4 tháng 6, 2014

Nguyễn Du và "những điều trông thấy..."



                                                                           Chử Anh Đào

          Ở một trong những câu thơ mở đầu “Truyện Kiều”, Nguyễn Du viết: “Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”. Trong thơ chữ Hán, tác giả cũng đã thốt lên: “Không thể không rơi lệ vì những điều trông thấy”.
          Một trong “Những điều trông thấy” ấy của Ông là thái độ của nhà thơ với quần chúng lao động và với giai cấp phong kiến thống trị.
          Đối với những nạn nhân đau khổ nhất trong xã hội, với những kiếp người hèn yếu nhất, bị đày đọa nhất, những kiếp sống lao khổ nhất trong quần chúng, lòng xót thương của Nguyễn Du thật vô hạn, không chút ẩn ý nào. Trong xã hội cũ, bị khinh rẻ nhất là những người đàn bà bán thân nuôi miệng, những ca nhi, kí nữ “vô loài”. Khác hẳn với cách nghĩ của nhiều nhà Nho đương thời và cả một số học giả sau này nữa, giải thích những người buôn nguyệt bán hoa là do bản tính của họ, Nguyễn Du hiểu cảnh ngộ lỡ làng đã xô đẩy những người con gái xấu số sa chân vào nghề ô nhục mà đành bỏ phí hạnh phúc của tuổi thanh xuân. Nhà thơ thông cảm sâu sắc với nỗi bàng hoàng ngơ ngác của người gái giang hồ khi trở về già sống trong cảnh tồi tàn không nơi nương tựa, với những cái chết “vùi nông một nấm” không hương khói của họ và cái tiếng vô nhân của xã hội dành cho họ:
                   Nghiệp chướng phấn son lúc sống đã không rửa sạch
                   Sau khi chết chỉ để lại tiếng gió trăng
                                                (Điếu La Thành ca giả)

                         Người ca nữ đất La Thành (nay là Tp. Vinh)
          Tình thương mến của Nguyễn Du rộng mở đối với tất cả mọi hạng người bị chà đạp. Nhà thơ dành lòng ưu ái đặc biệt đối với quần chúng lao động. Vấn đề cơm ăn, vấn đề đói rét, vấn đề lao động vất vả luôn là những vấn đề trung tâm của quần chúng lao động. Trong “ Truyện Kiều” hầu như không có thì ở “Thơ chữ Hán” thành chủ đề lớn. Trong thơ chữ Hán, chỉ hai lần Nguyễn Du dùng từ “tương” ( –cùng, với ) thì là để gắn kết nhà thơ với những người lao động vất vả. Đó là người đốn củi trong đêm giữa đồng quê:
-         Đêm trọ giữa đồng quê gặp bác tiều
Thương nhau không cứ ở chỗ giống nhau
                        (Phượng Hoàng lộ thượng tảo hành)
          Là người phu xe giữa trưa nắng lửa trên đường đi Hồ Nam:
-         Anh đẩy xe kia ở đâu ta nhỉ
Nhìn nhau thấy vất vả như nhau
                        (Hà Nam đạo trung khốc thử)
          Trong “Thái Bình mại ca giả”, Nguyễn Du kể lại chuyện một ông già mù đi hát rong để xin ăn. Hôm ấy nhà thơ đi thuyền. Có thuyền bên cạnh gọi ông già xuống hát. Từ bên này nhìn sang, nhà thơ chăm chú theo dõi từ chiếc áo mặc bằng thứ vải thô, từ cử chỉ cảm kích của ông lão khi được người nhận cho nghe hát đến cái vẻ mệt mỏi đuối sức của một người già phải vừa đàn vừa hát suốt một trống canh chưa nghỉ. Đàn hát mệt tới mức “miệng sùi bọt mép, tay mỏi rã rời”. Mệt nhọc như vậy, rốt cuộc chỉ được dăm sáu đồng tiền. Số tiền thù lao tuy thật bạc bẽo nhưng ông lão vẫn không ngớt lời cảm tạ.
          Dọc đường đi sứ, Nguyễn Du gặp một người mẹ dắt con đi ăn xin. Đứa bé được người mẹ ẵm trong lòng; đứa lớn xách giỏ tre. Nhà thơ nhìn vào bên trong chiếc giỏ: “Trong giỏ đựng những gì?/ Rau cỏ lẫn tấm cám”. Người đàn bà đi xin ăn từ sáng đến trưa mà vẫn không được gì. Nước mắt đầm đìa vạt áo. Nhưng đau xót hơn là cảnh mấy đứa trẻ còn thơ dại không hiểu được nỗi lo lắng đang vò xé lòng mẹ, cứ thản nhiên vui cười như không. Nhà thơ cảm thông sâu sắc tâm tình của người mẹ khi này:
                   Cảnh chết ngòi rãnh trông thấy trước rồi
                   Máu thịt nuôi sài lang
-         Mẹ chết không đáng tiếc
Vỗ về con mà càng đứt ruột
Lòng đau xót vô cùng
(Trông lên) Trời, mặt trời vàng úa
                             (Sở kiến hành)
          Ngòi bút hiện thực của Nguyễn Du thật xót xa khi ghi lại những cảnh sống cơ cực “dân ăn nửa tấm cám”; cảnh chết vạ vật đầu đường xó chợ, chết nơi ngòi rãnh, chết mà chỉ còn “một hạt táo lăn ra cạnh người”. Những cảnh này hẳn sẽ là những ấn tượng sâu sắc của nhà thơ để rồi Ông viết thành “Văn tế thập loại chúng sinh”- bức tranh khái quát về những cô hồn nhan nhản trên cõi dương của cuộc đời thực bấy giờ.
          Tất cả những buồn thương căm giận, những cảm nghĩ cổ kim dồn lại thành bài thơ kiệt tác “Phản chiêu hồn”. Bài thơ bộc lộ tập trung và cao nhất con người Nguyễn Du. Bài thơ là lời từ chối  cương quyết cái cõi người sống này. Theo thông lệ, ngày 5 tháng 5 tết Đoan Ngọ, người dân đem đồ cúng ra sông Mịch La nơi Khuất Nguyên trẫm mình để gọi hồn Ông về. Trái với lệ thường, Nguyễn Du bảo hồn đừng trở về cõi đời này nữa. Cõi đời không còn chỗ nào là chỗ có thể dung thân cho những người lương thiện, trong sạch. Sống lương thiện trong sạch đã là chuyện từ thời Tam Hoàng lâu lắm rồi. Còn bây giờ thì “đông tây nam bắc không có nơi nào nương tựa cả/ Lên trời xuống đất đều không được.” Lời từ chồi cương quyết đó là nhận thức khái quát về lịch sử xã hội: Lịch sử có áp bức là lịch sử ăn thịt người. Nguyễn Du nhận rõ cuộc đời sở dĩ ghê tởm vì thời nào cũng thế, có một bọn người giả nhân giả nghĩa mà độc ác vô cùng được phép ngự trị cuộc sống. Chính bọn này là nguyên nhân của tình cảnh “ dân hàng mấy trăm châu đều xơ xác gầy còm, không một ai béo tốt” Nguyễn Du đã phản ánh cái nhìn bi đát và phẫn uất với toàn bộ cuộc đời: “Đời sau ai ai cũng là Thượng Quan/ Mặt đất đâu đâu cũng là sông Mịch La/ Cá rồng không ăn, hùm sói cũng ăn/ Hồn ơi, hồn ơi/ Hồn làm thế nào?”
          Như thế, “những điều trông thấy” là những rung động của Nguyễn Du trước hiện thực. Nó sâu sắc và phản ánh rõ con người Nguyễn Du với những phẩm chất tâm hồn nghệ sĩ rõ ràng hơn nhiều, đầy đủ và phong phú hơn nhiều so với những lần nhà thơ trực tiếp hay gián tiếp thổ lộ tâm sự riêng, thổ lộ “tấc lòng” của mình. Chính ở đây Ông mới trở thành “nhà thơ” theo nghĩa chân chính của từ này.
                                                                   C.A.Đ

-