28 tháng 10, 2015

Yêu, ghét và cách giải quyết các vấn đề xã hội trong "Văn chiêu hồn"

 Kỉ niệm 250 năm sinh Nguyễn Du

                                                                    Ths. Chử Anh Đào

     Dựa vào phong tục "xá tội vong nhân" ngày rằm tháng bảy âm lịch trong dân gian, mượn lời nhà Phật, Nguyễn Du viết "Văn tế thập loại chúng sinh" (Còn gọi là "Văn chiêu hồn" bằng ngôn ngữ dân tộc) Tác phẩm bộc lộ những cảm nghĩ của nhà thơ về một vấn đề lớn: Vấn đề cái chết. Và mượn cái chết để nói chuyện đời sống, chuyện con người.
       Chưa biết Nguyễn Du viết "Văn chiêu hồn" vào năm nào nhưng chắc là Ông viết trong tâm trạng buồn rầu lo lắng. Mùa thu thường gợi cho Nguyễn Du nỗi buồn man mác xa vắng nhưng chưa khi nào thơ Nguyễn Du lại có một ngày thu não nuột như trong "Văn chiêu hồn". Cảnh vật nhuốm một màu chết chóc, âm ỉ những tiếng than khóc không thôi. Những màu bạc của ngàn lau, màu vàng của lá rụng, mưa dầm sùi sụt, lác đác sương sa...Chút tà dương còn sót lại trên những hàng cây càng làm tăng vẻ hiu quạnh não nùng. Cảnh trời thu này chưa chắc là cảnh có thật mà chỉ là cảnh hiện lên trong tâm trạng buồn lai láng của Nguyễn Du. Nó là tâm trạng của cảnh đời một thời. Cảnh đời mà Nguyễn Du đang sống đã gợi trí tưởng tượng của Ông về những cô hồn ở thế giới bên kia. Thời đại của Nguyễn Du là thời đại tan vỡ của chế độ phong kiến: nội chiến, ngoại xâm, thiên tai, dịch tễ, đói rét liên miên...Trong một tình hình như vậy, giá trị, phẩm giá, tính mạng con người không còn nghĩa lí gì. Đầy rẫy khắp nơi là những cái chết vạ vật đầu đường xó chợ, bờ bụi, trận mạc. Những cảnh chết đó không phải là chỉ của người cùng dân mà là cảnh chung cho cả những người giàu sang quyền thế. Cái thế giới cô hồn người chết mà Nguyễn Du tưởng tượng trong tác phẩm của mình chẳng qua chỉ là hình ảnh tập trung của vô số cô hồn sống nhan nhản khắp nơi trong cuộc đời thực bấy giờ- một cuộc đời đầy hỗn loạn, bất trắc, rẻ rúng với giá trị con người.
    "Văn chiêu hồn” không kể lại số phận cá nhân như của nàng Tiểu Thanh,cũng không phải chuyện “Gia Tĩnh triều Minh” mấy trăm năm trước mà là chuyện điêu đứng  của mọi người Việt thời Nguyễn Du đang sống. Cuộc sống đã đến lúc không thể chịu đựng thêm được nữa. Chính vì vậy, giá trị tố cáo của tác phẩm còn mạnh mẽ hơn cả “ Truyện Kiều”.



      "Văn chiêu hồn" làm theo lời người nhà Phật nói với chúng sinh, cầu nguyện cho chúng sinh được giải thoát. Đối với nhà Phật, con người không có đẳng cấp xã hội. không có sự khác nhau trong nước mắt cùng mặn, máu cùng đỏ. Tất cả đều là những nạn nhân đau khổ vì chìm đắm trong bể Tham, Sân, Si trần thế, cho nên họ rất đáng thương. "Văn chiêu hồn" nói với đủ loại người ở các bậc thang xã hội trên dưới khác nhau nhưng thái độ của Nguyễn Du với từng loại người là rất rạch ròi, phân minh.
    Đối với những cô hồn trước kia là người giàu sang, quyền thế, với cái chết của họ, Nguyễn Du cũng động lòng trắc ẩn. Tác giả cũng coi họ là nạn nhân của xã hội đang tan vỡ.Ở vào một thời kì li loạn như thời Nguyễn Du, tai họa không chừa một ai; cái chết tuyệt tự là không phân biệt, không chừa đẳng cấp nào. Đối với cái chết thì: “Còn chi ai quí, ai hèn/ Còn chi mà nói kẻ hiền, người ngu”. Xã hội đã tạo nên cái chết phổ biến, khiến mọi người bình đẳng trước nó…Nhưng khi nhìn lại lối sống của từng loại người này, Nguyễn Du không xúy xóa mà còn vạch rõ phải trái, chỉ trích, lên án. Ví như nói về cuộc sống của loại quan văn lớn, rõ ràng Nguyễn Du có giọng mỉa mai. Bọn “mũ cao áo rộng” này cầm quyền quyết định sự sống chết của bao người trong tay, chỉ cần vảy ngòi bút chấm son…Chữ nghĩa càng nhiều thì càng lắm mưu mô hiểm độc; chức càng cao, quyền càng lớn thì oán thù cũng theo đó mà chồng chất lên:
                                    Thịnh mãn lắm, oán thù càng lắm
     Cuộc sống tàn ác của họ đi đến kết quả là:
                                    Trăm loài ma mồ nấm chung quanh
     Đối với những võ tướng lớn, những kẻ vì tham ấn nguyên nhung mà bài binh bố trận, tạo nên cảnh “ gió mưa sấm sét đùng đùng”, Nguyễn Du vạch tội họ: “Dãi thây trăm họ làm công một người”. Không thể đòi hỏi hơn ở giọng điệu chỉ trích đầy căm ghét của nhà thơ với lối sống của những hạng người thuộc tầng lớp xuất thân của Ông!
     Đối với người hèn yếu nhất, bị đày đọa nhất, kiếp sống lao khổ nhất trong quần chúng, lòng thương xót của ND thật vô hạn, không gợn chút ẩn ý nào.
    Trong xã hội cũ, bị khinh rẻ nhất là những người đàn bà bán thân nuôi miệng. Khác hẳn với cách nghĩ của những nhà Nho đương thời và của rất nhiều người thời đại sau nữa giải thích những người buôn nguyệt bán hoa là do bản tính của họ, Nguyễn Du hiểu vì cảnh ngộ lỡ làng đã xô đẩy những người con gái xấu số sa chân vào nghề ô nhục mà bỏ phí hạnh phúc của tuổi thanh xuân. Nguyễn Du thông cảm sâu sắc nỗi bàng hoàng ngơ ngác của người con gái giang hồ trở về già sống trong cảnh tồi tàn không nơi nương tựa và bi kịch một khi họ nằm xuống:
                                    Ngẩn ngơ khi trở về già
                                   Ai chồng con tá biết là cậy ai
                                    Sống đã chịu một đời phiền não
                                    Chết lại nhờ hớp cháo lá đa
                                    Đau đớn thay phận đàn bà!
     Lòng thương mến của Nguyễn Du rộng mở với tất cả những hạng người bị chà đạp, đặc biệt là lòng ưu ái với quần chúng lao động. Vấn đề cơm áo, đói rét, lao động vất vả…là những vấn đề trung tâm của quần chúng. Trong “ Truyện Kiều” gần như không có thì đây nổi lên nhức nhối. Nguyễn Du thông cảm với cảnh đói rét không chịu được :“Ruột héo khô da rét căm căm”. Nhà thơ thông cảm với cảnh làm ăn gian nan trên mặt sông mặt bể, giông tố bất thường để nỗi “đem thân vùi lấp vào lòng kình nghê”; thông cảm với nỗi đau của đôi vai bầm máu dưới đồn tre gánh nặng mưa nắng dãi dầu…Sau này, những năm cuối thế kỉ XX, trong bài thơ "Tiếng Việt", Lưu Quang Vũ đã viết:"Tiếng tủi cực kẻ ăn cầu ngủ quán/ Thành Nguyễn Du vằng vặc nỗi thương đời".
     “Văn chiêu hồn” có những lời, những câu nói theo lời nhà Phật nhưng âm điệu chung vẫn là giọng nói hữu tình của người mang nặng yêu thương căm giận trong đời sống trần thế. Tình cảm của nhà thơ không vì yêu cầu của bài văn tế chúng sinh mà xóa nhòa hay lẫn lộn giữa yêu và ghét.
    "Văn chiêu hồn” đặt vấn đề xã hội to lớn. Thực chất là vận mạng điêu đứng của mọi tầng lớp người trong xã hội phong kiến đang đổ vỡ. Khách quan mà nói thì ở đây cũng như trong “Truyện Kiều”, vấn đề Nguyễn Du đặt ra là vấn đề chế độ. Cần thay đổi chế độ thì vận mạng con người mới được đảm bảo! Nhưng Nguyễn Du không biết thế nào là chế độ;càng không thể nghĩ cách nào để thay đổi chế độ. Nỗi đau khổ đã có hàng mấy muôn năm. Nhà thơ tin là không có cách nào xóa đi được.
      Trong thời đại mình, Nguyễn Du không tin sức một ông vua, một ông quan nào có thể cứu đời; càng không tin vào sức mạnh của quần chúng nhân dân có thể tự cứu mình. Nhà thơ đành phải nhờ vào phép của nhà Phật. Mở đầu tác phẩm là lời kinh cầu nguyện. Kết thúc vẫn nhắc lại lời kinh ấy. Tác giả ca ngợi phép Phật đủ sức soi sáng cho những cô hồn chìm đắm trong mê muội và dẫn dắt tất cả họ lên con đường siêu thoát. Tác giả nói như thế nhưng hình như không lấy gì làm tin lắm vì bao oan khổ đều có thật, đầy rẫy trong cuộc đời mà hào quang cứu khổ của Phật thì còn ở mãi tận đâu đâu./.

                                                                                                C.A.Đ 

                          Tác giả bài viết Chử Anh Đào ngoài cùng bên phải