3 tháng 2, 2015

Lòng trắc ẩn

                                                                      Chử Anh Đào

          Ngày xưa có một cậu bé, khác với chúng bạn cùng trang lứa, hễ buông sách vở ra là chơi bi, đánh khăng đánh đáo, câu cá, bắt chim hoặc vặt trộm ổi, táo vườn nhà người khác, cậu hay lặng im ngồi một chỗ, lúc thì đưa mắt mơ màng nhìn về dải mây trắng vắt qua dãy Tam Đảo mờ xa cuối chân trời, lúc lại buồn buồn vô cớ về những câu ca dao từ nghìn năm trước. Tỉ như: Cái cò đi đón cơn mưa/ Tối tăm mù mịt ai đưa cò về? Gió đưa cây cải về trời/ Rau răm ở lại chịu đời đắng cay; Rồi mùa toóc rã rơm khô/ Bạn về xứ bạn biết mô mà tìm?…Lại nữa, cũng như bao nhiêu đứa trẻ khác, khi mùa hạ tới, cậu cũng háo hức chờ đón những cơn mưa đầu mùa để được cởi phăng quần áo mà tung tăng chạy nhảy hoặc nằm ngửa trên sân gạch, hứng cho no những mát ngọt của muôn ngàn hạt mưa từ trời ban tặng.Chợt bên nhà hàng xóm vọng lại lời ru: Trời mưa bong bóng phập phồng/ Mẹ đi lấy chồng con ở với ai? Cậu nhìn những bong bóng trên sân, cái lâu nhất cũng trôi chừng một mét rồi tan biến. Sao chúng mỏng manh dễ vỡ? Người mẹ sao nỡ dứt con mà đi với kẻ khác? Còn đứa bé kia? Nó sẽ sống với ai, sống ra sao khi không có mẹ chăm bẵm, chở che trong những ngày tháng tới? Bao giờ trời tạnh? Ngổn ngang bao nhiêu là câu hỏi mà không được trả lời. Lòng trĩu nặng…Rồi cậu cũng lại buồn theo một hướng khác. Những buổi tối mùa đông, cuộn tròn trong lòng bà nội ấm áp, cậu lẩm nhẩm đọc thuộc lòng đoạn thơ trong sách giáo khoa: “Cháu là em bé phương xa/ Theo anh vệ quốc xa nhà từ lâu/ Cháu qua sông Đuống sông Cầu/ Phủ Thông, Đèo Khách, An Châu, Lũng Vài/ Qua bao vực thẳm sông dài/ Giúp anh vệ quốc đánh loài thực dân…” Trong tâm trí cậu, nhân vật “cháu” kia thực sự là người anh hùng vĩ đại. Các từ “phương xa”, “ xa nhà”, “vực thẳm sông dài” cứ rưng rưng và các địa danh vang lên hùng tráng, kích thích trí tưởng tượng, mời gọi bước vào cuộc phiêu lưu của thế giới chưa biết. Day dứt nhất là câu hỏi: cùng một lứa tuổi mà sao mình may mắn, còn người khác lại vất vả, khổ nhọc, hi sinh? Người bà thắc mắc vì đứa cháu nội cứ trằn trọc, mãi không chịu ngủ trong vòng tay ấm áp của mình.
          Có lẽ ám ảnh suốt đời là những con cóc, hay nói chính xác hơn là một nửa những con cóc.Hồi ấy là năm học lớp sáu. Cô L dạy sinh vật hay nhờ học sinh bắt cóc cho cô làm thịt chữa bệnh còi xương cho cậu con trai. Một buổi chiều cậu chứng kiến cuộc hành quyết trong sân khu tập thể giáo viên. Cô L thản nhiên và lần lượt chặt lấy phần đùi cóc. Những con cóc còn từ lưng trở lên và hai chân trước khó nhọc rướn ra khỏi pháp trường, kéo theo ruột gan phèo phổi và máu trên nền đất nện như một bức tranh trừu tượng gồm những đường của tử thần và tận cùng đau đớn.
          Ám ảnh suốt đời nữa là nước mắt con chó mà cậu yêu mến. Lần ấy nó ốm. Ông chủ cũng đã vái tứ phương chữa chạy. Nhưng có lẽ cũng như kiếp người, nó có số. Gần mười giờ sáng một hôm định mệnh, đang nằm rũ ở tấm bao tải góc thềm, nó cố lết ra chỗ ông chủ đang cật lực quay, xách nước. Khoảng mười mét thôi. Nhưng mười mét với một sinh linh sắp từ giã cõi đời là vô cùng cực nhọc và đòi hỏi một nghị lực phi thường biết chừng nào. Không có tình thương vô bờ bến thì khó lòng vượt qua được. Nó tắt thở trong khi những giọt nước mắt vẫn lăn ra…


                                        Ảnh: Internet

          Theo thời gian, được sống, được học hành, tâm trí cậu trĩu nặng lên mãi không thôi vì những cơ khổ bần hàn, những oan uẩn của kiếp người. Một buổi chiều trong tiết thanh minh bên nấm mồ vô chủ lạnh tanh hương khói không kẻ đoái người hoài một nhân vật tài sắc vẹn toàn với “Lòng đâu sẵn mối thương tâm/ Thoắt nghe Kiều đã đầm đầm châu sa” bên cạnh đứa em bất tài và vô tình cười nhạo chị, cười nhạo nỗi đau của người khác: “Vân rằng chị cũng nực cười/ Khéo dư nước mắt khóc người đời xưa”. Cũng như hóa thân vào nhân vật mà tác giả Truyện Kiều đã thổn thức với nàng Tiểu Thanh nước người, sống hơn nhà thơ ba trăm năm về trước: “Ta cũng thấy mình ở trong nỗi oan lạ lùng của khách hào hoa phong nhã”
          Rồi cũng lại là một buổi chiều mùa đông giá rét trong “Một đám cưới” của Nam Cao, trong “Bên kia sông Đuống” của Hoàng Cầm, có mẹ già “bước cao thấp bên bờ tre hun hút/ Có con cò trắng bay vùn vụt/ Lướt ngang dòng sông Đuống về đâu?” Và lão Hạc, người nông dân bần cùng nhưng còn sạch sẽ nhất trong số những nhân vật nông dân đang trở thành Chí Phèo trong các truyện ngắn của Nam Cao. Nhà văn đã miêu tả nhiều tiếng khóc, kiểu khóc, nhưng dứt khoát cậu không quên được, suốt đời cái hình ảnh “Những nếp nhăn trên mặt lão co dúm lại, ép cho nước mắt chảy ra” và câu nói của Lão “Tôi ngần này tuổi đầu mà còn đi lừa một con chó.” Rùng mình trước tiếng khóc của nhân vật bé Thảm (không rõ cha, mẹ sinh em một tuần rồi đem về cho bà rồi bỏ đi) trong “Côi cút giữa cảnh đời” của nhà văn họ Ma: “Em Thảm hay tủi thân lắm. Em khóc nhiều hơn những đứa trẻ khác. Em khóc suốt cữ, và tiếng khóc cũng khác những đứa trẻ khác. Có khi đang ngủ, tự nhiên em múm mím môi, rồi nhếch miệng hự hự mấy tiếng rất ảo não. Em mang nỗi ấm ức xót xa trong kí ức non nớt của em. Bà bảo em nhớ mẹ, em tủi phận đấy. Và đêm nào cũng vậy, không ít hơn một lần, đang ngủ bỗng dưng bừng thức với tiếng khóc dỗi hờn kéo dài khoảng gần một giờ đồng hồ. Khóc vì đói thì chỉ cần cho em ăn là em nín. Vì rét thì ủ thêm chăn cho em. Vì nóng thì bế em ra sân cho thoáng. Còn vì tủi thì dỗ thế nào em cũng không nguôi.”
          Ngoài các kênh phim truyện ngoại quốc, cậu rất chú ý tới mục “Nhắn tìm đồng đội” ở truyền hình và mục “Tấm lòng nhân ái” trên báo “Dân trí”, xót thương cho những người trai mười chín, đôi mươi ngã xuống trên chiến trường để những người khác, trong đó có bản thân được hưởng cuộc sống yên bình hôm nay; xót thương cho những đứa trẻ mắc bệnh hiểm nghèo hoặc mồ côi cả cha lẫn mẹ, thơ dại không biết nương tựa vào đâu.
          Có thể có người sẽ nói: Ồi dào, chuyện sách vở chữ nghĩa lăng nhăng, thương vay khóc mướn. Hãy nhìn vào cuộc đời thật đi. Ối chuyện đau lòng. Vâng, đúng vậy! Những chuyện đau lòng vĩ mô tầm vóc thế kỉ, tầm vóc dân tộc quốc gia đại sự thì cậu không dám nghĩ tới. Đập vào mắt cậu hàng ngày và vẫn nguyên vẹn cảm xúc ban đầu là chập choạng những buổi chiều những người đàn bà lam lũ mua bán đồng nát ngược gió đi về ngoại ô. Chắc họ cồn cào đói và bóng họ liêu xiêu như quyết vượt lên thân phận khốn khó. Cũng trong những buổi chiều ấy là bóng những người bán vé số, bóng người phụ nữ trẻ tay cắp nón mê, tay khư khư ôm đứa con trước ngực như sợ ai giằng mất lầm lũi đi về phía bóng đêm. “Nhà họ ở đâu? Ai đang đợi họ? Họ đã sắp về tới chưa?” là những câu hỏi thường trực trong đầu cậu…
          Không phải chỉ với con người, ở loài vật, cậu cũng nhận ra những điều mà người khác không để ý. Ánh mắt của các con chó trong lồng sắt trên đường người ta chở tới tiệm nhậu; ánh mắt của những chú bê bên lò giàn hỏa thiêu chứa đựng rất nhiều thông tin, cảm xúc. Những ánh mắt ấy như muốn nói rằng: chúng không có tội gì, chúng không muốn chết, chúng muốn được sống, thậm chí rất có ích cho con người, con người hãy thương xót và ai đó cứu chúng với … Những ánh mắt như lời năn nỉ, như lời buộc tội với con người! Nhưng trời thì cao và đất thì dày lắm.
          Thế mà đã gần sáu mươi năm rồi đấy. Cậu bé ấy giờ đã thành ông ngoại. Xem phim, đọc sách hay gặp một số tình huống trong đời, nhân vật vẫn ứa nước mắt. Nhưng phải quay đi chỗ khác lén lau vì sợ cháu con nhìn thấy, bảo là ông hâm, ông lẫn rồi. Trong người ông lão vẫn có một đứa trẻ con!

          Lời bình: Riêng chuyện này thì lời của cụ Mạnh Tử từ mấy nghìn năm trước tới giờ vẫn đúng. Cụ nói: “Trắc ẩn chi tâm Nhân chi đoan dã” (Lòng xót thương cho kẻ khác gặp hoàn cảnh không may là đầu mối của điều Nhân vậy!). Thánh Toma cắt nghĩa rằng:lòng thương xót là nhân đức lớn nhất trong mọi nhân đức. Ngài nói: “Lòng thương xót tự bản chất là lớn nhất trong mọi nhân đức, vì tất cả các nhân đức khác đều xoay quanh nó.” Cảm thông, chia sẻ, giúp đỡ những người gặp hoàn cảnh éo le hơn mình luôn là biểu hiện cao của nhân tính, là cội nguồn của những điều đẹp đẽ trong đời sống.
                                                                   PK .12.14

                                                                        C.A.Đ