10 tháng 1, 2014

Ngựa trong thành ngữ, tục ngữ

                                                                           A.Đa

          - Ngựa non háu đá (Tuổi trẻ hăng hái làm việc nhưng chưa đủ mưu lược, kết quả hạn chế)
          - Thẳng ruột ngựa (rất thẳng, không rào đón quanh co)
          - Thay ngựa giữa dòng (Thay đổi bất đắc dĩ)
          - Tứ mã phanh thây (Bốn ngựa xé xác- buộc hai tay hai chân tử tội vào 4 con ngựa rồi quất ngựa phi về 4 hướng- một hình phạt thời phong kiến)
          - Da ngựa bọc thây. (Làm trai chết ở chiến trường. “Chí làm trai dặm nghìn da ngựa/ Gieo Thái sơn nhẹ tựa Hồng mao- Đoàn Thị Điểm;dư chi thiên thi, khỏa ư mã cách”- nghìn xác của ta bọc trong da ngựa- Trần Quốc Tuấn)
          - Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ. (Chỉ sự thương yêu, chia sẻ. Câu tục ngữ này ngày nay được độ chế lại: cả tàu ngựa đau, một con vẫn ăn cỏ )(!)
          - Thân ( kiếp) ngựa trâu (Thân phận tôi đòi, vất vả)
          - Đầu trâu mặt ngựa (Hung hãn, xấu xa. Người nách thước, kẻ tay dao/ Đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi- Nguyễn Du)
          - Nhong nhong ngựa Ông đã về…(Lời một bài đồng dao)
          - Mã đáo thành công (Ngựa đưa tới thành công)
          - Lên xe xuống ngựa (Vinh hoa phú quí, quyền thế. Ra đường thì ngựa ngựa xe xe/ Về nhà thì vênh vênh váo váo- Nguyễn Du- Phản chiêu hồn)
          - Voi giày, ngựa xé (Những hình phạt thời phong kiến)
          - Chim Việt làm tổ ở cành phía Nam
          - Ngựa Hồ hí gió Bắc (Nhớ về quê hương nguồn cội)
          -Ngựa thành Troa (Tích trong sử thi Hi Lạp, chỉ mưu kế, bị mắc mưu kế)
          - Mã hậu pháo (Pháo nổ sau đuôi ngựa- chỉ phản ứng chậm trễ, không kịp thời, tương tự: mất bò mới lo làm chuồng)
          - Đơn thương độc mã (Một thương- vũ khí cổ, một ngựa: đơn độc, không ai giúp đỡ)
          - Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã (Trâu tìm trâu, ngựa tìm ngựa- giống nhau thì tự tìm đến nhau, ý tiêu cực. Tương tự: đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu)
          - Ngưu mã nhi khâm cư (trâu ngựa mà mặc quần áo- chuyện lạ)
          - Nhất ngôn kí xuất, tứ mã nan truy (Một lời đã nói ra, xe 4 ngựa kéo cũng khó mà đuổi kịp, khuyên thận trọng khi nói năng)
          - Viên tâm, mã ý (Tim khỉ, ý ngựa; suy nghĩ thay đổi, không thống nhất)
          - Mõm chó, vó ngựa (Nguy hiểm)
          - Mó dái ngựa (Nơi nguy hiểm)
          - Ngựa quen đường cũ (Chỉ sự lặp lại thói quen, hành động…xấu)
          - Tu binh mãi mã (Luyện quân, mua ngựa- chuẩn bị chiến tranh)
          - Tái Ông mất ngựa (Điển tích văn học, ý là trong cái rủi có cái may)
          - Khuyển mã chi tình (Tình chó ngựa. Đây là hai con vật gần gũi, có tình cảm thủy chung với chủ của nó)
         
          - Ngựa bất kham (Ngựa không trị được)
          - Voi giày, ngựa xé (Những hình phạt Trung cổ)
         
 …                                                     PK 10.1.14
                                                          A.Đa st