23 tháng 7, 2015

Bông nàng nàng

                         
                 
Truyện của Nguyễn Xuân Sùng
                                                                        Tặng anh Hoàng Minh Sơn
           
              Đà Lạt se lạnh. Mấy anh em chúng tôi như ngất ngây giữa cao nguyên mờ sương mà nhìn, mà ngắm vườn hoa với muôn hồng nghìn tía. Ảnh, đứng góc nào cũng đáng chụp; hoa, khóm nào cũng không muốn bỏ qua. Chương trình của Nhà sáng tác bố trí cho anh em chúng tôi đi thăm vườn hoa thành phố trong một buổi, vậy mà đã hơn mười hai giờ đoàn vẫn chưa tập họp được để trở về. Đến được vườn hoa, ai cũng nghĩ mình đã hoàn thành được một mục tiêu quan trọng. Dẫu không được dự Festival hoa Đà Lạt, nhưng giờ đây, chúng tôi đã cảm nhận rõ sự hội tụ tất cả những gì tinh tuý nhất về hoa của thành phố ngàn hoa mơ mộng này. Nào Hồng (những mười loại hồng), đào phai,thược dược, đến những loại hoa quê mình hiếm thây : Cẩm tú cầu, Đinh tử hương, mi mô za... đặc biệt các loại lan kiêu sa, quý phái...
Vậy mà, Hoàng nói khẽ bên tôi:
               - Tớ vẫn chưa tìm ra được loài hoa cho riêng mình.                 Không hiểu căn nguyên sâu xa của anh, tôi chẻ một câu mà lẽ ra chưa nên nói:
             - Anh có vấn đề về thẩm mỹ rồi đấy. Hoa đẹp nhường kia mà không chọn được cho mình một đoá sao?
               Ăn cơm trưa xong, anh lại kéo tôi thơ thẩn dọc tuyến đường Nguyễn Du ra phía khu vườn ươm. Trước đó Đỗ Thành Đồng cũng đã bắt tôi đi để tìm cho được bông dã quỳ, dẫu biết mình đến muộn. Có gì đó trong Đồng hụt hẫng tiếc nuối, những vạt cúc quỳ mướt xanh, không còn dấu hiệu của mùa hoa. Dã quỳ biết có người đến tìm nên cố tình lánh mặt hay hoa lỡ hẹn?  Đồng nói trong tiếc nuối : Thôi thì cũng đã đến được xứ sở của "nàng" không hiểu "hoa tiếc gì mà ta tiếc ngẩn ngơ". Sợ lặp lại nét tâm trạng trên, tôi nói để trấn an Hoàng:
               - Mục tiêu hôm nay của mình là đi bộ , nghe.
               - Ừ, cũng được.
               Nói thì nói vậy, nhưng mắt anh cứ thao láo, ngó nghiêng, tìm kiếm.  
               - Cứ nói đi, biết đâu tôi lại tìm được cho anh?
               - Hoa này không phải là biểu tượng gì đâu, nhưng nó laị gắn bó với vợ chồng mình. Mình muốn tìm xem cái nơi được coi là vương quốc của các loại hoa thì hoa này nó sống thế nào. Nếu không thấy, có thể mình về lại Quảng Bình bới một khóm mang vào biếu vườn hoa cũng nên. Loài hoa gắn với kỉ niệm cuộc đời mình đã gần năm mươi năm rồi còn gì, khi mình tạm biệt các em học sinh thân yêu, tạm biệt bảng đen, phấn trắng để vào bộ đội. Hoàng kể:
               - Ngày ấy, khi biết mình là dân giáo viên dạy văn, tổ chức đã bố trí mình vào bộ phận tuyên huấn ( làm công tác chính trị trong quân đội), Xuân biết không, chuyến công tác đầu tiên ấy không ngờ lại là chuyến đi đầy cảm xúc, nên duyên. Khoác lên người bộ quân phục màu xanh lá cây, chiếc ba lô và khẩu súng ngắn K54, mình hăm hở lên đường, ngược chiều với trùng trùng đoàn quân ra mặt trận để đến quân khu nhận "đội chiếu bóng lưu động" về phục vụ cho chiến sỹ. Cuốc bộ suốt một ngày đường, đến bến đò Minh Lệ cũng vừa xẩm tối. Đằng nào cũng phải nghỉ lại, mình tranh thủ ghé thăm bố mẹ, vào đến nhà cũng là lúc lên đèn. Dạo này máy bay Mỹ bắn phá ngày càng ác liệt, bến đò của trạm trung chuyển đóng ngay  trong xã, vì vậy làng trở thành mục tiêu trọng điểm. Đã thành thói quen, nghe tiếng máy bay vụt qua, mẹ nhanh tay ấn mình xuống căn hầm chữ A bên cạnh. Mấy loạt bom trút xuống bến đò làm đất đá rào rào, căn hầm chao đảo. Kẻng báo động vang lên liên hồi, mình bật dậy, chỉ kịp nói với mẹ là "cháy nhà, con đi cái đã". Không chạy theo giao thông hào như mọi khi, mình băng qua làng đến ngay khu vực chúng ném bom Na pan. Lửa cháy rần rật, người người hối hả, tất bật lao vào kéo những vật dụng quan trọng, bộ phận khác dập lửa cứu nhà. Chưa kịp xách nước, thì thấy mấy chị vai mang chéo súng trường, trên tay bế một người phụ nữ, chẳng cần biết mình là ai, họ hét lên:
               - Anh bộ đội, đưa con này về trạm xá cấp cứu, mau.
 Như một lẽ tự nhiên, mình bế người phụ nữ chạy nhanh một mạch về trạm xá xã. Không hiểu sao, lúc ấy không còn cảm giác trọng lượng, cô gái trong tiếng thở nặng nhọc, tóc tai, áo quần cháy từng mảng, khét lẹt. Qua ánh đèn phòng không tù mù, mình biết cô gái bị thương vào phần mềm. Bàn giao cô dân quân cho trạm xá, để trở lại hiện trường mà chưa kịp rõ mặt, biết tên. Gần xong công việc, mình lại phải lên đường ngay.
               Mấy tháng sau, có dịp tạt qua nhà, muốn ghé thăm sức khoẻ ông bà một chút, nhưng mỗi lần về, thế nào mình cũng được nghe cái "bài ca không quên ấy", đến phát sợ.
               Thế lúc ấy anh bao nhiêu rồi,
               Thì 30 chứ mấy, thế mà ông bà cứ cuống lên. Lần này cũng vậy. Vừa bước chân vào nhà, cởi ba lô xuống, chưa kịp uống nước, mẹ mình đã mở máy ''dân vận'' liền. Mẹ tưởng mình đã biết cô ấy nên nói trỏng: "nó bị thương nhẹ, chỉ điều trị vài bữa là lại đi trực chiến, yêu hắn được đó,cưới rồi con muốn đi đâu thì đi, nhà hắn cách mình một khoảng chứ mấy"
               - Mẹ nói đến ai ấy hả mẹ?
Mẹ mắng yêu tôi:
               -Tổ cha mi, thì con Diện chứ ai vô đó nữa, cái đứa mà con bồng nó vô trạm xá ấy!
               - Thế à mẹ, biết vậy đã, lần này con ghé tý thôi, bữa sau nha mẹ.
               - Mồ tổ mi, mần mau đi cho mạ nhờ.
Mình vâng dạ cho mẹ yên lòng rồi lại vác ba lô ra đi. Nói thì nói vậy thôi chứ mình cũng đã bí mật tìm hiểu sơ qua về cô ấy. Nói chung được như chị Kiểm là ổn rồi. Về phía cô ta thì khi em gái mình nói chuyện, bà nói liền:
               - Ai lạ chi eng Hoàng nựa mà nói.
Như được định hình trong đầu bà, không bỏ lỡ cơ hội, hễ có ai vào đơn vị y như là có thư hoặc nhắn vài lời không ngoài mục tiêu ấy. Đến thủ trưởng tiểu đoàn cũng biết, và hình như mấy ông cũng đồng tình với ông bà nhà mình.
               Lần này, mình lại được giao nhiệm vụ phụ trách đội văn nghệ, chuẩn bị tiết mục dự thi cấp trung đoàn. Anh Nghĩa, chính trị viên tiểu đoàn nói thêm:
               -Lần này, đội cậu nếu giật được giải Quân khu thì thưởng thêm năm ngày phép về cưới vợ.
Mình hiểu đây vừa là mệnh lệnh vừa là lời động viên, thú thực trong lòng mình vừa mừng vừa lo, mà chủ yếu là lo. Lo vì không biết có hoàn thành nhiệm vụ như kỳ vọng của thủ trưởng hay không, nhưng cũng mừng vì được các thủ trưởng tin tưởng giao nhiệm vụ, nếu được như ý thì còn thêm được năm ngày phép thăm nhà, còn chuyện cưới vợ thì cứ đợi đấy, đang là dự án tiềm năng, chưa cưới thì cũng chẳng sao... Thủ trưởng tiểu đoàn có khác, một mũi tên trúng hai mục đích. Thấy mình lơ đãng, ông nhắc:
               - Có nghe rõ không đấy, Hoàng,
Theo thói quen điều lệnh, mình đứng bật dậy: Thưa thủ trưởng: Rõ, tôi xin hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
               - Tốt, Ban chỉ huy tiểu đoàn kỳ vọng ở các đồng chí, nhất là công tác tổ chức của Hoàng. Nói rồi ông bắt tay thân mật, kèm  một cái nháy mắt rất nhiều ý nghĩa.
               Tuần đầu, ngày tập các khoa mục chiến thuật, tối tập văn nghệ. Đội định xây dựng năm tiết mục, trong đó có ba tiết mục tham dự Hội diễn trung đoàn và Quân khu, nếu được. Vì thế chúng tôi đã xây dựng chương trình đúng theo yêu cầu của ban tổ chức gồm: một đơn ca, một tốp ca, một  hợp ca. trong đó hợp ca là tiết mục tự biên của đội, đây cũng là tiết mục chốt của chúng tôi. Hồi đi dạy, mình cũng đã từng soạn lời cho nhiều tổ khúc dân ca, nên giờ đây việc đầu tiên mình lo nhất là phải nắm chắc tình hình đơn vị, các phong trào thi đua, những chiến công, gương người tốt, việc tốt và điều quan trọng là  trau chuốt một chút và tìm cách viết lời không bị khiên cưỡng. Vậy thôi.
               - Rồi kết quả ra sao anh?
               - Chú cứ vội, trước khi lên đường tham gia hội diễn, chúng tôi đã biểu diễn báo cáo tại đơn vị. Các tiết mục đều được vỗ tay tán thưởng, yêu cầu trình bày lại nhiều lần. Thủ trưởng đơn vị rất tin tưởng kết quả của chúng tôi. Một chuyên hành quân ra Quân khu vô cùng đáng nhớ, Thủ trưởng căn dặn rất kỹ với anh chị em diễn viên: điều đầu tiên là phải an toàn, an toàn tuyệt đối về người và trang bị, còn khi dự thi phải cống hiến hết khả năng của mình, còn giải chỉ là yếu tố tiếp theo. Chúng tôi vui vẻ, tin tưởng, không chịu một áp lực nào trong quá trình tham gia.
               Hội diễn kết thúc, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, Ban chỉ huy tiểu đoàn giao, mình được nghỉ năm ngày phép. Kèm với quyết định khen thưởng của tiểu đoàn là quà của anh em trong đơn vị chuẩn bị cho mình về cưới vợ. Một ba lô kẹo chè, thuốc lá. Hồi ấy có được vài gói thuốc lá Trường Sơn là oách lắm rồi. Thật ngại, mình  nói với anh Trọng đại đội trưởng:
           - Chưa có chi cả, nên lần này không biết có hoàn thành nhiệm vụ không đây? Nếu nhỡ mà tôi trở vô tay không thì các anh cũng đừng trách tui nha. Anh Trọng vỗ vào vai mình:
               - Thứ nhất cho bọn mình gửi lời chúc sức khoẻ tới hai cụ, chúc mừng hai cụ từ nay có dâu mới. Thứ hai, với cậu, phải phát huy tinh thần người lính, đã đánh là thắng, thắng giòn giã. Nào cố gắng lên, không được vào tay không đâu đấy.
        Rời nhà Ban chỉ huy đơn vị, mình miên man trong niềm vui chiến thắng. Điệu sáo mồm bài " Cô gái vót chồng" cứ vi vút không nguôi trên miệng. Vui, mình vui lắm. Năm ngày phép, việc đầu tiên mình dự định sẽ lợp lại mái nhà cho cha mẹ, hôm bom dội xuống làng đã làm dột nát hết cả, rồi thăm thú bạn bè, ngày lên đường mình chưa kịp chào họ một tiếng...còn việc cưới vợ...mình chưa được tự tin lắm.
               Vừa đặt ba lô xuống giường, mẹ tôi nói ngay:
               - Con bây giờ mới về, nhưng cả làng biết tin từ hai hôm trước rồi. Tốt, rứa là tốt hung rồi, năm ngày cũng được. thong thả chán. Rồi bà " thông qua kế hoạch" ngay: Chiều mai, hai đứa gặp nhau,tối mai, bàn chuyện cưới hỏi, cha anh nói, ngày mốt, ngày dậu là ngày tốt, đăng ký. Rứa là hết ba ngày, còn ngày thứ tư, cưới. Ổn, rứa là ổn. Được không? Bà có để cho cha con tôi nói gì đâu. 
Nghe chuyện, có lẽ tôi lại sốt ruột hơn anh, nên chõ vào liền:
               - Chuyện có diễn ra như kịch bản không anh, sợ quá ít thời gian anh nhỉ?
               - Đấy là điều mình băn khoăn nhất, Hoàng tiếp lời tôi. Mình chỉ ngại một việc nhưng việc này lại hết sức cơ bản, đó là sẽ nói như thế nào đây để cô ấy thông cảm và đồng ý theo kế hoạch mà mẹ đã phác thảo. Diện là em gái Kiểm, kém tôi mười tuổi. hồi trước tôi vẫn thường qua nhà chơi, chỉ nói chuyện với Kiểm mà không mấy khi để ý đến nàng. Dẫu sao như thế cũng là biết, nhưng bây giờ gặp thì nói sao đây? Nhớ lời anh Trọng dặn hôm ra về " phải phát huy tinh thần người lính, đã đánh là thắng, thắng giòn giã" mình trở nên tự tin hơn. Đang nghĩ về những tình huống khi gặp lại Diện thì mẹ lại tặc lưỡi, động viên:
               - Con gái như rứa là hiếm con ạ, cứ gặp đi, được thì tốt. Nếu không thì...
               Tôi hỏi dồn bà: Là sao mẹ
               - Thì nó là đứa hiền dịu, siêng năng, tháo vát, ai cũng mến,lấy được nó cho mẹ thì mày muốn đi đâu thì đi. Rồi mẹ kêu Tâm ( Tâm cùng lứa với Diện, em họ tôi) tìm cách bố trí cho chúng tôi gặp mặt.
Được thông báo là đến nhà  hợp tác để nghe trên về phổ biến kế hoạch công tác, Diện vội bỏ bó mạ xuống, đi liền. Đến nơi, chẳng thấy ai ngoài một ông bộ đội, Diện gọi vào:
               - Chú bộ đội ơi, tôi quay người, chủ động trong cuộc gặp nên tôi len tiếng rất tự nhiên:
               - Diện à, khoẻ chưa?
Mình nói trống không, không gọi mà cũng chẳng xưng. Một thoáng bối rối, Diện biết mình bị lừa, nhưng do trước đó được Tâm đánh tiếng nên cô ấy mau lấy lại vẻ tự nhiên, đối đáp cũng không vừa:
               - Chào anh bộ đội, anh mới " trên về" à, em khoẻ rồi.
Chỉ cần nghe Diện xưng em, tôi nói luôn
               - Anh về hôm qua, hai bác bên nhà có khoẻ không, vết thương hôm trước ra sao rồi, tóc cháy nhiều không?
 Biết mình chính là cái anh bộ đội đã ôm nàng chạy thục mạng đến trạm xá cấp cứu hôm trước, ửng hồng đôi má, nàng thẻ thọt:
               - Anh hỏi thế em làm sao trả lời được. Rồi nàng hỏi chuyện công tác, chuyện đơn vị, kể công việc trung đôi dân quân của nàng...những câu chuyện gần như mình đã biết cả, vậy mà giờ qua miệng nàng, qua  cách kể hết sức hồn nhiên của nàng,  mình có cảm giác như sống động hơn, đẹp hơn, đáng yêu hơn. Lạ thế cơ đấy. Thấy diễn biến có chiều hướng thuận lợi, chứ không đến nỗi như kịch bản, mình thấy Diện thật thân quen, gần gũi và mến yêu vô cùng.
               Trời cũng không còn sớm nữa, mình hẹn nàng:
    Bây giờ anh có việc cần phải làm ( thực ra việc quan trọng nhất của mình lúc này là tiếp cận, thuyết phục nàng mà thôi. Giản thời gian ra một tý là để nghiên cứu thêm giáo án.), tối anh em mình ra đây nói chuyện, được không em?
               Diện hỏi một câu, có lẽ chỉ là để hỏi :
               - Rứa có tiện không anh?
Không một chút chần chừ, mình nói luôn:
               - Sao lại không, trăng sáng nói chuyện càng vui . Thế nhé, bảy giờ tối anh đợi em ở đây, nha.
               - Dạ
                   Đợi nàng đi khuất, tôi mới lửng thửng bước ra. không ngờ cuộc gặp lại diễn ra thuận lợi như mong muốn. Tôi chuẩn bị cho cuộc gặp tối nay, quyết định trong đêm nay.
                  Trên đường về, tôi nghĩ tối nay nên nói với nàng điều gì, có nên văn vẻ không, hay cứ giản dị, tự nhiên...có tặng hoa cho nàng, mà lấy hoa gì để tặng nàng bây giờ. Suy nghĩ trong giây lát, tôi chậc lưỡi: mình người làng, quen biết nhau đã lâu, việc gì mà phải lựa chọn cách nói cho lắm, cứ thành tâm mà đối đãi với nhau e hay hơn cả. Bất chợt khóm hoa nàng nàng, những cánh hoa đủ màu kết lại như sắc cầu vồng quệt vào tay tôi. Phải rồi, nó đây, những đoá hoa như màu ngũ sắc mà đằm thắm, bình dị, thân quen. Đây là hoa ta sẽ tặng nàng vào  tối nay.           
            Qua quýt bát cơm, mình ra chỗ hẹn. Đi qua búi hoa nàng nàng mình không quên hái một chùm hoa, nhỏ thôi nhưng rất xinh, đặc biệt mùi thơm dịu ngọt, thanh tao rất quê kiểng mà đáng yêu. đem cất vào một chỗ rồi ra đợi nàng. Có lẽ cũng cùng tâm trạng như mình nên vừa quay ra, đã thấy nàng trước mặt.
            - Anh đợi em lâu chưa?
            - Em à, Mới chút thôi
Lần này hai đứa tự nhiên hơn, mới gặp nhưng trong lòng mình có cảm giác như gần gũi thân quen tự bao giờ. Một sự hiểu biết và cảm thông trong những câu chuyện kể, trong nghĩ suy. Đã đến hồi quan trọng, không còn thời gian nữa, mình đánh bạo hỏi:
- Diện này,
- gì vậy anh
Em có dám đi chung đường với bộ đội không?
- Thì mình đang đi đó mà anh.
 Biết nàng đang dễu mình.
            - Ý anh là có dám xây dựng gia đình với bộ đội không kia
            - Anh, có gì mà lại không dám, những người lính đã tự nguyện hiến dâng cả tuổi thanh xuân, sức lực, máu xương mình cho Tổ  quốc, thì tại sao phụ nữ chúng em lại không dám cơ chứ.Chỉ sợ không ai ngó ngàng đến những cô gái quê mùa này thôi. Mà đâu phải xây dựng gia đình cho mình các anh ấy đâu.
Tự nhiên nàng văn vẻ đến lạ. Đèn xanh bật rồi, tôi mừng quá, chớp cơ hội, đánh liều dấn ga:
            - Chúng mình lấy nhau nha em, Diện.
Nàng im lặng...
            - Nha, em
 Vẫn  im lặng..
            - Ầy, anh trật rồi, tôi lên tiếng
            - Trật chi
            - Mới nói chuyện, lẽ ra anh...hun o ấy một cái thử có được không đã, chưa chi đã hỏi rứa, hèn chi im lặng.
Hoàng cười,
            - Nghe nói chú giỏi lắm cơ mà, viết được mấy chương cho giáo trình tình yêu, ai dè đoạn ni cũng kém nhỉ. Không phải đâu, đó là chiến thuật của các nàng đấy.
            - Thì anh nói đi,
Các nàng khiêm tốn về nhì thôi. " nhất ì, nhì làm thinh" mà.
Tôi ngớ người về cái tinh ý của anh, Hoàng nói luôn:
            - Khi mình nói, "Được rồi, không sao, nhất ì, nhì làm thinh" thì nàng đấm vào ngực mình
            - Anh trêu em nì, anh trêu em nì, mỗi lần nói, hai tay nàng lại đấm vào ngực mình. Tiện thể,được đà, mình liều kéo nàng vào. Mới thế, thấy người nàng run bắn lên, cả hai đều thấy tiếng tim đập rộn rã. Nắm lấy tay nàng đặt lên ngực mình:
            - Từ nay trái tim này thuộc về em, bà chúa của lòng anh. Diện để yên bàn tay nhỏ nhắn mềm mại trên bộ ngực thổn thức của người lính. Đầu nàng ngã vào ngực mình, yên lặng. Một khoảng trời mênh mang, gió từ bến sông thổi vào như vuốt ve mái tóc ngát thơm hoa bưởi của nàng. Vầng trăng vằng vặc soi rõ ánh mắt ngời sáng trong trẻo thân yêu đến lạ. Nhớ đến việc tặng chùm hoa nàng nàng cho Diện, nhưng rồi mình không dám khuấy động phút giây thiêng liêng, hệ trọng ấy. Đêm đó,  tịnh không có một tiếng máy bay nào, có lẽ tất cả như dồn cho mình không gian hạnh phúc.
            Nàng nói nhẹ bên tai:
            - Em mà ỳ ri, anh có cười em không đấy*?
Tôi đang ngỡ ngàng hạnh phúc, bỗng bừng tỉnh khi nghe câu hỏi không dễ chút nào.
            - Sao em lại nói thế, người lính trận đâu có lắm thời gian để tâm sự được nhiều, hơn nữa khi " tia chớp của ái tình đã vụt qua, khi trái tim họ đã thuộc về nhau thì thời gian còn có nghĩa lý gì, thay mặt những người lính, anh cám ơn em không kịp nữa là". Tôi tự hài lòng với câu trả lời của mình, và thực sự, đó là cái lý.
            Rồi như cái lẽ tự nhiên, mình lại nêu cái  "kế hoạch" mẹ mình nêu hôm nọ. Nàng chỉ sợ thời gian gấp gáp, tổ chức không được chu đáo thôi. Chúng tôi hạnh phúc sánh vai nhau dưới con đường lấp lánh hoa trăng.
            Đêm ấy, tôi không ngủ được, mẹ tôi thì mừng khôn tả, chừng như ông bà chắc biết trận này hai đứa con mình chắc thắng, nên khi tôi về, móm mém miếng trầu cay, mặt tươi rói, mẹ đã sắp xếp mọi việc xong xuôi.
            Rồi lễ thành hôn diễn ra trong niềm vui của cả hai họ, của cả làng. Bọn trẻ nhỏ thì đến vì hiếu kỳ, coi anh bộ đội với o Diên. Một đám cưới được tổ chức theo đời sống mới thật giản dị và đầy ý nghĩa. Hôn lễ được cử hành ngay sân nhà, mấy bạn thanh niên trong chi đoàn của Diện kịp cắt đôi bồ câu sánh đôi nhau bay trong hanh phúc, cùng câu khẩu hiệu của một thời "Vui duyên mới, không quên nhiệm vụ". Thành, bạn thân của mình, là một cán bộ Đoàn lão luyện, kịp trao vào tay mình bó hoa, anh dặn: tặng Diên đi. Bó hoa nàng nàng được cuốn trong một đài hoa bằng tờ báo cũ. Tự nhiên tôi thấy lịch sự và sang trọng chán. Đến bên nàng, bằng cả hai tay tôi trao cho nàng và nói: "Anh tặng em những bông hoa đồng nội, vươn lên trong nắng gió, đạn bom, vẫn rực rỡ như bảy sắc cầu vông, mà thảo thơm , bình dị. Mong cho hạnh phúc chúng ta mãi mãi mãi vững bền". Tôi nghe ai đó xì xào " Sĩ quan chính trị có khác".Các bạn thanh niên vỗ tay tán thưởng, mấy chị lấy hai tay ngoéo vào nhau rồi hô to, chụp ảnh nà, cười lên, chụp nha.  Nàng hồng lên đôi má, e thẹn hạnh phúc.
Đêm tân hôn của chúng tôi trong tiếng ràn rạt của máy bay, ỳ ầm bom dội. Sớm hôm sau, nàng tiễn mình ra tận bến đò để trở về đơn vị, bịn rịn, yêu thương, nàng ép sát vào ngực mình, nhỏ nhắn và e lệ.
                                                             *
                                                            * *
            Hơn năm tuần sau, đang lúc khẩn trương huấn luyện các khoa mục chiến đấu trong đội hình phân đội,chuẩn bị cho chiến trường Nam Lào mình nhận được thư Diện, đây là bức thư thứ hai của vợ, nàng viết vội chỉ mấy dòng. Bức thư ngắn mà chất đầy tình yêu thương, cuối cùng Diện báo một tin mà mình thao thức suốt đêm, không biết nên vui hay nên buồn. Diện xung phong vào chiến trường trong đội hình của lực lượng bán vũ trang, vừa mở đường vừa chiến đấu. Em còn nói thêm biết đâu vợ chồng mình lại được gặp nhau trên những nẻo đường chiến dịch, lúc đấy hạnh phúc biết bao nhiêu. Một tâm trạng vui buồn lẫn lộn, buồn, nói cho chính xác là lo, lo vì nàng mảnh mai, yếu ớt, liệu có đủ sức hành quân, băng rừng vượt thác, phá đá mở đường...Vui, thì vô kể, biết đâu như Diện nói nếu được gặp nhau nơi chiến trường đạn lửa này thì tự hào, vui biết bao nhiêu,chưa biết chừng lại là nguyên mẫu  cho chuyện tình nơi mặt trận cũng nên... mình thiếp đi trong hạnh phúc trào dâng.
            Năm 1968, chúng tôi "gặp" đơn vị "anh cả đỏ" của Mỹ nơi chiến trường Quảng Trị. Phải nói ngay rằng đây là một cuộc "tao ngộ chiến" hết sức éo le, trận đánh xẩy ra vô cùng cam go, bất lợi. Cậy sức mạnh hoả lực và khả năng cơ động của mình, quân Mỹ đã tổ chức phản công hết sức quyết liệt. Địch bị tiêu diệt khá nhiều, trái lại số chiến sỹ của ta thương vong cũng không ít. Một kinh nghiệm xương máu cho các vị chỉ huy trước những tình huống như thế này là khẩn trương làm công tác thương binh liệt sỹ và rút ngay ra khỏi tầm bom và các loại hoả lực của địch. Là người phụ trách đơn vị, tôi đi sau khống chế địch để đơn vị rút ra. Trong lúc khẩn trương, kẹt giữa cái sống và cái chết như thế mà tôi vẫn nhớ tới Diện, và rồi như một lẽ tự nhiên, tôi quay lại tháo chiếc bi đông ở thắt lưng một xác thằng Mỹ.
            Ở tuyến sau, nhận được quà của chồng gửi về, Diện vô cùng hạnh phúc, thứ nhất biết chồng khoẻ mạnh, lập chiến công cùng đồng đội, thứ hai, không những có đồ dùng mà hình ảnh anh lúc nào cũng hiện diện bên em. Biết vợ chồng cùng mặt trận, nhưng chưa bao giờ có điều kiện gặp nhau, chỉ là những lời nhắn gửi hoặc những dòng thư viết vội khi có người đi công tác qua.
             Sư đoàn được Bộ Tổng Tham mưu điều qua giúp nước bạn Lào, đơn vị tôi hành quân đến cao nguyên Bôloven. Lúc này, Diện cũng được chuyển sang mở đường Tây Trường Sơn. Gặp đơn vị TNXP quê Quảng Bình, anh em mừng lắm, mình lại càng hồi hộp. Liệu đơn vị vợ tôi có đây không, Diện ở đâu...Được lệnh nghỉ tại chỗ, tôi vội vàng đi tìm Diện, từ đầu hàng quân đến cuối tuyến, đâu cũng nhìn đâu cũng hỏi mà không thấy Diện của tôi đâu. Sốt ruột mình tìm ban chỉ huy đơn vị thì được biết Diện đang đi công tác. Diện đi đâu, sao không có ở đây,tôi băn khoăn, phấp phỏng và lo âu. Biết đâu các anh chỉ huy đơn vị giấu mình điều gì chăng? Giữa chiến trường đạn bom ác liệt này tất cả những điều tưởng chừng không thể  lại hoàn toàn là những điều có thể. Lệnh tiếp tục hành quân, lòng tôi nặng trĩu, những bước đi trở nên nhọc nhằn, trầm tư.
       Xốc lại ba lô, mình  lại bước đi trong đội hình đơn vị, gặp ai đi ngược chiều, cũng săm soi, dòm ngó. Đến một ngã tư, lối nhỏ vào bản người Lào Thưng*, mình thấy hai người mang quân phục dáng đi chúi xuống, có lẽ gùi sau lưng đè nặng, đã gặp nhiều người đi ngược chiều, hơn nữa lại có gùi sau lưng, lại nghĩ, không phải, không thể như thế, Diện của tôi đang đi công tác kia mà, mấy cậu đi sau tôi lại được dịp tếu táo râm ran...Đoàn quân lại bước đi lặng lẽ. Bỗng một trong hai người bật lên chạy tới:
            -  Hoàng, anh Hoàng phải không, anh, anh ơi, em đây, Diên đây.
       Tôi ngẩn người, dừng lại đứng như Từ Hải. Mang cả gùi, Diên vụt chạy đến. Ôm chầm lấy tôi, em khóc nức nở. Cả đoàn quân ngỡ ngàng, như dồn lại, chung vui cùng tôi, cười nói râm ran. Anh Trường đại đội trưởng đỡ gùi măng trên vai Diên xuống. Giữ ý, anh em lùi xa ra. Lúc này tôi mới nhìn kỹ em, sốt rét đã làm da em xanh mái, màu rừng, tóc em lưa thưa, môi thâm lại...em không còn tươi xinh, mềm mại của cô thôn nữ mùa xuân năm trước. Đúng là lính Trường Sơn dạn dày sương gió, em hoạt bát, nhanh nhẹn hơn tôi tưởng, không còn Diên rụt rè e thẹn của cô dân quân năm nào. Em kể nhanh cho tôi tình hình gia đình hai bên, tình hình đơn vị, sức khoẻ của em trong những ngày tôi ở mặt trận Quảng Trị. Em mừng, nếu lúc nãy không khẩn trương thì tuột mất cơ hội  hi hữu gặp anh hôm nay. Bất chợt nàng hỏi tôi một câu:
            - Anh có trách em không, khi em được trong diện ưu tiên miễn ra mặt trận vì có chồng ngoài tiền tuyến.
            Biết nói gì được nữa, tôi động viên vợ, thế là quý lắm rồi, biết được điều kiện công tác, sức khoẻ như thế là anh yên tâm rồi, em có ra chiến trường vợ chồng mình mới được gặp nhau, Này, có phải đúng như lời ước năm xưa không. Tôi cố nói cho vợ tôi vui, yên lòng. Không thể dừng lại được lâu, trước khi chia tay tôi mở ba lô lấy cho em chiếc bọc võng bằng dù pháo sáng được nhuộm lá rừng để chống muỗi và giữ ấm giữa đại ngàn, và đặc biệt lọ phòng 3, một loại thuốc chống sốt rét ác tính hiệu nghiệm nhất của Trung Quốc lúc bấy giờ. Tôi mở túi cóc ba lô Diên để nhét võng và thuốc vào, thì Diên giằng lấy:
            -Để em, tý nữa lại quên. Diên lục ba lô lấy ra một cái túi ni lông
giữa cuốn sổ là bông hoa.  Trời ơi, bông nàng nàng mà tôi đã trao nàng trong ngày cưới. Tôi run lên khi em vừa tách  bông hoa ra, bông hoa được ép khô trong cuốn sổ carne hôm tôi trao em làm kỉ niệm.
            - Đây anh giữ cái này, em chỉ ép được hai cành, đợi ngày này lâu lắm rồi, em nghĩ thế nào cũng trao được cho anh nơi chiến trường. Tôi đón bông nàng nàng nàng từ tay em rồi cho vào túi ngực:
            - Anh để đây, nơi trái tim anh
Tôi hiểu bông nàng nàng quan trọng với em và tôi như thế nào. ( Tôi cũng nói thêm, đến nay trong tủ kính nhà tôi, giữa những kỉ vật chiến tranh, có hai thứ mà tôi cho là có ý nghĩa nhất, có thể là độc nhất vô nhị, đó là cặp hoa nàng nàng và chiếc bi đông Mỹ)
            Từ xa, mấy cậu lính trẻ hét lên, hôn tạm biệt chị Diên đi anh Hoàng, hôn đi. Tôi đâm ra bạo dạn và liều lĩnh.
            - Có gì mà không được, vừa nói, tôi vừa kéo Diện vào lòng
            - Anh đi nha, em nhớ giữ gìn sức khoẻ, nếu có điều kiện viết thư về báo tin cho gia đình biết vợ chồng mình gặp nhau ở đây nha. Chắc ông bà mừng lắm đó.
            - Dạ, em sẽ viết thư về. Diên cúi đầu vào ngực tôi yên lặng. Hôn tạm biệt đi anh Hoàng, chúng nó lại hét lên. Tôi nâng đầu nàng lên thơm vào trán và mái tóc nàng. Chắc đã lâu không được gội đầu bằng bồ kết, tóc nàng có mùi chua dìu dịu của một loại trái cây rừng.
            Tạm biệt Diên và người bạn đường của em, lòng tôi thanh thản, nhẹ nhàng, nhất là đã giải toả một ám ảnh, một nỗi lo, cất đi được một hòn đá đè nặng lên ngực.
            Gấp rút triển khai kế hoạch tác chiến, không khi nào rảnh để tranh thủ trở lại thăm em, mà có đi chăng nữa, liệu đơn vị em có còn đó hay không, người như con chim nay đây mai đó, là người mở đường em luôn có mặt nơi chưa ai đặt chân tới, đến khi hoàn thành em lại đến nơi khác, chim trời cá nước biết đâu mà tìm.
            Hơn tháng từ ngày vợ chồng gặp nhau, tôi nhận được một phong thư từ quân bưu; Ngoài bì đề Sơn Minh Diện, cậu quân bưu nói với tôi, thư ai lại có họ của người khơme vùng An giang, giống họ Campuchia anh nhỉ. Tôi biết thừa của ai khi nhìn nét chữ, nhưng vẫn nói với cậu đưa thư. Có lẽ thư vùng đó thật.
Bức thư viết trên giấy học trò. nét chữ mềm mại, nhưng còn run run. bao nhiêu thương nhớ, mong chờ và cả nỗi lo cho người ra trận. Em lo lắng cho tôi, động viên tôi yên tâm chiến đấu, niềm vui và hạnh phúc của cả vợ chồng đã hiến dâng tuổi thanh xuân cho cuộc chiến vinh quang và vô cùng ác liệt này.
            Như một sự vô tình quên lãng,em tái bút:
            - À anh, bữa vợ chồng mình gặp nhau hôm ấy, là từ trạm phẫu tiền phương về đó, em bị một mảnh bom sát thương vào tay. Như anh biết đấy, bây giờ hoàn toàn bình phục, em đã ra mặt đường cùng chị em. Bị mấy lần rồi, nhưng em đã có quý nhân phù trợ. Biết quý nhân đó là ai không? Là Anh đấy, anh luôn che chở cho em. Em quá may, phải không anh.
        Việc lớn như thế mà em lại ra vẻ như không, lòng tôi trào dâng một tình thương khôn tả. Tôi nhớ em, Diện của tôi. Bất giác, tôi sờ lên túi áo trái ngực mình. Bông nàng nàng.
                                                                                                 NXS
                                                                                                Hè 2015


21 tháng 7, 2015

Nhà tôi có một dàn bầu

Cái sân thượng nhà tôi đã thành một khoảnh vườn với không chỉ cây cảnh hoa lá mà còn nhiều các loại rau thơm và bầu bí. Có tất cả khoảng chục cái chậu và thùng xốp được huy động cho việc này.

Mấy chậu mai chiếu thủy với mai vàng Bình Định lần này miễn nhắc. Chỉ nói rau các loại.
Một dàn bầu hình hồ lô với chỉ hai quả quí hiếm. Vì thế mà cũng "tâm tư lắm" (mượn từ của phùng đại tướng). "Tâm tư" đến mức là cả nhà tôi đang phân vân không biết có nên thu hoạch xuống nấu một chầu canh tôm ăn cho mát ruột hay là cứ để thế ngày ngày lên ngắm rồi cuối cùng là cho nó khô đi để lấy hạt làm giống cho mùa sau và có cái vỏ bầu khô đựng nước vối uống cho thơm mát.

                                            Quả to đẹp cân đối nhất

                                 Chỉ ra và đậu được có hai quả nên rất quí hiếm. 


 Chậu ngò gai ăn mãi không hết. Tôi có bí quyết bón cây bằng bã đậu nành (do ở gần một hàng xóm làm sữa đậu nành bán hàng ngày, bã đem bỏ đi, sáng sớm tôi ra xách về bón cây thay phân). Cây bón bằng bã đậu nành nên vừa sạch vừa láng mướt như xối mỡ. 
Chủ nhật mới rồi bạn học Nguyễn Duy Xuân từ Ban Mê Thuột xuống ghé chơi, tôi đã mời Xuân ăn trưa bằng một bữa thịt dê hấp sả với lá tía tô ăn kèm lá ngò gai mới hái tươi roi rói. Xuân có vẻ nể khả năng trồng rau của tôi lắm.  


 Cây cóc Thái tôi mua của bà bán rong 80 ngàn đồng cách đây 2 năm không chỉ xanh tươi mơn mởn mà cho trái liên tục. Đã thu hoạch mấy lứa. Giống cóc Thái này quả nhỏ như trứng gà so nhưng khi chín ăn ngọt lừ như đường phèn. Không chua như cóc ta. 


Lá cóc còn để trộn với các loại rau khác làm thành một mớ rau sống thập cẩm, nhất là cuốn bánh tráng nhúng Củ Chi với thịt heo luộc thì hết ý. Ăn vào cứ chua chua dòn dòn dôn dốt rất thú vị.  


Cứ mỗi buổi sáng nhà hàng xóm bỏ đi một túi bã đậu nành như thế này. Phân sạch bón cây của tôi đấy



18 tháng 7, 2015

Cảm nhận văn hóa rừng và nghệ nhân dân gian Bah Nar, Jrai

                                                                                     Chử Anh Đào
            RỪNG...
            Từ hàng nghìn năm tước, người Bah Nar, JRai gắn với rừng. Rừng là một bộ phận quan trọng nhất cấu thành cuộc sống của họ. Có thể nói mà không sợ quá lời rằng: văn hóa Bah Nar, JRai là văn hóa làng và văn hóa rừng. Nếu không có làng, có rừng thì sẽ không có văn hóa Bah Nar, JRai. Văn hóa truyền thống của hai tộc người này sẽ biến mất nếu những cái đó không còn hoặc bị biến dạng.
            Với người Bah Nar, JRai rừng là sự sống, là thần thánh, ân nhân, bè bạn. Con người cảm thấy nhỏ bé sợ sệt, biết ơn và khao khát sống hòa thuận với các thần rừng, với mẹ tự nhiên.(Họ tuyệt đối không phá rừng, chỉ khai thác một diện tích rất nhỏ để canh tác, duy trì sự sống. Chặt một cây to phải cúng Giàng. Có những khu rừng thiêng- mà bây giờ gọi là rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn, cả cộng đồng tuyệt đối không bao giờ được đụng đến. Khác với các tộc người du mục, người Bah Nar, JRai cũng không du canh du cư. Họ chỉ dời làng khi có chiến tranh, dịch bệnh và tài nguyên cạn kiệt. Họ phát và làm rẫy ở những địa điểm nhất định theo chu kì để đất được nghỉ ngơi và bồi đắp lại sự mỡ màu cần thiết. Như vậy gọi là luân canh. Và chủ trương định canh định cư trong một số trường hợp chưa chắc đã là phương án tối ưu.)
            Người Bah Nar, JRai sinh ra từ làng, sống với rừng. Lớn lên, do thời cuộc xô đẩy mà một số người phải dời xa những cái thân thuộc và thiêng liêng ấy. Nhưng thời gian chưa bao giờ làm phai nhòa làng, rừng trong huyết quản của họ. Tiện nghi đến đâu, quyền cao chức trọng đến đâu thì khi được phép nghỉ ngơi, ma lực làng, ma lực rừng vẫn là tiếng gọi mãnh liệt và thôi thúc nhất. Hầu hết họ đã quay về làng cũ rừng xưa, để được một lần nữa hòa giọt nước nhỏ nhoi đời mình vào dòng chảy nghìn năm của cộng đồng yêu dấu. Thực tế những Xu Man, Đinh Núp, Y Ben, Y Dơn, Ksor KRơn, Lưu Ô Y Nôm, Y BRơm...là những minh chứng hùng hồn. Và hẳn sẽ là bi kịch lớn lao khi ai đó không còn chỗ để quay về!
            ...VÀ NGHỆ SĨ
            Chín mươi vạn năm sau vượn thành người, con người mới bước vào đời sống thẩm mĩ.Bắt đầu từ sự hoàn thiện công cụ lao động, từ cái có ích đến tiện lợi và đi đến cái Đẹp. Cùng với lao động sản xuất, chiến đấu để sinh tồn, người Bah Nar, JRai còn là chủ nhân của kho tàng folclore vô cùng phong phú, đặc sắc và độc đáo bậc nhất Việt Nam. Tất cả các loại hình văn hóa, văn nghệ dân gian đều có ở đây với hình hài nguyên sơ và tinh khôi nhất, chưa hề bị (được) trau chuốt, gọt giũa, bác học hóa.Thậm chí trữ lượng sử thi của người Bah Nar lại càng giàu có chưa từng thấy.
            Ta thường dùng khái niệm" nghệ nhân" để chỉ những người có tài,có khả năng lưu giữ, thể hiện và truyền dạy các tác phẩm dân gian. Quả đúng vậy. Đi sâu hơn nữa, tình hình này ở người Bah Nar, JRai có nhiều điều thú vị, ngạc nhiên. Qua điền dã và quan sát, chúng tôi nhận thấy trước hết, mỗi người Bah Nar, JRai là một nghệ sĩ từ trong tâm linh, máu thịt. Khả năng lĩnh hội, cảm thụ sáng tác và biểu diễn các tác phẩm nghệ thuật của họ rất cao trong tất cả mọi tình huống. Tất nhiên họ không có các khái niệm "nghệ sĩ", "sáng tạo", "nghệ thuật"...nhưng họ đã sống cùng với những thứ đó từ trong bụng mẹ cho tới khi về cõi atâu (cõi ma). Các quan hệ giữa người với người, con người với tự nhiên tràn ngập một không gian và thời gian nghệ thuật mang tính cộng đồng cao là tất cả người trong làng, trong cùng đồng bào hầu như cùng một nghề nghiệp, một lối sống, một cách cảm, cách nghĩ giống nhau. Họ đã sống nghệ thuật một cách tự nhiên, tự phát như hít thở không khí, như cơm ăn nước uống hàng ngày. Vì vậy họ không hề tự tách ra, xác định một chỗ đứng cao hơn và tách biệt với những người còn lại trong cộng đồng. "Pơ tao cũng là chúng tôi. Người xúc tép cũng là chúng tôi"- như lời một nhân vật trong sử thi Bah Nar.



            Trong những lễ hội của dân làng, ai là tác giả trang trí đàn hiến tế, cột gơng, cây nêu? Ai tạc tượng mồ? Chúng tôi hỏi và được người dân làng Mơ HRa- Kon Lơng Khơng- KBang trả lời: là những người được Giàng cho cái mắt, cái tay ( khéo). Công việc chế tác, sáng tác, trong trường hợp này, nói nôm na như người Việt: Trời gọi ai người ấy dạ! Đó là một quá trình thăng hoa, nhập thần, như có một lực lượng siêu phàm dẫn đường chỉ lối từ khi bắt đầu cho tới khi hoàn tất tác phẩm. Người nghệ sĩ chỉ cảm thấy sung sướng vô biên trong quá trình ấy. Làm xong thì hình như Giàng cũng biến khỏi người anh ta. Thái độ của anh ta lúc này lại cộng cảm cùng cộng đồng trong ngắm nghía, thưởng thức. Cái tôi cá tính sáng tạo đã thực sự biến mất!
            Người Bah Nar, JRai không "làm", không "diễn" nghệ thuật. Mọi thứ xuất phát và là sản phẩm của tâm hồn họ, không thể đổi chác, bán mua. Vì nếu vậy thì đấy là một sự xúc phạm ghê gớm. (Một người tạc tượng ở xã STơ- KBang đã như bị tát nước ớt vào mặt, đổ nước cà vào mũi khi có người ngỏ ý mua tượng mà anh ta đã tạc để ở nhà rông)
            Cuối cùng, nếu không đặt đúng vào thời gian, địa điểm và mục đích tâm linh thì mọi thể hiện của folcloree Bah Nar, JRai chỉ là những trò diễn gượng gạo, khiên cưỡng vì không có hồn vía đích thực.
                                                                              7/15
                                                                             C.A.Đ


16 tháng 7, 2015

Nhớ Võ Đình Nhâm

Tối nay vừa nhận tin buồn từ QNU gọi vô: Bạn đồng nghiệp Võ Đình Nhâm, GV tiếng Nga vừa qua đời hôm qua tại Tp. Quy Nhơn vì bạo bệnh. Hôm nay sau lễ viếng, xe tang đã đưa Nhâm về quê ở Nghi Xuân, Hà Tĩnh để an táng. Giờ này xe chở Nhâm đang đi qua Quảng Bình. 
Tôi sửng sốt buồn. 
Nhớ hồi mới thành lập trường ĐHSP QN vào những năm 79-80, chúng tôi ở cùng nhau trên tầng 3 khu tập thể CBGD. Cùng sinh hoạt chung một khoa. Nhâm mới về hưu năm ngoái.
Tính Nhâm hiền lành, lúc nào cũng đạo mạo, mô phạm. Nói năng đúng mực. Là một tấm gương sáng cho bè bạn và các thế hệ học trò noi theo. Đặc biệt anh sống rất ân tình với mọi người. Ai cũng quý mến và trân trọng anh. 
Vậy mà... bây giờ bạn đã sớm thành người thiên cổ. 
Lục trong kho hình chụp ngày chúng tôi cùng nhau về dự hội khoa văn QNU nhân kỉ niệm 30 năm thành lập khoa (1978-2008), thấy tấm hình Nhâm đăng lên đây để tưởng nhớ bạn. 
Cầu mong cho Nhâm được an giấc ngàn thu.
Xin được chia buồn cùng gia quyến của Nhâm.
Trong hình: Nhâm hàng đầu bên trái.




9 tháng 7, 2015

Tượng thờ dù đổ vẫn thiêng

Tượng thờ dù đổ vẫn thiêng
Miếu thờ bỏ vắng vẫn nguyên miếu thờ

là hai câu thơ nổi tiếng trong bài thơ Không tôi nào nữa yêu em của nhà thơ Nga vĩ đại ở thế kỉ thứ XIX Mikhail Iurjevich Lermontov. 

Hai câu thơ nói lên sự linh thiêng của đền đài miếu mạo khi nó thực sự đi vào cõi tâm linh của con người như một niềm tin vào tình yêu bất diệt. Đó không phải là sự mê muội mù quáng mà là lòng tin vào đấng siêu nhân được người đời suy tôn dựng lên như một lẽ tự nhiên. Dĩ nhiên ở bên cạnh những pho tượng đổ, những ngôi miếu vắng ấy không bao giờ có sự xuất hiện những cái hòm công đức há miệng nuốt tiền như một sự ăn xin, một sự cướp giật lòng sùng bái đầy ích kỉ của đám con nhang đệ tử ngày ngày lũ lượt đến chùa xì xụp vái lạy để mưu cầu danh lợi.
Ấy là tôi đang muốn nói đến những hằng hà sa số các đền chùa, tượng phật các loại đã và đang được dựng lên trên khắp đất nước ta, cái sau to hơn cái trước, nếu cái trước là to nhất vùng miền thì cái sau phải to nhất nước, cái sau nữa phải to nhất Đông Nam Á, cái sau sau nữa phải to nhất châu Á… cứ thế cho đến ngày tất yếu sẽ có cái chùa hoặc tượng to nhất thế giới.
Vào cái ngày chưa lâu khi khu chùa Bái Đính to nhất Đông Nam Á được khánh thành ở Ninh Bình bởi tiền của được đổ ra từ hầu bao của một tay trọc phú đang được đảng và nhà nước Vn tung hô là một doanh nhân thành đạt,  tôi nghĩ ngay thế là nước ta lại có thêm một địa chỉ buôn thần bán thánh vĩ đại nữa rồi. Và quả nhiên ngay sau đó ngày ngày người người lũ lượt kéo nhau đến thả tiền vào hàng trăm hòm công đức được bày ở khắp nơi để xì xụp khấn vái mưu cầu danh lợi cho riêng mình. Tay trọc phú càng giàu lên trông thấy trên sự mê muội tham lam và ngu xuẩn của người đời. Hôm trước có ông đồng nghiệp ra đút tiền khấn vái ngoài đó về hồ hởi khoe rồi tư vấn cho tôi là ông nên đi một chuyến, hên lắm ông à. Tôi thì sổ toẹt vào cái đám chùa chiền phật tổ quốc doanh ấy.
Kẻ ăn cắp tiền bạc của cải của người khác là lưu manh. Kẻ ăn cắp lòng tin của con người là lưu manh của lưu manh. Ngu muội đến mức bị đám lưu manh đội lốt đầu trọc lừa đảo là ngu muội của ngu muội.
Ngày hôm qua đọc tin và xem hình ảnh về pho tượng phật với quy mô lớn nhất miền Bắc qua ba năm xây dựng ở miền quê lúa Thái Bình nghèo khó sau khi đã tiêu tốn hàng trăm tỉ đồng thu được từ sự mê muội của người dân bị sụp đổ như bom dội, tôi nghĩ đấy chính là sự linh ứng quả báo nhãn tiền của thuyết giáo nhà phật. Xây tượng cho to, đặt thật nhiều hòm công đức để kinh doanh, không đổ mới lạ. Đức Phật tổ Như Lai đâu có chỉ dạy đệ tử như thế bao giờ.
Điều lạ lùng là hình như càng ngày sự mê muội của dân chúng nước ta càng lan rộng. Từ chỗ chỉ những người ít có cơ hội học hành như nhân vật thím Tường Lâm trong truyện ngắn Lễ cầu phúc, hay như nhân vật Nhuận Thổ trong truyện ngắn Cố hương của Lỗ Tấn mới mê tín dị đoan thì ngày nay, cái sự mê tín ấy đã lan rộng đến cả tầng lớp có học, tầng lớp được xem là trí thức, nhất là một bộ phận tầng lớp quan chức to nhỏ các loại đang ngày đêm mưu cầu danh lợi. Làm gì cũng coi bói, đi đâu cũng coi ngày. Mất của coi bói, được của cũng coi bói. Đau ốm thập tử nhất sinh coi bói, khỏe mạnh trở lại cũng coi bói. Con thi đại học rớt coi bói, con thi đỗ đại học cũng coi bói. Cách đây mấy năm, mẹ tôi ở quê đã hơn 80 tuổi bị ốm nặng đến mức đi nằm bệnh viên bị BS trả về nói là hết thuốc chữa rồi, cho bà về nhà để đi cho thanh thản. Mấy cô em tôi cuống lên thương mẹ nên vô tận Huế coi bói một ông thầy nổi tiếng. Ổng phán cái rụp: không quá 21 ngày nữa là mệ đi. Tôi nhận được điện hoảng quá liền mua vội vài lạng yến sào về thăm mẹ gọi là có chút báo hiếu của thằng con bất hiếu suốt đời ở xa cha mẹ. Mẹ tôi lần đầu tiên ăn yến sào nên rất công hiệu, cụ khỏe lại sau ba ngày và vẫn sống khỏe mạnh minh mẫn cho đến hôm nay. Thấy mẹ tôi khỏe lại một cách không thể ngờ, mấy đứa em ngạc nhiên lắm không biết lí do vì sao lại đi coi bói một ông thầy cúng khác cũng rất nổi tiếng ở trong huyện. Ông thầy cúng này trạc tuổi 40, đi xe hơi tự lái lấy như một tay chơi chính hiệu. Ông bày lễ cúng rồi phán: mệ còn sống được đến 9 năm nữa mới đi. Phán xong ông ta đút 700 trăm bạc vô túi rồi lên xe hơi nổ máy phóng đi chỉ sau chưa đầy 60 phút hành nghề (trong lúc tôi đi dạy nếu là ở trường đại học công lập của nhà nước cũng chỉ được 60 nghìn đồng cho 60 phút hao hơi rát cổ trên bục giảng). Mẹ tôi năm nay đã 85 tuổi. Vậy theo lời tay thầy cúng phải đến năm 94 tuổi cụ mới thăng. Tôi nghe mừng hết lớn. Chợt thấy thương mấy đứa em tôi học hành cũng đã nhiều, khôn ngoan cũng đã lắm, sắc sảo cũng không vừa mà sao cứ để cho mấy tay thầy cúng gần xa lừa đảo mãi thế. Tiền cho con đi học thì lúc nào cũng kêu thiếu mà tiền cúng cho thầy cúng thì lúc nào cũng đủ. Thậm chí lão thầy cúng ra giá 700 nghìn, các em còn cao hứng thưởng thêm thầy 300 nghìn nữa cho tròn một triệu. Tôi ở xa về, nghĩ nước xa không cứu được lửa gần, trăm sự chăm nuôi cha già mẹ yếu đều trông nhờ cả vào mấy đứa em trai em gái, em dâu em rể ở quê nên chỉ biết im lặng, không nỡ lên tiếng làm mất lòng và tình cảm anh em. Thực bụng, tôi chỉ mong đám thầy cúng tào lao thiên đế trên đời này biến hết cho xã hội được trong lành.
Nói chuyện đâu xa. Ngay trong nhà tôi mới năm ngoái đây thôi, vợ tôi nghe lời mấy bà bạn hay đi lễ chùa với câu có thờ có thiêng có kiêng có lành nên hàng tháng cứ đến cữ ngày rằm mùng một lại đến một ngôi chùa ở gần nhà bỏ tiền vô mấy cái hòm công đức (một ngôi chùa nhỏ bé của phường nhưng có đến mấy cái hòm công đức) rồi đứng chắp tay nghe một ông thầy chùa tụng kinh gõ mõ. Đi được vài tháng chợt thấy ở mỗi hòm công đức đều có một nhà sư đứng cạnh nhìn lom lom và nhắc nhở những người đi lễ chùa đừng quên bỏ tiền vô đủ 5 hòm công đức đặt khắp các gian chùa, lại còn nói rõ là đừng cúng tiền lẻ loại mệnh giá một, hai nghìn đồng. Cúng tiền lẻ nhà chùa đếm mệt và không thiêng. Nhận thấy rõ cái bản chất lợi dụng đức tin vào nhà phật, lại thêm sự kinh doanh thần thánh sặc mùi tiền bạc của nhà chùa, vợ tôi lẳng lẽ chấm dứt sự đi lễ ngay sau đó.  
Than ôi là sự mê muội của những con người khôn ngoan. Và than ôi là sự thức tỉnh của những con người tưởng đã có lúc mê muội. Pho tượng phật to nhất miền Bắc xây 3 năm chưa xong đã đổ cũng là phải lắm. Hi vọng nó sẽ là một sự thức tỉnh cho những kẻ buôn thần bán thánh và thức tỉnh luôn cho cả những ai còn mê muội, gi gỉ gì gi cái gì cũng cúng.




7 tháng 7, 2015

Chuyện đi kiếm đứa con bây giờ mới kể


Hồi ở BĐ tôi chơi thân với một chú em đồng nghiệp kém tôi mấy tuổi. Chú em này lấy vợ đã gần chục năm mà không thấy con cái gì. Cả hai vợ chồng buồn lắm. Gì chẳng biết chứ mỗi lần đến nhà mà không được ngửi mùi nước đái con nít khai khai, không thấy đứa trẻ bò lổm ngổm với mũi thò lò chợt thấy căn nhà vắng lặng chi lạ. Đi khám bác sĩ tận Từ Dũ Sài Gòn thì BS nói là do chồng có tinh trùng bị loãng nên khó đậu thai trong lúc người vợ thì rất bình thường. BS khuyên người chồng phải lưu ý cải thiện ăn uống, nhất là những thứ ăn vào mà làm cho chim sung lên thì càng phải cố mà ăn cho nhiều vào.
Nóng lòng kiếm chút con nên ai bày kế gì hai vợ chồng, đặc biệt là cô vợ, cũng nghe theo. Hết lên mạng lùng sục đến sưu tầm các bài thuốc dân gian, bài nào cũng đem ra áp dụng hết. Đúng là có bệnh thì vái tứ phương.
Có đợt chị vợ nghe ai đó tư vấn nên đã mở chiến dịch nấu cho chồng thực đơn với chỉ một món giá đỗ xanh xào cật heo và trộn nhiều lá hẹ theo lí thuyết ăn gì bổ nấy, ăn cật hiển nhiên bổ… cật. Mỗi bữa một đĩa to tướng.  Anh chồng ăn mấy bữa đầu thấy ngon lắm, nghĩ thuốc mà thế này thì ăn cả đời cũng được. Nhưng sang đến ngày thứ ba thì thì phát ớn, ngày thứ 7 thì phát sợ, ngày thứ mười thì buồn nôn. Mỗi bữa dọn ra anh chồng còn không dám cả nhìn vô đĩa giá xào nhưng cô vợ vẫn kiên quyết bắt chồng ăn cho bằng hết. Tôi từng chứng kiến chuyện đó khi có lần cuối giờ làm việc anh ta lên phòng tôi nói chút nữa anh ghé nhà em xíu. Có sự cố gì vậy. Anh ta cười đau khổ: em nhờ anh giúp cho việc này. Tôi vừa ghé nhà thì vợ anh dọn cơm ra. Nhìn đĩa cật heo xào giá với lá hẹ bốc khói thơm phức, thấy thật hấp dẫn. Hắn với bình rượu thuốc rót ra li rồi mời tôi cùng dùng bữa. Trong lúc tôi ăn uống ngon lành thì hắn chống đũa nhìn. Rồi hắn kể cho tôi nghe hành trình khổ ải của chiến dịch cật heo xào giá đỗ mà vợ đang bắt hắn thực hiện.
Tôi nghe và vô cùng đồng cảm. Liền nói với cô vợ là nên chấm dứt vụ khủng bố cật heo giá đỗ để tôi tìm cho phương thuốc khác, bảo đảm hiệu nghiệm ngay. Chị vợ hỏi: phương gì thế bác. Cá ngựa, tôi bật mí. Cá ngựa ngâm rượu nguyên cặp đực cái sẽ cải thiện tình hình ngay. Ở vùng Sông Cầu Phú Yên cá ngựa nhiều cả sư đoàn. Mình đã ghé đó nhiều lần mình biết. Cá ngựa tươi, cá ngựa khô ngâm rượu uống vào sóng sánh lắm. Hai vợ chồng nghe tôi nói mắt sáng lên tràn trề hi vọng. 
Chủ nhật đó tôi rủ một ông bạn nữa có ô tô, ba anh em chạy thẳng hơn 40 km vô hướng Sông Cầu tỉnh Phú Yên, nơi được mệnh danh là mười lăm cây số sung sướng. Gọi vậy bởi nơi đây có cung đường kéo dài suốt 15 km quốc lộ 1A là tụ điểm hành nghề của đám chị em ghẹ Sông Cầu 50 kí lô/con với đám xe tải đường dài xuyên Việt. Tôi biết được điều này nhờ đám phóng viên ma xó ở đài tôi.
Nhưng chúng tôi bỏ qua không màng đến cái đám ghẹ 50 kí ấy. Hãy dành món đặc sản ấy cho cánh xe tải đường dài. Mục tiêu của chúng tôi là những con cá ngựa bắt lên từ biển khơi.
Tấp xe vô một quán nhậu mát mẻ ven đầm. Đập vô mắt tôi là những thẩu rượu to như cột nhà ngâm đầy cá ngựa ánh màu vàng sóng sánh. Sau khi kêu mấy món nhậu hải sản với những tôm nướng, mực luộc, ghẹ hấp của làng biển Sông Cầu nổi tiếng, tôi nói qua tình hình đáng buồn của anh bạn với tay chủ quán người tròn xoe láng mượt như một giáo sư đại học; rồi hỏi luôn hắn về thực chất tác dụng và giá cả của con cá ngựa. Hắn ta nghe rồi hào hứng hẳn lên: vậy là các bác đến đúng địa chỉ rồi đấy. Quán em nổi tiếng về cung cấp cá ngựa cho cả nước này. Hôm qua có bác ở Sài Gòn còn ghé mua cả triệu đồng cá ngựa khô về làm quà biếu và ngâm rượu uống đấy. Nhưng em đặc biệt lưu ý các bác là với cá ngựa phải ngâm đúng căp vợ chồng đực cái mới có tác dụng. Vì con cá ngựa đực nó khỏe lắm, nó lẹo con cái vợ nó 24 trên 24 giờ nên khi nào bắt nó người ta cũng thấy cả cặp đang dính chặt vô nhau là vậy. Như nhà em đây phơi khô em cũng phải cột theo cặp nên ngâm dùng rất hiệu quả. Mình uống nó vô không được 24 trên 24 thì được 2 trên 24 cũng sướng chán. Chú em bạn tôi nghe nói mặt sướng rơn. Nghĩ đến tương lai gần mà thấy vô cùng xán lạn.



Ba anh em chúng tôi chơi hết nguyên chai nửa lít nước cốt rượu cá ngựa gọi là đặc biệt của lão chủ quán. Để chắc ăn, chú em còn ăn luôn cả một cặp cá ngựa nướng dù nhìn nó rất xương xẩu. Tay chủ quán chẳng mấy khi vớ được khách sộp còn biếu thêm cho chú một cặp cá ngựa khô bỏ vô cối đá nghiền thành bột trị giá 100 ngàn đồng. Đang cơn cao hứng, chú em dốc hết thứ bột khó nuốt ấy vô bụng luôn cho chắc ăn. Sẵn tiền chú mua luôn một bình 5 lít với giá hữu nghị 500 ngàn, lại còn mua thêm dự phòng 5 cặp vợ chồng cá ngựa sống còn dính chặt vô nhau bơi lội trong bể nước biển để về ngâm với rượu Bàu Đá thượng thặng.  
Phen này thì biết tay ông. Đừng nói chuyện cái ấy đặc với loãng nữa nhé. Chú em hào hứng lạc quan tuyên bố với cả bọn như vây.
Mọi chuyện rồi cứ thế trôi qua, tôi cũng quên khuấy đi. Hai tháng sau lúc tôi đang có chuyến công tác Hà Nội thì chú em điện thoại ra giọng như reo lên: Xong rồi anh ạ. Cái gì xong. Vụ cá ngựa ấy. Của em hết loãng rồi còn vợ em thì đậu thai rồi anh ạ. Một tháng rồi. Anh về nhậu ăn mừng nhé.
Rồi cô vợ chú em sanh hạ được một thằng con trai. Thằng bé khôi ngô được cha nó đặt tên là Hữu Ngọ với ý là để tri ân loài cá ngựa của biển khơi. Ai cũng mừng. Chú em bạn tôi thì cưng thằng bé hơn cả cưng trứng mỏng. Riêng tôi thấy rất tự hào vì đã chủ xướng bài thuốc cá ngựa Sông Cầu nguyên cặp mà làm nên chiến thắng này. Nghĩ bụng có dịp sẽ viết bài đem phổ biến trên mạng internet toàn cầu để mang lại hạnh phúc cho những cặp vợ chồng hiếm muộn trên cả thế giới.
Rồi có một sự cố. Đó là thằng bé Hữu Ngọ càng lớn thì càng không có nét gì giống chú em bạn tôi cả. Đến ba tuổi thì sự nghi ngờ càng hiện rõ. Chú em bí mật giấu vợ cắt tóc và móng tay của Hữu Ngọ đem vô Sài Gòn làm xét nghiệm ADN xem nó có phải là dòng giống của mình không. Kết quả: KHÔNG.
Một sự thực rất phũ phàng. Quá phũ phàng.
Anh chàng trở lại BĐ với nỗi buồn bất tận và cả sự căm hận ngút ngàn. Không ngờ cô vợ đầu gối tay ấp của mình lại phản bội mình để bây giờ phải nuôi con tu hú. Nhục quá thể. Chuyến này về phải làm cho ra nhẽ.
Tuy nhiên trước khi công bố kết quả xét nghiệm ADN nhằm lật mặt phản bội của người vợ, anh ta lại xin ý kiến tham mưu của tôi. Dù sao thì tôi học hành và tuổi tác, cả kinh nghiệm sống cũng nhiều hơn. Tôi đã nghe hết câu chuyện bất hạnh này.
Sau cơn thảng thốt và hụt hững, tôi cho anh chàng biết rằng: Theo một số liệu thống kê đáng tin cậy thì hiện giờ ở nước Anh có ít nhất 40% các ông chồng trong các gia đình đang nuôi con người khác mà không hề biết, cứ tưởng đó là máu thịt ruột rà của mình. Và tất cả họ đều đang sống hạnh phúc. Vậy bây giờ chú mày đang cần cái gì. Cần một gia đình yên ả bình lặng như bao gia đình khác hay làm cho tung tóe hết lên rồi đường ai nấy đi. Mà chú mày thì cả cái cơ quan to đùng đùng này, thậm chí cả cái thành phố tỉnh lẻ này ai chả biết là bị loãng cái vụ ấy. Có chị em nào dám đem thân mình cặp vô với chú nữa không. Chi bằng cứ giữ nguyên cái bí mật ấy. Cứ coi thằng Hữu Ngọ như là con ruột của mình. Đó mới là việc làm phúc đức của một thằng đàn ông chân chính. Khối người còn đi xin con rơi con rụng về nuôi nữa thì sao. Tao thề với chú mày là chuyện này chỉ có trời biết, đất biết, tao và chú mày biết.
Chú em đã nghe tôi dù trong sâu thẳm vẫn buồn vô tận.
Hơn hai mươi năm đã trôi qua. Bây giờ thì thằng Hữu Ngọ tốt nghiệp đại học đã đi làm và nghe đâu đã có bạn gái.
Câu chuyện vẫn được giữ trong bí mật.


6 tháng 7, 2015

Ám ảnh


                                                                                             Tản văn của A.Đa                       
                                       
          Tôi nhất trí cao rằng trong nhiều trường hợp, không nên so sánh. Bởi sự so sánh trong những hoàn cảnh ấy không mang lại vui vẻ gì, nó chạm vào nỗi đau thậm chí dẫn đến những tình huống không mong đợi. Mỗi thời đại đều có cách cảm, cách nghĩ, có lối sống riêng của mình, có những thước đo giá trị riêng của mình. Ví như so sánh thời này với thời trước, nhà mình với nhà khác, chồng mình với chồng người khác, con mình với con người khác...là những điều tuyệt đối không nên.
          Nhưng vẫn là sự ám ảnh bởi không dễ dàng gì mà người ta không so sánh, liên tưởng.
          Như vừa rồi đây, sinh nhật đứa cháu nội. Bố mẹ nó có công ăn việc làm, thu nhập ổn định. Lại là có đứa con trai đầu. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Khỏi phải nói sự hoành tráng đến đâu. (Ngày trước làm gì có tổ chức sinh nhật, có in thiệp mời sinh nhật, tân gia). Bạn bè, khách khứa đông như một đám cưới nhỏ. Đồ ăn, thức uống ngập bàn. Toàn đặc sản, cao lương mĩ vị. Thế mới biết bọn tư bản giàu có mà keo kiệt. Họ chỉ dọn món cho mọi người đủ ăn thôi. Còn ta phải ngập đầu ngập cổ, ngập chân răng, phải no xôi chán chè, phải ói ra rượu, đái ra bia mới đã, mới là hiếu khách. Vấn đề là ở chỗ ấy. Cái tâm lí nghèo khổ, sợ thiếu thốn đã ăn vào máu hàng nghìn đời. Chắc chỉ  trong văn học dân gian và văn học viết nước mình miếng ăn mới có mức độ đậm đặc hàng đầu; miếng ăn mới được đề cập nhiều đến như thế, nhục nhã, khốn nạn và tha hóa đến như thế.
          Trở lại bữa tiệc sinh nhật tiền triệu, mọi thứ thừa hơn một nửa. Thành viên trong gia đình không ai lấy làm tiếc. Tràn đầy gương mặt mọi người là những nụ cười thỏa thuê, mãn nguyện.
 Chỉ có ông nội đứa cháu đích tôn.
 Ông nghĩ, có dịp thuận lợi, ông sẽ kể lại cho con trai chuyện nhỏ sau đây. Rằng con ơi, con còn nhớ...
          Ngày ấy đã xa. Những năm cuối của thế kỉ trước. Chính xác là 1984. Khi ấy con vừa bốn tuổi, ở cùng cha mẹ khu tập thể cơ quan cách thành phố hơn ba ki lô mét. Những lúc rảnh rỗi, bố lại chở con về thăm ngoại trong phố. Bố còn nhớ như in khoảng gần bảy giờ tối hôm đó. Bố dắt xe đạp lên dốc Diệp Kính. Con lẽo đẽo đẩy sau pooc baga. Phố đã lên đèn. Và quan trọng hơn là mùi thơm của thức ăn từ các tiệm Mĩ Tâm và những quán khác bay ra ngào ngạt. Đúng là gần mũi xa mồm. Tới đỉnh dốc, con vượt lên, ngang hàng, ngước nhìn bố và ngập ngừng đề nghị: "Bố ơi, khi nào có tiền bố mua cho con một ổ bánh mì thịt, bố nhé". Bố khựng lại. Chân bỗng nặng như có đá đeo. Một nỗi buồn chua chát dâng ngang cổ. Thì từ trưa đến giờ bố con ta đều chưa có gì trong bụng. Nhưng trẻ con thì khác. Nó không phải người lớn, biết kìm chế, nín nhịn. Đành rồi! Trẻ con có nhu cầu tự nhiên và chính đáng là đói ăn khát uống. Mà thằng bé này đã ngập ngừng vì đói lắm, muốn lắm nhưng thừa biết bố nó không có tiền. Lúc dắt xe khỏi nhà, bố đã nói với nó chỉ sợ trời tối, nhỡ mà xe thủng xăm thì bố con mình chỉ có nước dắt bộ. Con ơi, con có biết chăng, năm ngoái năm kia thôi, bố đi học xa với những mùa đông tơi tả, rách bươm vì đói rét. Đi qua nhà dân, mùi cơm chín bay ngang mũi, bố đã thầm ước đến khi nào sẽ được ăn một bữa cơm trắng. (Vì ngày ấy thường trực là hơn hai phần ba bo bo, sắn lát, khoai lang khô trong bữa). Cũng vừa tháng trước thôi, ông nội già yếu lặn lội hàng ngàn cây số vào thăm con cháu. Bố mua mấy chai bia. Ông nội xua xua tay: "Thích lắm! Nhưng cứ để tôi uống rượu trắng. Mấy ngày anh chị cho uống bia, mai kia về quê, nhỡ nghiện thì chết"...
          Sực tỉnh, bố đã hứa với con: dứt khoát chiều mai con sẽ được ăn bánh mì. Hứa xong đâm hoảng vì chẳng có cơ sở nào đảm bảo cho lời hứa. Nhưng cùng tắc biến, biến tắc thông con ạ. Trưa hôm sau bố đã gom được mớ giấy báo cũ đem ra bán cho mấy bà hàng khô ở chợ Mới. Mặt đỏ bừng xấu hổ vì sĩ diện, lén lút như thằng ăn trộm. Nhưng quan trọng, lời hứa đã được hoàn thành...
          Ông không hình dung nổi, nếu con trai nghe chuyện, sinh nhật đứa cháu năm sau sẽ như thế nào?
                                                                   PK 3/7/15
                                                                       A.Đ
         
       

Chỗ dựa


                                                                                          Tản văn của Chử Anh Đào

          Bắt đầu là từ cái sự mạnh- yếu. Những người yếu, ngoài khả năng tự lập tự cường thì trong nhiều trường hợp cần tìm một chỗ tin cậy, chắc chắn đặng nương nhờ cả phần xác lẫn phần hồn để sống.
          Tôi đã thấy những trường hợp như thế. Điều bất ngờ là:về hình thức thoáng qua thì tưởng chừng như ngược lại.
          Một cụ ông đã tới tuổi bát tuần, mười hai con cả trai lẫn gái, cháu ngoại đã hơn hai chục đứa. Ngoài miệng, như hầu hết mọi người, "con nào chẳng là con, cháu nào chẳng là cháu". Thậm chí "cháu ngoại là chắc ăn nhất, tin tưởng nhất". Nhưng từ sâu thẳm, tiếng gọi "nội ơi" của đứa cháu trai đích tôn đang ở cõi xa xăm nào vẫn là mũi dùi nung đỏ trong lòng ông bao năm tháng. Bằng chứng là khi cụ ngã bệnh, bị ung thư vòm họng thì cũng là lúc ước mong ấy đã thành hiện thực. Cụ nằm liệt giường. Biết ý cha, cậu con đã để ngay tấm hình thằng cu một tháng tuổi cạnh đầu giường, đúng tầm nhìn của người bệnh. Bức chân dung tỏa ngát thơm mùi thịt da con trẻ, lung linh tỏa sáng. Cụ như được phục sinh. Ăn uống vui vẻ. Da dẻ hồng hào trở lại.Niềm hân hoan thay chỗ cho những cơn đau đớn mòn đêm bởi bệnh tật dày vò. Đứa cháu đã nối dài tuổi thọ cho cụ được gần hai năm. Trước khi trút hơi thở cuối cùng, người nhà thấy cụ như cố rướn về phía trước, bàn tay người ốm còn cách bức hình gần một gang. Trên đôi môi khô nẻ vương vấn một nụ cười mãn nguyện. Rõ ràng, đứa trẻ là chỗ dựa cho ông cụ!
          Và kìa, một cháu gái khác tóc tết hai đuôi sam có cặp nơ bướm hồng rung rinh chực bay lên theo nhịp bước, váy biếc tím hoa cà đang được bà cụ dắt sang đường hay ngược lại? Họ tay trong tay, nồng ấm và tin tưởng nhau tuyệt đối. Tôi đồ rằng chính đứa cháu gái mới là chỗ dựa, nâng bước bà cụ già trong những ngày tháng cuối cùng trên đường đời gập ghềnh, ngắn ngủi.
          Người thương binh khiếm thị trong căn nhà lượp tượp, tăm tối. Nhưng chính anh là nguồn sáng trong đời cho người vợ đã bao năm tháng mòn mỏi chờ chồng bước tiếp cuộc sống no đói có nhau trong luồng sáng ấy.
          Một cậu con trai bảy tuổi chưa từng biết mặt cha, bị tai nạn cụt cả hai chân. Nhưng đôi nạng gỗ của cậu là chỗ dựa cho cuộc trường chinh ve chai mưa nắng không mệt mỏi và ngơi nghỉ của người mẹ trẻ khó nghèo.
          Một sếp, khi đương chức đương quyền, ít thèm chào ai, chơi thân với ai. Ai chào, mặt cứ vác lên tận mái ngói. Ngẩn ngơ khi trở về... vườn thì chẳng ma nào chào, chẳng ma nào chơi. Đến con vật nuôi trung tín trong nhà, mỗi lần ông chủ nhậu "chui" về, đáng lẽ phải im lặng thì nó lại sủa nhặng xị cả lên. Chỉ có một nhân viên cũ từng bị ông kỉ luật trong cơn hồ đồ nóng giận là thi thoảng đến thăm. Thật là "bởi lòng quân tử khác lòng người ta". Xét thấy cần phải đặt lại tên cho nhân viên trong đám chúng sinh bần hàn và cao thượng này là "Chỗ Dựa"
          Một ông chủ doanh nghiệp, khi đang làm ăn phát tài phát lộc thì dập dìu ngựa ngựa xe xe, dập dìu kẻ đưa người đón, khách sạn nhà hàng ngút trời, "trăm nghìn đổ một trận cười như không". Đến khi sảy chân, thất cơ lỡ vận thì chỉ có một anh bạn học cùng cấp I, giờ là nghệ sĩ nghèo, chân thành săn sóc và chia sẻ. Ông chủ xưa chợt nhận ra rằng: chính anh mới là người bạn, là chỗ dựa tốt nhất của mình trong cơ trời dâu bể...
          Suy rộng ra, trời đất cũng vậy. Một nắm đất, một viên đá nhỏ là chỗ dựa cho dãy Trường Sơn hùng vĩ. Một giọt nước trong khe suối ở làng Sơ Ró, Kơ Roong, Kon BLah xa xôi nào là chỗ dựa cho cả biển Đông sâu thẳm. Vì thử hỏi, nếu không có những thứ nhỏ nhoi ấy thì liệu có được núi cao, biển rộng, sông dài hay không?
                                                                             PK.1/7/15
                                                                                 C.A.Đ