loan, chỉ mới nghe Loan kể vài câu nên cũng chỉ mơ hồ về cuộc đời cô nhưng điều này thì tôi hiểu: Người phụ nữ xinh đẹp bị chúa bỏ quên này đang khát khao cháy bỏng. Ngọn lửa dục đang thiêu đốt nàng dễ đến độ có thể bỏ qua tất cả để chiếm được cho mình cái mà mình muốn. Phụ nữ khi đã thích họ liều lĩnh đến cùng.
Rồi Loan đặt ấm chè xanh xuống đầu ghế, xoay lưng về phía tôi, nói nửa đùa nửa thật thăm dò:
- Hi…hi! Bộ đội giúp dân day cái huyệt vai tí nào! Suốt ngày đứng ở quày, đau cứng sau vai gáy.
Tôi như bị thôi miên, đang đứng trên sàn xe cầm cốc nước uống, tự nhiên thần người ra như bức tượng, định bước mà chân không nhấc lên được, lúng túng như một đứa trẻ. Mới hôm trước tôi vừa đọc được đâu đó câu Nam Cao giải thích về “nói nửa đùa nửa thật”: Nói nửa đùa nửa thật là muốn nói thật cái điều không tiện nói ra. Biết có điều đặc biệt đang đến, tim tôi bỗng đập rộn lên. Không làm chủ được mình nữa, tay tôi bị hút vào bờ vai của Loan. Loan mặc chiếc áo cổ tim phụ nữ hay mặc thời đó, cổ áo khoét rộng lộ ra bờ vai nõn nà, mềm mại như một cánh hoa. Vì đứng cao hơn Loan ngồi trên ghế, tôi nhìn thấy cả bộ ngực căng đầy khó có một người đàn ông nào cưỡng lại, nhất là trong hoàn cảnh quá “đặc biệt” này: Cả khu đồi rộng chỉ có tôi và Loan; Cổng xa phía dưới đường đã được khoá cẩn thận; chiếc xe đỗ giữa bãi trống bên nhà rất “đàng hoàng”; Sàn xe cao, xe lại đậu trên gò đất cao nên trên thùng xe 2 người dù có làm gì đi nữa thì cũng chỉ có bầu trời sao và vầng trăng vằng vặc nhìn thấy mà thôi. Có phải vì có một không gian, thời gian quá thuận lợi mà Loan táo bạo như nữ thần Tình yêu trong Thần thoại Hi Lạp khi đặt ra lời đề nghị tôi giúp nàng bấm mấy huyệt ở vai – cổ, nơi đó chỉ cách mấy ngọn thiên thai phía trước chưa đầy một gang tay nữa?
Nhích thêm nửa bước cho vừa tầm tay hơn, tôi như dính vào vai Loan, dưới cái cổ để trần với làn da mát rượi, bàn tay vụng về cứ để yên chẳng biết day, bấm chỗ nào. Người tôi rung lên, cổ họng khô khốc, mồ hôi túa ra, cảm giác như có một luồng điện làm tôi tê dại toàn thân thể…
Loan quay lại nhìn tôi, mắt đắm đuối, long lanh như hai vì sao sáng. Hàm răng và làn môi ướt hé cười:
- Chiến binh hay là con thỏ đấy!
Đằng đông trăng đã lên cao hơn, vượt hết tầm chắn của những ngọn cây cao nhất trồng dọc đường 46 và đám đất dưới chân đồi, ánh sáng vằng vặc soi rõ chiếc xe có buộc những cành lá nguỵ trang xung quanh và trên nóc ca-bin. Gió nồm lay khẽ những cành cây ở sườn đồi tạo nên một khung cảnh đẹp lạ lùng, yên tĩnh lạ lùng của miền trung du xứ Nghệ.
Như không thể kéo dài những phút chờ đợi căng thẳng nữa, Loan đứng phắt dậy, kéo tôi ngồi xuống ghế rồi ghì mái đầu thằng đàn ông khờ khạo vào ngực mình. Hai chiếc khuy bấm phía trên đã bung ra từ lúc nào, tôi như ngạt thở giữa bộ ngực trần hé mở của nàng. Trên đôi cánh thiên thần, cả người tôi như được nhấc bỗng, bay lên tầng mây xa tít. Loan nhũn ra như sợi bún, chuồi xuống sàn xe đã trải sẵn chiếc bạt mới sạch sẽ, vòng tay ôm chặt vai tôi kéo theo…Tôi không kịp phản ứng gì trước sự táo bạo khó lường của Loan, có thể bởi sự khát khao nhục thể cao độ, cũng có thể vì một lí do tinh thần khác. Trong cơn hứng tình mê mẩn, tôi cứ mặc cho Loan muốn làm gì thì làm. Nàng vừa đưa tay định cởi chiếc áo Đông xuân màu cỏ úa trên người tôi thì bỗng có tiếng động cơ như là của một chiếc máy bay AD6 bay từ hướng biển lên rồi mấy tiếng “bụp! bụp!”...phát ra giữa trời đêm, đồng thời xuất hiện những vệt khói – lửa dài: Máy bay địch thả pháo sáng!
Những chiếc đèn dù treo lơ lửng bên đường 34 gặp gió bay khá nhanh về hướng tây. Nghĩ là địch muốn đánh chặn hướng truông Bồn nhưng để an toàn, tôi giục Loan đi về phía chiếc hầm trú ẩn sau nhà còn mình thì nhảy lên ca bin nổ máy đánh xe ẩn vào rặng cây bên trái cửa hàng, vừa rất kín đáo, vừa khuất bên sườn đồi tránh bom rất tốt. (Tôi biết lái loại gats 63 nhờ sống gần tiểu đội xe vận tải của Trung đoàn lại thường xuyên đi lấy hàng với cánh lái xe. Trong những chuyến đi dài nhiều lúc tôi vẫn cầm lái thay cho tài xế những đoạn đường dễ). Che lại mấy cành nguỵ trang quanh xe cho kín đáo hơn, tôi quay lại chỗ Loan đang đứng cạnh chiếc hầm chữ A làm rất chắc chắn và rộng rãi đủ cho chị Luyến và Loan nằm trong đó những hôm máy bay Mĩ oanh tạc trong vùng. Thấy tôi đến, Loan vẫn cái giọng nhẹ nhàng tối nay thường nói với tôi:
- Bộ đội là phải, gan lì gớm! Anh không sợ máy bay à? Ta vào hầm đi!
- Chưa cần đâu! Cứ bình tĩnh quan sát vòng lượn của thằng AD6 để nắm được mục tiêu nó đang hướng tới là ta không phải sợ gì nữa!
Loan bỗng đổi giọng như là dỗi tôi mà rất ý tứ:
- Không sợ? Có mà anh lúc nào cũng sợ, cũng căn ke như một kĩ sư xây dựng làm móng nhà lúc nào cũng thấy chưa đủ vững.  
Rồi bỗng Loan bỏ tôi lại một mình bên hầm, đi thẳng vào trong cửa hàng, mặc cho tôi can ngăn, mặc cho mấy chiếc pháo sáng vẫn còn treo lơ lửng và tiếng máy bay vẫn ì ì vọng lại từ sau núi. Loan lịch kịch sửa soạn một lúc rồi dắt chiếc xe đạp nữ đèo một túi nhỏ phía sau ra khỏi cửa hàng gọi tôi:
- Anh Phương…Chú Phương! Loan cần về nhà. Nhờ anh trông giúp cửa hàng đêm nay, sáng mai chị Luyến đến. Mai Loan được nghỉ bù. Phải về…! Lúc đầu cũng định ở lại nhưng…thôi, chúng ta không có duyên gần nhau. Khoá cổng đây, anh cầm khi cần mà mở. Chào nhé!  
Và Loan không cho tôi hỏi gì thêm, đi xuống mở cổng ra đường. Trên bầu trời, mấy chiếc pháo sáng đã tắt, chỉ còn những vệt khói làm ánh trăng trở nên u ám, xám xịt. Chiếc máy bay bà già cũng đã bay đi không thấy quần đảo gì thêm.  Phía dưới đường, một tốp nam nữ dân quân được điều đi ứng cứu giao thông cũng vừa lúc đạp xe đi từng hai người một hướng xuôi xuống vùng núi Đụn. Tôi thấy yên tâm hơn khi Loan có tốp người ấy làm bạn đường. Nhìn đồng hồ, tôi thấy kim chỉ đúng 21 giờ.
Loan đi rồi tự nhiên tôi thấy trống vắng, một cảm giác có lỗi cứ ám ảnh tôi. Không! Tôi không làm gì cả! Nhưng có lẽ chính điều ấy cứ làm tôi day dứt. Tôi có phải là một thằng đàn ông chân chính? Chắc là tôi đã ngoan ngoãn vào hầm khi Loan nhắc, nếu bấy giờ không nghĩ đến bộ hồ sơ kết nạp đảng mới gửi chi bộ tuần trước.
Đoán chắc trong đêm không còn máy bay địch quấy phá nữa, tôi lùi xe chừng 20m trở lại vị trí ban đầu sát bên cửa hàng rồi leo lên sau thùng xe, ngồi đúng nơi ngồi ban nãy. Hương bồ kết Loan vừa gội đầu như vẫn còn phảng phất trên cái thùng xe trải bạt cho giấc ngủ đêm nay của tôi.
Và tôi suy nghĩ miên man…
Phải có lí do gì đấy, đặc biệt hơn chúng ta vẫn tưởng nhiều, một người phụ nữ đẹp như Loan, thông minh như Loan mới lẩn khuất nơi này, muốn trao mình cho một anh lính, nay đây mai đó, biết sống chết ngày nào? Nhà nàng ở đâu? Sao lại đột ngột về trong đêm. Vì giận tôi hay còn vì một lí do nào khác?


                                                        II.

          Sáng chủ nhật.
Ở vùng quê người ta ít phân biệt đầu hay cuối tuần, nhất là thời chiến tranh. Có khi cả tháng cứ lầm lũi đi làm, quên cả ngày tháng. Nhưng chị Luyến và Loan làm ở cửa hàng là “làm nhà nước” nên vẫn có những bữa chủ nhật thay nhau để nghỉ. Hơi lạ là sáng nay tưởng chị Luyến về nhà sẽ nghỉ luôn hết ngày, thì mới chừng 5 rưỡi sáng, tôi vừa kịp dậy thể dục và đánh răng rửa mặt xong đã thấy Hoà đèo chị xuất hiện đầu dốc dưới đường. Chị Luyến vừa mở khoá cánh cổng vừa gọi từ xa:
          - Loan ơi! Chị quên dặn nên phải sang sớm đây! Chuẩn bị gì ăn sáng đãi khách chưa?
          Tôi vội chạy xuống đỡ lời chị:
          - Chị Loan về nhà từ tối qua rồi chị ơi. Sau khi chị và Hoà về khoảng hơn một tiếng thì chị Loan cũng về, lúc máy bay thả pháo sáng vừa tắt ấy. Chị ở bên kia thấy máy bay thả đèn dù chứ?
          Chị Luyến có vẻ ngạc nhiên:
          - Ối cái con này, chiều qua đã hẹn sẽ ở lại để giúp chị việc này rồi mà. Chắc lại nhớ con bé quá nên về ôm đít nó rồi. Ừ, mà được ngày nghỉ…cũng tội nó!
          Rồi chị đi lên mở cửa bên của ngôi nhà, đi vào trong cửa hàng lấy ra một cái rá tre rồi đổ mớ củ Từ đã luộc sẵn đặt lên chiếc bàn thô sơ ngoài thềm gọi tôi và Hoà:
          - Chị có món tuyệt vời cho hai chú ăn sáng đây! Khoai Từ ngon lắm. Chị luộc cả đêm qua. Ăn thật no vào mà đi. Có khi tận trưa mới được ăn cơm quân khu, đói lắm đấy!
          Chúng tôi vừa ăn khoai Từ vừa nghe chị Luyến kể chuyện. Thằng bé con chị đã cắt sốt, chị yên tâm qua cửa hàng sắp xếp lại quầy để chuẩn bị cho thứ hai kiểm kê. Loan về chắc chốc nữa lại lên, đã hẹn với chị chủ nhật này hai chị em “lao động cộng sản” một bữa. Hai thằng chúng tôi chén gần hết cả rá khoai. Thời bao cấp, thời chiến tranh, sao người Việt mình ăn nhiều lương thực đến vậy: Lính lái xe như Hoà những tháng chiến dịch được cấp những 29 kí gạo.
Ăn xong, tôi và Hoà lên xe ngược đường 46 đến nơi sơ tán của Viện 4 hồi bấy giờ để nhận thuốc tây cho đơn vị. Chúng tôi tính với nhau không quay lại đường 46 nữa mà chạy tắt qua đường 15 về Nam Đàn để xuống mấy kho quân trang ở T50. Khoảng 10 giờ thì chúng tôi về đến Nam Yên. Cả tôi và Hoà bàng hoàng khi nhìn thấy một quang cảnh thật kinh khủng: hai xóm dân bên đường 46 đoạn qua Nam Yên tan hoang bởi một thảm B52 vừa rải đêm qua. Thảo nào khoảng giữa đêm vừa rồi, nằm trên chợ Cồn tôi cứ nghe tiếng ì ùng vọng lên kéo dài cả năm, sáu phút.
Mặt Hoà biến sắc khi nhận ra con đường đi vào T50 bị bom B52 băm nát, cây cối, nhà cửa đổ ngổn ngang, bùn dưới các ao cá tung lên lấp cả lối đi. Cậu ta thở hổn hển, nói giọng đứt quãng:
- Đêm qua tôi định đánh xe vào đường này đậu lại để anh em mình nghỉ qua đêm ở đây. Số mình chưa chết! Ối, nhưng mà anh ơi, không khéo tối qua chị Loan về đây thật rồi, nhà chị trong xóm.
Tôi lặng người. Cả hai chúng tôi vội tìm chỗ nép xe rồi nhảy xuống, chạy qua muôn thứ chướng ngại, hướng vào phía trong xóm. Hoà dẫn tôi chạy được chừng hơn trăm mét thì dừng lại trước một bờ tre xơ xác như có một lưỡi dao khổng lồ vừa chặt phá, phía bên kia, một hố bom to tướng đã thay vào chỗ mà trước đó, theo Hoà, là ngôi nhà của bà cháu, mẹ con Loan. Thấy có 2 anh bộ đội đến, một tốp dân quân kéo lại nói cho chúng tôi biết nhà Loan đã trúng bom như thế nào. Cả tôi và Hoà gần như nghẹt thở khi nghe họ cho hay: cả Loan cùng bà mẹ chồng và đứa con nhỏ đang nằm ngoài sân kho hợp tác, nơi xã tạm dùng làm chỗ đặt xác của tất cả bà con xấu số bị sát hại trong trận bom đêm qua để đầu chiều đưa ra nghĩa trang.
Chúng tôi chạy đến sân kho, một cảnh tượng thật kinh hoàng mà chỉ trong chiến tranh mới có: Mấy chục xác người nằm la liệt quanh cái sân kho hợp tác, người đã liệm trong quan tài, người đang đắp chiếu chờ áo quan chưa mua về kịp. Tiếng kêu khóc dậy cả một vùng thôn quê nghe thật não nùng, ai oán. Hai nữ dân quân dẫn tôi và Hoà đến phía góc sân chỉ 3 chiếc quan tài không sơn, 2 to, một nhỏ nói trong nước mắt: “đây hai anh! Chị Loan, mẹ chồng và con gái chị đó…” Hàm răng nghiến chặt nhưng tôi đã bật khóc theo Hoà. Hai vai rung lên, tự nhiên tôi kêu  thành tiếng nghẹn ngào: “Loan…ơi…! Vì tôi mà em chê…ết…” Không ai hiểu gì. Cả Hoà cũng không hiểu gì. Nhưng trong giờ phút mà lòng căm thù giặc đang dâng lên cao độ, chẳng ai chú ý...
Tôi và Hoà ở lại tận hai giờ chiều để đưa Loan và những bà con xấu số ra nghĩa trang. Vậy là từ đây, hàng năm ở Xuân Hoà (Nam Yên trước đây) có ngày giỗ chung của những người dân lành đã chết một cách đau thương trong cái đêm bi thảm ấy. Xong việc tang chúng tôi mới loay hoay vào cục hậu cần Quân khu xin lại lệnh cấp quân trang mới vì cái kho định đến đã bị B52 địch xoá sổ. Chừng 16 giờ hôm đó chúng tôi mới làm xong mọi việc để lên đường trở về Quảng Bình. Tính là xe chạy đêm cũng không đáng sợ nhiều, Hoà bàn với tôi cứ theo đường gần hơn mà đi. Chúng tôi đã đi theo đường 1 và may mắn không vấp phải một cản trở nào. Gần suốt cả một đêm để chạy về bên kia Đèo Ngang, Hoà có đủ thời gian để kể hết cho tôi nghe về người chị họ rất gần gũi với cậu ta, trong niềm tiếc thương vô hạn.
                                                  *
                                                      *    *
Loan là con gái lớn của một gia đình “Địa chủ nghèo” bên đất Hà Tĩnh. Cải cách ruộng đất, bố Loan bị qui là “thành phần phản động” nên sau đó ông đã đưa cả nhà chạy sang đất Thanh Chương sinh sống ở một cái làng mom sông cách chợ Cồn vài ba cây số để tránh sự kì thị của dân quê nơi chôn rau cắt rốn. Gọi là “Địa chủ nghèo” vì thực ra ông nội Loan cũng chẳng có gì nhiều ngoài cái tước “Quan Hàn” được triều đình Nhà Nguyễn sắc phong thời trước cách mạng. Ông bị giam rồi chết vì bệnh tật ở một trại cải tạo trên núi Hồng Lĩnh. Còn bố Loan được coi là “phản động” vì ông từng làm thông ngôn cho chính quyền thực dân Pháp. Hồi cải cách, Loan mới chỉ là cô bé con chưa biết gì, bố mẹ mang đi đâu thì đi đó. Bên bờ sông Lam, cô hồn nhiên lớn lên như cây cỏ. Sẵn tư chất thông minh lại được người bố giỏi về Tây học kèm cặp, Loan học môn gì cũng giỏi, dù là tự nhiên hay xã hội.
Đặc biệt, nhờ có nguồn nước sông Lam trong lành của miền trung du, Loan có nước da trắng mịn, mái tóc óng ả buông dài. Mười bảy tuổi, cô đẹp như một ánh trăng rằm, đẹp nổi tiếng cả vùng. Những chàng trai “có máu mặt” bắt đầu để ý đến người con gái tài sắc này, chỉ trừ cái lí lịch là hơi ngần ngại.
Loan tốt nghiệp phổ thông với một thành tích đáng nể. Cô “thừa điểm” để được chọn đi học nước ngoài. Dĩ nhiên, người như Loan hồi đó không thể qua được “cửa ải chính quyền”, cô bị hạ xuống hai bậc trên các nấc thang tuyển sinh (1 bậc là không được đi nước ngoài, một bậc nữa là không được vào đại học). Người ta vớt vát cho cô đi học Văn – Sử ở trường Sư phạm “Mười cộng ba” miền núi. Mới đến trường chân ướt chân ráo, nghe theo tiếng gọi cứu nước, Loan xung phong nhập ngũ, cùng rất nhiều bạn bè trang lứa đi ra tiền tuyến, trở thành một nữ quân nhân thực thụ. Là một cô gái xinh đẹp lại múa giỏi và ngâm thơ rất hay, Loan được điều về đoàn văn công Trung đoàn (hồi đó gọi là Đội tuyên truyền văn hoá). Vừa làm công tác văn hoá, vừa phục vụ chiến đấu, chẳng mấy chốc Loan trở thành ngôi sao sáng lung linh giữa cơ quan E bộ. Một cô gái đẹp và giỏi giang như Loan làm sao không có người để ý. Cô dính chuyện yêu đương với thiếu uý Tường, trợ lí văn hoá, đang phụ trách Văn công Trung đoàn, một sĩ quan trẻ, học gần xong Đại học tổng hợp thì nhập ngũ. Hồi bấy giờ, đấy là chuyện cấm kị trong quân đội. Nhưng mối tình của hai người đắm say như Rô-mê-ô và Juy-li-et nên dẫn đến bi kịch cũng là điều dễ hiểu.
Một hôm, sau mấy ngày đi phục vụ một đơn vị chiến đấu ra mặt trận, Loan và Tường trở về nơi ban chỉ huy Trung đoàn đóng trong một khu rừng của miền tây Quảng Bình. Họ đang hôn nhau bên bờ suối thì bị tham mưu trưởng Trung đoàn bắt gặp. Ông là một đại uý đã qua trận mạc nhiều, chỉ học lớp 5 nhưng đánh trận rất giỏi, đặc biệt nóng tính và nghiêm nghị. Vậy là đôi uyên ương kia không thoát được vòng kỉ luật: Tường thôi làm trợ lí ở Trung đoàn, được điều về một tiểu đoàn đang tham chiến ở mặt trận phía tây; Loan được trả về địa phương với một vết đen thêm vào trong lí lịch. Nhưng tình yêu của họ là một tình yêu đẹp. Loan chờ đợi. Hơn một năm sau, Tường về quê Nam Đàn, lên Thanh Chương tìm Loan và hai người tổ chức đám cưới. Mấy ngày sống bên nhau hiếm hoi ấy đã để lại cho họ một cô con gái nhưng thương thay, không biết có phải bố nó dính chất độc trong chuyến đi C không, cháu bị tật bẩm sinh. Khi cháu mới vừa 3 tháng tuổi, Loan nhận giấy báo Tường hi sinh ở Mặt trận Nam Lào, khi anh đang là một phóng viên Mặt trận đầy hứa hẹn.
Mất chồng – người đàn ông mà theo Loan, “không dễ gì gặp trong cõi đời này”, người phụ nữ quá nhiều bất hạnh tưởng như không thể gượng lên được nữa. Tường điển trai, hào hoa, thông minh mà mạnh mẽ vô cùng. Loan thường nói với Hoà, chị ghét nhất loại đàn ông èo ợt, chẳng dám quyết một điều gì cho ra dáng đàn ông. Yêu cũng còn ngó nghiêng xem chi bộ có ý kiến gì không!
Nghe Hoà kể, tự nhiên tôi thấy hổ thẹn với mình: Đêm qua, khi bảo Loan chưa cần vào hầm mà đứng ngoài quan sát vòng lượn của chiếc AD6, thật ra đấy là lúc tôi nghĩ đến bộ hồ sơ vào đảng mới gửi cho cấp uỷ. Và tôi đoán chắc, Tường là mẫu thanh niên rất bản lĩnh, kiểu người có tư tưởng phá cách mạnh mẽ đã làm Loan yêu say đắm và không sao quên được. Có thể đây là sự giải mã cho việc đêm qua Loan đã bỏ về khi thấy tôi cứ lừng chừng, quanh quẩn với mấy cái đèn dù và chiếc máy bay.      
Trải qua một ngày làm việc cật lực mà Hoà vẫn không hề mệt mỏi. Cậu ta như muốn giải bày với tôi hộ cho Loan để vơi bớt nỗi buồn về cái chết của người chị họ. Khi bố Loan đưa vợ con từ Hà Tĩnh sang Thanh Chương sinh sống, ông kéo theo cả người em ruột là bố Hoà cùng đi. Hai chị em Loan và Hoà gần tuổi lại chơi thân với nhau từ nhỏ, không có chuyện gì mà Loan không nói với cậu em trai con chú này. Xe đi qua mấy vùng trọng điểm, chạy êm hơn trên một quãng đường bằng. Giọng Hoà như đỡ buồn hơn khi quay sang hỏi tôi:
- Tháng trước đã có lần ta đi qua chợ Cồn về dưới T50 và chị Loan đi nhờ xe xuống Nam Yên. Không biết anh còn nhớ không chứ chị Loan thì lại rất ấn tượng với chuyến đi đó. Chẳng dấu gì anh, tuần trước tôi cũng vừa mới qua chợ Cồn và nghỉ lại đó một đêm, chị Loan đã hỏi về anh rất kĩ. Chị ấy bảo: Sao anh giống anh Tường quá, cũng là sinh viên đại học vào lính, cũng có tên với vần “ương” ở cuối chắc “ương” lắm đây! Chỉ ngồi xe một đoạn từ chợ Cồn xuống trạm 50 mà chị mê anh thật đấy.
Tôi hỏi Hoà với một giọng nghiêm chỉnh:
- Hoá ra chị em ông định cài bẫy tôi?
Hoà cự lại:
- Anh nói thế thì lại hơi coi thường chúng tôi đấy. Đừng tưởng chị Loan là gái goá nên muốn tìm trai nhá. Tết vừa rồi có tay bí thư huyện chết vợ muốn “đặt vấn đề” chị gạt bay đấy. Bao nhiêu đàn ông đến vo ve, chị coi như bọt biển. Từ ngày chồng mất, chị như cái tượng gỗ, một mình lo cho mẹ chồng và đứa con gái không ngó ngàng gì bên ngoài đã gần 4 năm nay. Đàn ông không dễ gì gần chị đâu. Có thể từ ngày gặp anh, tuổi xuân, bản năng con gái trong chị mới sống lại. Điều đó ở đàn bà nhiều khi cũng không sao hiểu được. Chỉ biết, có lần chị tâm sự với tôi: “Con người ta hơn nhau ở cái tâm hồn Hoà ạ! Từ ngày mất anh Tường chị chỉ gặp những thằng đàn ông nhạt thếch và hợm hĩnh. Chị mà gặp lại được một người như anh ấy, không lấy nhau cũng được, chị sẽ kiếm thằng con trai để rồi sống với nó lúc về già”. Tôi thương chị quá! Xin lỗi, thấy chị thích anh, tôi cứ muốn để chị được gần anh thêm...Biết đâu, đó là sự sắp đặt của chúa.
   ...
Càng nghe Hoà nói tôi càng như người tỉnh dần cơn mê, nhớ lại tất cả những gì diễn ra đêm qua giữa tôi và Loan trên cồn đất cao tắm đầy ánh trăng huyền diệu. Nhưng là trăng 17, nghĩa là gần như trăng rằm. Mà lại là trăng của tháng đầu thu, tức tháng 7 – Rằm tháng 7! Người xứ tôi nói là thiêng lắm.
Trong tiếng gió vi vu qua cửa xe, tôi như nghe có giọng thì thào của Loan: Em tưởng đã gặp được anh – Người trong mộng. Đâu biết anh cũng chỉ là một đảng viên tốt mà thôi – có lẽ vậy! Nếu biết lí lịch Nguyễn Thanh Loan chắc rồi anh cũng lảng ra. Anh là Bộ đội Cụ Hồ nhưng chưa phải là một Người Đàn Ông đích thực mà em tìm kiếm./.
                                                                          Đầu Đông 2019 
                                                                           NTN           


Tác giả Nguyễn Trung Ngọc