9 tháng 4, 2015

Tôi có lỗi không, hay là chuyện tình thuở ấy!

                                                 
                                     Truyện kể của Lê Quang Phương
                                                       
                     Kính viếng anh linh liệt sĩ Lập hi sinh tháng 4 năm 1975
                     Kính gửi chị Bình là chị của đồng đội Lập
                     Kính tặng người yêu của Lập mà tôi chưa biết tên

Đêm qua nghe khúc dân ca:

- Ờ ơ anh đến giàn hoa thì hoa kia đã ơ nở 

Anh đến bến đò thì đò đã sang ơ sông 

Anh đến tìm em thì em đã lấy ơ chồng 

 Hỏi em yêu anh như ơ rứa có mặn nồng lấy ơ chi 

- Ờ ơ chứ anh đến giàn hoa hoa đến thì thì hoa phải ơ nở

Anh đến bến đò, đò đầy đò phải sang ơ sông 

Anh đến tìm em, đến duyên em cha mẹ ép phải lấy ờ chồng 

Giừ trách nhau chi ơ lắm cho cực lòng nhau ơ thêm
           
Tôi bỗng nhớ đến Lập.
 Người đồng đội đã vùi thân trong đất
 Bốn mươi năm qua, như người vừa tỉnh giấc .
Bâng khuâng tự hỏi: Mình có lỗi hay không?
 Lập quê ở Cảnh Dương, có chị gái tên là Bình. Lập đã có người yêu nhưng tôi không biết tên người yêu của Lập. Chỉ nhớ đôi mắt xanh buồn ươn ướt, nhìn Lập và nhìn tôi rười rượi muôn lời. Gió biển làm mái tóc buông lơi. Người yêu của Lập tuổi chừng mười sáu. Linh cảm rằng họ chia tay mãi mãi.  Mắt mỗi người đều đầm đìa lệ chảy. Ngàn cây dương vi vút cùng tiếng biển trùng khơi.
 Chị Bình của Lập kém tôi hai tuổi. Con gái làng chài dưới chân núi Phụng sông Loan (Hoành Sơn – Sông Ròn), mỡ màng đẹp dịu dàng thuỳ mị.  Gặp nhau có mấy chục phút thôi, đằng đẵng tháng ngày trôi, ngưòi đẹp tuổi hai mươi mãi trong tôi không phai mờ hình dáng.

Ngày ấy chúng tôi đang ém quân
trong rừng Trường Sơn mịt mùng thăm thẳm
Sau một đêm. Rạng sáng. Những người lính quanh tôi vắng bóng.
Những người lính Hà Tĩnh, Quảng Bình
Tranh thủ lúc dừng quân chạy vội về thăm Ba thăm Mạ
Chạy vội về với vợ, mong vợ có thai, để có chết, giống nòi không mất.
Những người lính xứ Thanh vì đường xa, nhớ nhà quay quắt.
Chỉ thấp thỏm nhìn về phương Bắc mông lung.

Còn vài ngày nữa
vào chiến dịch mùa xuân
Tôi được lệnh ra Quảng Bình gom quân về đơn vị
Hai ngày một đêm, mấy trăm cây số
Lúc chạy bộ lúc nhảy xe không ăn không nghỉ
Mưa dầm dề tê tái chốn rừng sâu
Gió biển lạnh lùng thâm thịt tím da
Đến phà Ròn hỏi thăm nhà đồng chí Lập nơi đâu
Những Bọ Mạ chỉ tay nơi nớ
Con cứ vô hắn vừa mới trộ nhà.

 - Đồng chí Lập!
Lập đang bưng bát cơm
Ba mạ chị em vây quanh tủi tủi mừng mừng râm ran tiếng nói!
Thấy tôi bước vào, súng chéo ngang lưng, áo quần lấm lê bùn đất
Tiếng râm ran vụt tắt.
 - Ơ anh!
 Lập nhận ra tôi.  Rất đỗi ngạc nhiên vì sao tôi cũng theo kịp về nhà. Phút đã cuối đầu, Lập biết mình có lỗi, đôi đũa buông xuôi miếng cơm nuốt vội.
 Mọi người hiểu ra, nặng nhọc tiếng thở dài.
 - Thôi con về đây, ngồi cùng  ăn lót dạ
Có việc chi ta bàn tính liệu sau.

Hai ngày một đêm nào tôi ăn đâu uống đâu, nhưng gấp lắm đã đến ngày vào trận
- Thôi ta đi. Đồng chí lập!
Mọi người oà khóc. Nước mắt tôi ầng ậc ướt cằm.

Tôi ra giữa sân, đứng nghiêm cùng khẩu súng. Nhìn vào nhà hô lớn:
  - Lập ơi tập hợp!
 Ba sãi chân. Lập đã đứng sau tôi. Thành hàng ngũ.
                            (Bỏ mâm cơm khúc cá còn nguyên)
  - Chúng con chào Bọ Mạ
 Tôi và Lập cùng đưa tay lên vành mũ
  - Chào mọi người con đi!

Lập kể ở nhà thường ra biển buông câu  - Biển trắng trời xanh một mình vờn gió- Chiếc mủng câu như một dấu chấm câu lừng ngang sóng vỗ.  Trái tim niên thiếu lồng lộng với khơi xa. Tiếng biển như khúc dân ca miền trung, vờn cao hơn núi, hối hả như sông, mặn mòi hơi muối.
 Lập hát cho tôi nghe …ơ ơ thì hoa kia đã nở …hỏi em yêu anh như rứa có mặn nồng lấy chi.

 Nếu anh không về thì đêm ni chúng em sẽ
 Đem nhau ra bãi cát để cùng nhau…
 Nhà em có mình em là con trai nên được tạm hoãn mấy lần nhập ngũ
 Ba mạ hay giục mau lấy vợ có con.
 Lần này thiếu quân và em cũng nguyện lên đường
 Chúng em đã ôm nhau rồi nhưng chưa làm chi cả hôm đi.
 Em đã ôm ghì
 Lại nỏ dám hôn vì sợ mang bầu mang bí!
 Nếu anh không về thì chắc chắn đêm ni
 Không biết lần đầu có đậu không anh?

  - Chào mọi người chúng con đi
Chị Bình đi bên tôi. Chị nói: Cho em gửi em của em, nó còn non dại
Chỉ biết đi câu đi lưới với tài bơi giỏi lội …
 Tôi nghe dịu êm tiếng nói – tiếng người thiếu nữ bên tôi .
 Mấy năm rồi, giữa rừng sâu, đâu nghe được lời con gái. Nay nghe giọng người thiếu nữ như lời ca hiền dịu làm ẩm ướt trái tim khô.
Trái tim tội nghiệp của tôi chưa biết yêu thứ tình yêu nam nữ, nó chỉ  biết “ Yêu đời yêu Đảng yêu Dân”, bởi nó là “Trái tim người chiến sĩ”.
Ánh mắt tội nghiệp của tôi khi ấy chưa dám nhìn người đẹp, chỉ biết “ Nhìn thẳng quân thù mà bắn”. Mà lấy đâu ra người đẹp giữa rừng thẳm núi xanh.
 Bây giờ nhớ lại cũng bồn chồn lắm đồng chí ơi, bởi cái dại khờ chiến sĩ ngu ngơ đã làm nên cái buổi ban đầu xao xuyến ấy
 Bình đi sát vào tôi.
 Nhìn vòm ngực thổn thức của Bình mà hồn tôi tan chảy theo mây theo gió.
 Bình thương em trai chưa ăn trọn bát cơm, chưa chạm đũa vào miếng cá.
 Tôi chợt nhận ra bụng tôi quặn đau vì đau đói, gần hai ngày tôi chẳng được miếng chi. 
 Tôi nuốt khan nước bọt, hít một hơi dài (gọi là ăn không khí) cho tay chân bớt run, nếu không cái đói sẽ làm tôi gục mất .    
 Tôi vô tình đưa được hương thơm người thỉếu nữ vào sâu trong thân xác.
 Lạ kỳ thay sức trai trẻ hồi sinh. 
 Đó là mối tình đầu của tôi thuở trước.

Người yêu của Lập nói điều chi thề ước điều chi
Hai đứa đi bên nhau thầm thì thống thiết
Tôi và Bình đi chậm dần phía trước
Để đôi bạn tình bịn rịn bước chân sau

Lập kể em ấy nó yêu em. Yêu bởi em hay hát câu ca ví dặm. Dân Cảnh Dương làng em vốn từ Xứ Nghệ vô nên điệu ví câu hò truyền đời muôn thuở. ơ…ơ…Ờ ơ chứ anh đến giàn hoa hoa đến thì thì hoa phải ơ nở  / Anh đến bến đò, đò đầy đò phải sang ơ sông / Anh đến tìm em, đến duyên em cha mẹ ép phải lấy ờ chồng / Giừ trách nhau chi ơ lắm cho cực lòng nhau ơ thêm
 Mắt Lập xanh như biển, tiếng hát da diết như muối xát vào lòng như vận vào thân phận.

 - Thôi Lập ơi ! Tôi bảo. Chào nhau đi rồi đi. 
 Đôi bạn tình nhìn nhau lần cuối. Nếu không có người họ sẽ ôm nhau.
 Tôi và Bình nhìn nhau không nói. Trái tim tôi rối nhịp. Nếu không có người tôi sẽ ôm em. 

Lập  bảo hoà bình về em gả chị Bình của em cho anh. Anh ở rể Qủang Bình đừng về Thanh anh nhé. 
 Anh thích bài thơ Qua Đèo Ngang, thằng cậu này sẽ đem anh ra biển, thoả thuê ngắm  dãy Hoành Sơn lúc bình minh soi khi đêm trăng dọi. Tha hồ nhìn núi Phượng sông Loan, lóng lánh muôn triệu ngàn sao trên trời dưới nước.
Em sẽ tập bơi cho anh,
tập chài lưói buông câu
tập lặn sâu để anh nghe tiếng ngân nga lời ca của nàng tiên cá.  

 Ngày ra Bắc, vết thương nơi chân tôi tái phát. Tôi nhăn mày nhăn mặt mồm méo đau vì xe dằn ngang xóc ngược.  
 Lập đã bỏ mình nơi chiến địa xa xăm, không biết xác đâu hồn đâu
 Tới phà Ròn
 xe dừng chuẩn bị vượt Đèo Ngang.
 Nhìn về làng Cảnh Dương,
 mối tình với chị em Lập lại làm tim tôi tái phát vết thương đau .
 Tôi không dám vào gặp Bình mặc dù dằn vặt nhớ nhung,
 mặc dù chỉ gặp nhau có chừng ấy phút
 mặc dù mới có một cái thở sâu đem hương tình người nàng vào trong lồng ngực. Chưa kịp nắm tay chưa nói một lời. Nhưng tôi chắc mười mươi rằng người ta đã thương tôi.
 Riêng tôi đã yêu thầm trộm nhớ.
Nay thắng trận trở về sao tôi lại lỗi lời thề (của riêng mình) không vào gặp nàng để nói một lời yêu.
 “ Em gửi em của em cho anh…” lời nàng còn êm ái bên tai. Bốn mươi năm rồi hôm nay tôi vẫn nhớ, như hơi thở nghe sao thương lạ thương lùng.
Tôi làm sao giữ được Lập khi mà pháo bùng pháo dập đạn bay như thế.
 - Lập ơi Lâp làm chứng cho anh Lập nhé. Anh đã gọi em bằng thằng cậu.
 Người anh cũng bằng thịt bằng xương làm sao chở che cho em được
 Chị cậu gửi cậu cho anh như một lời giao ước
 Máu thịt anh rơi còn cậu thì đạn găm vào ngực.
 Lập không về anh biết nói ra răng
 với chị Bình, anh là người bội ước.
  với người yêu của em
 anh không chuộc được lỗi lầm

Tôi có tội hay không
Ơ ơ …khúc dân ca lại da diết trong lòng
Rằng đò đầy thi đò phải sang sông.
Giừ trách nhau chi lắm cho cực lòng nhau them.
LQP


          Tác giả Lê Quang Phương (đứng) và HTS, Sài Gòn tháng 5-1975


             

7 tháng 4, 2015

Vì sao tôi bỏ ăn thịt chó

Nếu thuốc lá phải đến năm 18 tuổi tôi mới tập tọng hút thì với món thịt chó tôi biết ăn từ khi biết…ăn thịt. Nghĩa là tôi bao nhiêu tuổi thì ẩm thực thịt chó cũng đồng hành với tôi bấy nhiêu năm. Đó là món ăn khoái khẩu nhất mà tôi hằng biết. Cứ có dịp là tôi rủ rê bạn bè đi ăn. Cứ bạn bè rủ rê đi là tôi vui vẻ nhận lời chỉ sau chưa đầy…một nốt nhạc. Lúc nào và ở đâu xung quanh tôi cũng có một nhóm bạn thịt chó, chúng tôi vẫn gọi đùa là Câu lạc bộ thịt chó hoặc Nhóm G chó (không phải G7).
Cứ vào mỗi buổi chiều cuối tuần, nhóm chúng tôi lại nhận được tin nhắn của nhau, hẹn ra chỗ cũ nhé. Chỗ cũ đây là một quán thịt chó uy tín có khi rất xa nhiệm sở, một quán cờ tây 9 món trong đó có món cầy quay ăn nhức nhối cả chân răng.
Trần đời tôi chưa thấy ở đâu có sự giản dị, thân mật và chan hòa như đám khách ăn trong các quán thịt chó. Những bộ bàn ghế cũ kĩ cáu bẩn, thậm chí nhớp nhúa; những thực khách như một xã hội đường phố thu nhỏ với đủ từ xích lô ba gác cho đến giáo sư tiến sĩ; từ đại tá, thiếu tướng, từ nhà báo, nhà giáo đến nhà thơ nhà văn, nghệ sĩ… Tất tần tật các loại nhà, các loại học hàm học vị, các cấp bậc hàm sĩ quan một khi đã đặt chân vào quán thịt chó luôn thơm lừng một mùi mắm tôm thì đều dân dã và bình đẳng như nhau. Ở đó không có chỗ cho sự phân biệt đẳng cấp sang với hèn, quí tộc với bình dân.
Thịt chó từ lâu đã đi vào thơ ca Việt Nam như một hình tượng văn học, một nguồn hiện thực phong phú của trần gian:
Sống trên đời ăn miếng dồi chó
Xuống dưới âm phủ biết có hay không
Có lần ra công tác Hà Nội, bạn bè đưa tôi vào một quán thịt chó ở miệt Hà Đông (ở Hà Nội phải quí nhau lắm mới mời nhau đi ăn thịt chó). Trên tường tôi đọc được câu thơ: 
Mặc ai tìm lá diêu bông
Tôi đây chỉ lá mơ lông tối ngày
Cái lúc đang đói, chỉ nhìn đĩa thịt chó với những miếng dồi vàng hươm, miếng thịt luộc dày dặn bên chén mắm tôm vắt chanh sủi bọt là nước miếng  đã tứa đẫm chân răng, chỉ muốn gắp ngay một miếng cho vào mồm nhai cho sướng.
Nhớ hồi còn theo học lớp tại chức CCLL của Học viện Chính trị quốc gia HCM, tôi gia nhập nhóm bạn gọi là Gặp nhau cuối tuần gồm 6 tên trong đó có một đại tá phó CA tỉnh (nay thì đồng chí thành viên đó đã là trung tướng tổng cục phó của một bộ ở Hà Nội). Cứ vào những buổi học cuối tuần, nhóm chúng tôi lại nháy nhau đến quán Nhật Tân xịn để bù khú món thịt cầy ưa thích. Mỗi lần vào quán, tay đại tá cứ gắp đúp 2 miếng thịt luộc một lúc ăn cho đã.
Thịt chó là món ăn dân dã rẻ tiền mà chứa rất nhiều dinh dưỡng, ăn vào thấy người khỏe ra ngay cứ như là vừa được tiêm một liều thuốc bổ vào cơ thể. Sau một chầu thịt chó trong người hưng phấn như vừa được nạp thêm một nguồn năng lượng đáng kể. Đúng là hàng Việt Nam chất lượng cao. 
Có thể nói tôi có hơn 60 năm cuộc đời thì cũng có ngần ấy năm gắn liền với món thịt chó từng được nâng thành món quốc hồn quốc túy.
Ấy vậy mà cách đây chừng 3 tháng, một sự kiện lớn trong đời xảy ra đã khiến tôi thành tâm từ bỏ hẳn thú ẩm thực thịt chó. Từ bỏ không chút thương tiếc, không một chút ngậm ngùi và là một sự từ bỏ không tuyên bố (vì sợ làm bạn bè trong hội thịt chó băn khoăn).
Đó là vào cái ngày ba tôi qua đời, ngày …..
Trước hết phải kể qua chuyện này một chút. Đã chục năm nay nhà ba mạ tôi ở quê có nuôi một con mực vừa đẹp vừa khôn. Vì được ăn uống đầy đủ kể cả uống sữa nên chú mực to và mập ú ụ như một con gấu, bốn cái chân nó cũng mập như tay gấu. Lông đen mướt láng mượt. Chú mực sướng đến mức thịt gà cũng không thèm ăn, xương gà cũng không buồn gặm. Đến bữa ăn xong mạ tôi dành riêng cho nó một tô cơm chan nước thịt. Thấy chủ ra hiệu nó mới đủng đỉnh bước lại ăn. Đã đẹp mã mực lại còn qúa khôn. Tôi ở xa năm về chỉ một vài lần nhưng nó không bao giờ quên. Mỗi lần tôi về đã thấy nó cứ như biết trước đứng chờ vẫy đuôi từ ngoài cổng. Ngay cả xe ô tô của mấy đứa em tôi khi vừa rẽ vào đường làng cách xa cả trăm mét nó đã hực lên một tiếng rồi chạy vào nhà vẫy đuôi báo tin vui, cái đầu cứ hất hất về hướng đường cái quan. Con cái đi hết, ba mạ tôi ở nhà chỉ có mỗi mực làm bạn nên cưng chiều nó như con. Có một bộ bàn trà bằng xi măng để ở góc sân thỉnh thoảng ngồi uống trà với khách nhưng thấy mực thích nhảy lên đó nằm canh nhà, ba tôi cũng dành luôn chỗ ưa thích đó cho nó.


                      Chú mực của ba mạ tôi nằm canh nhà trên bộ bàn trà quen thuộc

Ngày ba tôi mất, vào lúc 5 giờ 40 phút sáng ngày 11 tháng 1 năm 2015, cả nhà tôi dồn hết tâm trí lo đám tang cho cụ. Vào buổi chiều tối, mọi người bỗng nghe như có tiếng người khóc ở sau vườn nhà. Tôi ra xem thì thấy mực đang ngồi nhìn lên ngọn cây cao và tru lên như tiếng người khóc. Tôi lại gần xoa đầu thì thấy nước mắt nó đang chảy thành dòng. Nhìn con chó khóc thương ba tôi, tôi cảm động không cầm được nước mắt. Ngước nhìn lên ngọn cây mà chú mực đang hướng về để khóc, tôi chợt thấy đó là một trong những cây mít cao nhất vườn đang vừa rụng lá chết khô từ trên xuống.



Một trong những cây mít cao nhất vườn trút hết lá rồi chết khô ngày ba tôi đi xa

Rồi suốt mấy ngày đám tang cho đến ngày anh em tôi làm lễ cúng mở cửa mả cho ba tôi, mực vẫn nằm nguyên sau vườn nhà, không ăn không uống. Người nó gầy xọp đi. Kêu cách gì cũng không vào ăn. Đứa cháu phải mang sữa ra cho nó uống.
Ngày vợ chồng tôi và mấy cô em vào lại Sài Gòn, nhìn ra sau góc vườn vẫn thấy chú mực nằm nguyên chỗ đó, buồn bã, nước mắt vẫn ứa ra. Tôi phải ra tận chỗ nó nằm xoa đầu an ủi chú chó trung thành. Có lẽ nó là con vật đã đau buồn thương tiếc ba tôi một cách âm thầm lặng lẽ nhất.


                     Hình ảnh quen thuộc của ba tôi lúc sinh thời (Ảnh chụp năm 2013)

Vào Sài Gòn dù bị cuốn lại vào công việc, hình ảnh chú mực với tiếng tru như người khóc và dòng nước mắt lặng lẽ khóc ba tôi của nó cứ ám ảnh tôi mãi. Tôi tự hỏi vì sao với một giống vật nuôi khôn ngoan, trung thành và tình cảm với con người mà trước hết là với ba tôi như thế, mình lại nỡ lòng ăn thịt nó, thậm chí còn xem ăn thịt nó như một thú vui của cuộc đời. Chả lẽ mình không bằng con chó, mình là giống người dã man à.
Thế rồi tôi tự hứa với lòng mình, từ nay bỏ hẳn món thịt chó đã gắn bó với mình suốt 60 năm qua. Bỏ ăn thịt chó để trước hết bày tỏ lòng biết ơn chú mực của ba mạ tôi đã thương xót ba tôi hơn cả một con người ngày ông đi xa. Chỉ thế thôi.
Hàng ngày trên con phố gần nhà tôi có mấy quán thịt chó rất bắt mắt. Nhưng mỗi chiều đi làm về qua dãy phố đó, tôi không còn thấy mùi thơm của riềng sả, của mùi mắm tôm đang dậy bọt; không còn thấy sự hấp dẫn của những đùi thịt chó vàng ươm treo trong tủ kính; cũng không màng gì tới những đĩa lòng dồi từng hấp dẫn tôi trong suốt 60 năm cuộc đời đã qua. Tất cả chỉ bắt nguồn từ sự kính trọng của tôi về lòng trung thành và tình cảm của một con chó đối với chủ là chú mực của ba mạ tôi.
Tôi đã từ bỏ món thịt chó như thế đấy.
Nếu với thuốc lá tôi đã mất gần 30 năm để từ bỏ nó thì với món thịt chó tôi đã mất gấp đôi quãng thời gian đó để từ bỏ.
Nếu với thuốc lá tôi đã từ bỏ nó vì lo cho sức khỏe của mình thì với món thịt chó tôi đã từ bỏ chỉ thuần túy vì tình cảm và sự kính trọng đối với một giống vật nuôi khôn ngoan và trung thành với chủ.
Nếu với thuốc lá phải sau 15 năm từ bỏ (từ năm 2000) tôi mới đưa ra lời tuyên bố (bởi biết đâu có lúc vì thích thú mà hút trở lại) thì với món thịt chó chỉ chưa đầy 90 ngày tôi đã đủ lòng tin để khẳng định là không bao giờ đụng đũa vào nữa.
Và cả hai sự từ bỏ tôi đều âm thầm không hề nói ra cho bạn bè biết. Với thuốc lá thì sợ họ phá không cho mình bỏ. Với thịt chó thì sợ bạn bè băn khoăn trước một thú vui ẩm thực của bạn mà mình vì lí do riêng không nỡ tham gia.
Bây giờ thì tôi mới hiểu vì sao người phương Tây, người Âu, người Mỹ (giống người văn minh của nhân loại) đã từ bao đời nay coi con chó là bạn bè thân thiết nhất và không hề có khái niệm ăn thịt bạn bè.
Cũng từ nay, tôi sẽ không đọc thơ Tố Hữu nữa vì ông ta đã có một câu thơ rất bậy bạ trong bài thơ Bà má Hậu Giang: Má thét lớn tui bay đồ chó… Đó là một sự xúc phạm lớn của cái gọi là thơ Tố Hữu với một giống vật cao qúy - con chó.




5 tháng 4, 2015

Tôi đã bỏ thuốc lá như thế nào

Tôi bắt đầu tập tọng hút thuốc lá từ năm 1972, năm mà tôi phải rời ghế sinh viên ở trường ĐHSP để đi lính. Vào lính nghĩa là bạn phải chấp nhận một cuộc sống phi lí, máy móc theo kiểu hầm bà lằng.  Ở môi trường lính không có chỗ cho những khái niệm xa xỉ như dân chủ, tự do và công bằng. Ở đó cũng không có chỗ cho cái gọi là chân lí tồn tại. Vì thế mà những thằng lính, nhất là lính có học như tôi thường thấy bi quan, chán đời. Khi đó thuốc lá sẽ là thứ giải khuây rất tuyệt vời.
Đầu tiên khi còn huấn luyện ở Quảng Bình tôi và đồng đội (100%) hút các loại thuốc điếu thuộc loại sang của thời đó như Điện Biên, Tam Đảo, Trường Sơn. Khi mà túi hết nhẵn tiền thì chuyển sang hút thuốc lào. Chúng tôi vừa hút vừa triết lí: hút thuốc lào nâng cao sĩ diện. Hình như hồi đó, có hút thuốc mới gọi là người lớn, mới là sang trọng (không có hùng dũng nhé). Ngày đó gặp nhau sau cái bắt tay là lấy bao thuốc từ túi áo ngực ra mời nhau như một cử chỉ lịch thiệp và văn minh. Lại còn bật lửa châm thuốc cho nhau nữa mới thân thiện.
Rồi mưa dầm nhưng thấm rất nhanh, tôi nghiện hút thuốc mau chóng. Kịp đến khi đi B vào chiến trường miền Nam, không có thuốc lào, tôi đã được đồng đội trong tiểu đội như Lê Quang Phương, Sáng, Phát, Cao Ngọc Năm… dạy cho cách lấy lá đu đủ, là chu ke khô bỏ vô nỏ điếu thay thế. Hút vẫn kêu long sòng sọc như còi trực ban đại đội, khói vẫn tỏa ra mù mịt. Nhưng cái họng thì rát vô cùng. Kệ, đến thân mình còn chẳng biết sống chết khi mô, sức khỏe là cái đếch.
Có lẽ đời hút thuốc của tôi sướng nhất là kể từ khi  vào giải phóng Sài Gòn 30 tháng Tư năm 1975 và ở lại làm quân quản cho đến cuối năm đó trước khi được rời đời lính trở lại trường đại học. Những tháng ngày đó tôi chuyên trị loại thuốc lá thơm ngất trời của quân lực Việt Nam Cộng Hòa gọi là Ru bi quân tiếp vụ. Bao thuốc có vỏ màu xanh, có hình anh lính nhảy sào rất cao. Mỗi ngày công tác ở Ủy ban quân quản phường Hiền Vương quận 3 lúc đó ít nhất tôi cũng đốt hết một bao quân tiếp vụ như thế.
Sau này khi đã tốt nghiệp đại học trở thành giảng viên đại học, lên lớp tôi cũng bắt chước các bậc đàn anh lâu lâu lại châm điếu thuốc vừa dạy vừa rít vài hơi gọi là để nâng cao chất lượng giảng dạy, làm le với sinh viên.
Đến quãng thời gian chuyển sang làm việc ở đài truyền hình với cương vị là trưởng phòng biên tập, tôi được cánh phóng viên và các đàn em tha hồ làm hư hỏng khi mỗi lần đi đâu về cũng dúi vô ngăn kéo cho vài gói, thậm chí là cả tút 10 gói khi thì 3 số 5, khi thì Zet hoặc con ngựa trắng…   
Tôi hút vô thiên lủng bất chấp những lời báo đài (trong đó có cả đài tôi) ra rả về tác hại của thuốc lá. Kể cả khi tham gia làm những phóng sự về tác hại của thuốc lá với sức khỏe con người thì tôi vẫn vừa duyệt phim vừa hút.
Thiệt là ngông nghênh và ngu xuẩn hệt một kẻ vô học. Lời vợ khuyên tôi bỏ ngoài tai.
Nghiện thuốc lá tôi mới nghiệm ra sự kì lạ của nó. Khi vui hút thấy vui thêm, khi buồn hút thấy buồn thêm. Khi không vui không buồn cũng hút. Có khi lấy điếu thuốc ra bật lửa châm hút như một sự vô thức, không nghĩ là mình đang hút thuốc. 
Thế rồi vào năm 2000 trong một dịp đi công tác dài cả chục ngày ở Cần Thơ, nằm ngủ trong một khách sạn rất lớn có tên là Cửu Long, nửa đêm về sáng của khí hậu trong lành miền Tây tôi nổi cơn ho sù sụ, ngực đau rát chịu không nổi. Tôi lúc đó mới thấm hết cái hại của thuốc lá.  Không nói cho ai biết vì sợ chúng nó phá, tôi âm thầm bỏ hút thuốc lá. Bỏ được 3 ngày thì thấy đêm nằm không còn ho hen nữa. Rồi tôi bỏ hẳn cho đến ngày nay, 15 năm đã trôi qua. Tính từ năm 1972 đến năm 2000, tôi đã mất gần 30 năm để thấy được tác hại của thuốc lá và từ bỏ nó. Không ngu lâu mới lạ.
Bây giờ thì ngược lại, tôi thấy những người hút thuốc thật đáng có vấn đề. Nhưng tôn trọng quyền tự do của họ, tôi không dám phê phán ai và tỏ bất cứ một thái độ gì. Tôi mong đến một ngày nào đó khi gặp sự xuống cấp về sức khỏe may ra sẽ đánh thức hành động của họ.  
Càng sống tôi càng thấm thía câu: Từ nhận thức đến hành động là cả một quá trình. Và tôi muốn bổ sung thêm: Quá trình đó có thể dài, rất dài. Người ta còn phải trả giá đắt thậm chí cả sức khỏe và tính mạng của mình để biến được nhận thức thành hành động.
Tôi đã bỏ thuốc lá như thế đấy.

Bài tiếp theo:Vì sao tôi bỏ ăn thịt chó


23 tháng 3, 2015

Người bạn thân màu xanh

  Chử Anh Đào

                 “ NGƯỜI BẠN THÂN MÀU XANH”                

                 Người bạn thân màu xanh
                   Sáng bừng bên cửa sổ
                   Những ngón tay lá nhỏ
                   Vuốt khẽ vào ban mai

                   Để thành một cái cây
                   Chẳng thể nào đơn giản
                   Phải dầm mưa dãi nắng
                   Gồng mình chịu bão dông
                   Đôi khi gặp bàn tay
                   Vô tình mà tai ác
                   Bẻ ngang không thương tiếc
                   Nhánh cành đang non tơ

                   Để thành một cái cây
                   Biết buồn vui ca hát
                   Biết hóa làm bóng mát
                   Che người khi nắng nôi
                   Biết âm thầm tinh lọc
                   Những mùi hương giữa trời
                   Mang về bên cửa sổ
                   Cho trong lành giấc ngủ
                   Cho nhẹ nhàng cơn mơ

                   Để thành một cái cây
                   Không tò mò lắm chuyện
                   Không quay lưng hờ hững
                   Trước cửa sổ con người
                   Nơi thoáng một nụ cười
                   Hay một giọt nước mắt
                   Chỉ mình cây thấy được
                   Chỉ mình cây hiểu thôi
                   Chờ lúc nào gió đến
                   Mến thương xin cất lời

                   Chiều chiều chim về tổ
                   Sớm sớm ong tìm hoa
                   Trong nắng hè cháy da
                   Giữa mùa đông rét buốt
                   Lo âu và tỉnh thức
                   Người bạn thân màu xanh
                   Thủy chung bên cửa sổ
                   Những ngón tay lá nhỏ
                   Đan nhẹ vào thời gian

                   Để thành một cái cây…
                                                          Tác giả:  Thanh Thảo

          Đây là bài thơ Thanh Thảo làm hơn ba mươi năm về trước. Mà đầu óc con người ta kể cũng lạ. Một sự kiện, một tình huống nào đó xảy ra là cái trường liên tưởng lại như nước lũ tràn về. Ở trường hợp này là Ôn ga Bec gôn- “đừng đụng vào cây mùa lá rụng”; là Chử Văn Long- “ai dám chắc cỏ cây không đau khổ”… Nghĩa là không phải tự nhiên mà tôi nhớ tới bài thơ này. Nó được chép trong một cuốn sổ từ năm 1983! Nhưng thôi! Ta sẽ …
          Bài thơ làm theo thể ngũ ngôn, gần giống với đồng dao, dễ nhớ, dễ thuộc, thể hiện tình cảm của tác giả với những cái cây được coi là “bạn thân” của mình.
          Điệp từ, điệp ngữ là để nhấn mạnh, khắc sâu. Bài thơ có tới ba lần tác giả lặp lại “người bạn thân màu xanh” và bốn lần “để thành một cái cây”. Phải! Cũng như kiếp người, để thành một cái cây không phải là chuyện đễ dàng vì không thiếu những “thế lực” hữu ý hay vô tình sẵn sàng bóp chết sự sống: sâu bọ, mưa, nắng, bão dông, bàn tay “vô tình mà tai ác”…Và vượt qua tất cả, cây vẫn lớn lên.
          “Cây” đã được nhân hóa, có cuộc sống như một con người với những cung bậc tình cảm, lí trí sâu sắc: “ Biết buồn vui ca hát, biết hóa làm bóng mát, biết âm thầm tinh lọc, không tò mò lắm chuyện, không quay lưng hờ hững, thấy được, hiểu, cất lời, lo âu và tỉnh thức,…”
          “Cây” có những phẩm chất rất Người, thấm đẫm nhân văn: gọi chim về tổ, gọi ong tìm mật, gọi gió về ca hát; làm bóng mát che chở cho con người lúc nắng nôi; dâng hiến lời ca và mùi hương tinh túy của đất trời qua bao tháng năm âm thầm tích lũy; không tò mò lắm chuyện nhưng cũng không vô cảm quay lưng hờ hững mà quan tâm, mà lặng lẽ sẻ chia với con người từ một thoáng nụ cười, một giọt nước mắt tới những giấc mơ nghiêng tận cõi trời xa lạ nào…Thử hình dung một cuộc đời không có bạn, cuộc đời ta sẽ cỗi cằn như hoang mạc. Tác giả mạnh mẽ khẳng định: cây là người bạn thủy chung. Hình ảnh “những ngón tay lá nhỏ” dịu dàng “vuốt khẽ vào ban mai” gợi lên niềm thương mến vô bờ. Và cũng nhưng ngón tay ấy “ đan nhẹ vào thời gian” tạo nên sự vĩnh hằng, bất tử.
            Câu thơ điệp ngữ cuối bài gợi rất nhiều suy ngẫm và cảm xúc.
          Tôi cứ thầm ước, nếu được là người xây dựng chương trình phổ thông các cấp, tôi sẽ đưa bài thơ này vào sách giáo khoa.
                                                                      PK.23/3/15
                                                                             C.A.Đ    

                


          

15 tháng 3, 2015

Những câu chuyện về Thủ tướng Hun Sen

Trong những lời giới thiệu của người hướng dẫn viên Chan Sang, tôi khoái nhất là khi nghe anh ta nói về vị Thủ tướng đương nhiệm của chính phủ Campuchia Hun Sen.  
Đến thủ đô Phnom Penh, khi xe chạy vòng qua một quảng trường ở đó có tượng khẩu súng lục rất lớn bằng kim loại đặt trên một cái bệ cao. Điều đặc biệt của khẩu súng này là nòng của nó bị thắt xoắn lại, vì thế mà gọi là tượng đài khẩu súng bị thắt nút. Chan Sang kể, khi lên nắm quyền Thủ tướng Campuchia vào năm 1983, Với quyết tâm và sự thể hiện sẽ xây dựng CPC thành một đất nước hòa bình, đoạn tuyệt hoàn toàn với qúa khứ chiến tranh chết chóc, Hun Sen đã quyết định cho xây quảng trường với tượng đài độc đáo này.  
Thực ra ý tưởng về tượng đài khẩu súng bị xoắn nòng không phải là của Hun Sen mà do ông tiếp thu lại từ bức tượng khẩu súng lục khổng lồ có nòng bị thắt nút đặt bên ngoài trụ sở Liên Hợp Quốc ở Mỹ. Tên của bức tượng ở trụ sở Liên Hợp Quốc gọi là Phi bạo lực do nhà điêu khắc Thụy Điển Fredrik Reutersward thực hiện. Dù sao chép ý tưởng nhưng cũng là sự thể hiện ý chí tất cả vì hòa bình và chỉ có hòa bình của vị Thủ tướng trẻ Hun Sen. Tiếc là do xe chạy nhanh quá tôi không bấm kịp một kiểu hình cho hình ảnh tượng đài khẩu súng bị thắt nút.

Tượng khẩu súng khổng lồ có nòng bị thắt nút bên ngoài trụ sở Liên Hợp Quốc ở Mỹ. Bức tượng của nghệ sĩ Thụy Điển Fredrik Reutersward được đặt tên là “Phi bạo lực”. Ảnh: Internet

Ý chí xây dựng một đất nước CPC hòa bình của Thủ tướng Hun Sen được thể hiện không phải bằng lời nói suông mà chủ yếu là bằng hành động. Khi lên nắm chính quyền, để sớm chấm dứt chiến tranh và thực hiện chính sách hòa hợp dân tộc, Hun Sen đã ban bố sắc lệnh kêu gọi những binh lính và sĩ quan đã ở trong lực lượng Khmer đỏ của Pol Pot quay về phục vụ chính quyền mới, không trả thù, không phân biệt đối xử và trọng dụng lại toàn bộ. Ai ở trong quân Pol Pot giữ chức vụ gì thì khi sang với chế độ mới vẫn được giữ nguyên chức vụ đó, người nào không tham gia trong chính quyền mới thì được yên ổn trở về với gia đình với cuộc sống hòa bình.
Hun Sen là người từng ở trong quân đội của Pol Pot từ năm 1968, từng làm đến chức trung đoàn phó. Ông nói với mọi người rằng hãy tin tưởng ông vì chính ông cũng là người cũ của Pol Pot. Ông là tấm gương của người Campuchia từ đó.


    Tác phong gần gũi và thân mật của Thủ tướng Campuchia Hun Sen

Điều này khiến tôi nhớ về Việt Nam sau 30 tháng Tư 1975, hàng vạn con người của chế độ cũ VNCH sau khi đến trình diện chính quyền mới đã bị bắt đi cải tạo ở những vùng rừng núi âm u, có người phải đi cải tạo hàng chục năm như nhà tù mà không được xét  xử gì. Đã thế với chủ nghĩa lí lịch hà khắc, con cái của những người dính líu đến chế độ cũ cũng bị phân biệt đối xử trong học hành và làm việc. Vì thế mà đã xảy ra cơn lũ vượt biển sang với nước Mỹ vào những năm 1980. Và cho đến nay, sau 40 năm hết chiến tranh sự hòa hợp dân tộc vẫn chỉ là câu chuyện của cái bánh vẽ, lòng thù hận hậu chiến vẫn âm ỉ cháy.  
Trở lại với những câu chuyện về ông Hun Sen. Để chấm dứt triệt để chiến tranh,  ông kêu gọi người dân CPC đem súng đến nộp và cho phá hủy khẩu súng chết chóc ấy ngay trước mắt họ. Sau đó phát cho mỗi người một cái xe máy để đi lại, làm ăn. Cứ một khẩu súng nộp lại đổi được một cái xe máy Honda mới toanh. Cách suy nghĩ và hành động ấy nói lên Hun Sen là một vị lãnh tụ quyết đoán, trung thực và tất cả vì nhân dân CPC, vì hòa bình của đất nước CPC.

Tôi vẫn nhớ hình ảnh trên TV cách đây mấy năm khi VTV đưa tin về cuộc bầu cử quốc hội ở CPC. Ở một điểm bầu cử hình ảnh trên truyền hình cho thấy ông Hun Sen dù là Thủ tướng chính phủ nhưng trong vai trò là một cử tri đi bầu phiếu, ông đã xếp hàng trật tự cùng với người dân như bất cứ một cử tri nào khác để lần lượt bỏ phiếu vào thùng (nếu là ở VN thì ông sẽ là người có đặc quyền đặc lợi được ưu tiên bỏ lá phiếu đầu tiên). Chỉ chừng đó thôi cũng đã quá đủ để Hun Sen trở thành thần tượng của tôi. Và tôi mong các nhà lãnh đạo VN cũng được một phần như thế cho…dân VN được nhờ.