25 tháng 6, 2019

Chuyện tôi đi coi thi THPT quốc gia


Bằng giờ năm ngoái tôi làm việc ở ĐHHS và được cử đi coi thi THPT quốc gia 2018 cùng với 120 GV, NV của trường. Có lẽ trần đời của một GV, đi coi thi THPT QG là một công việc đày ải theo đúng nghĩa của nó.
Đúng 5AM xe xuất phát từ CS 8 Nguyễn Văn Tráng Q1. Nhà cách trường cả chục km nên 4h đã phải thức dậy, làm các thủ tục vệ sinh cá nhân xong 4h30 phi lên trường, vừa bước lên là xe chạy.
Điểm thi của ĐHHS là Trường THPT Phạm Văn Sáng tít trên Xuân Thới Thượng Hóc Môn, cách Q1 vài chục km. Xe chạy cả tiếng mới tới nơi. Ngồi trên xe tôi tranh thủ lấy cái bánh càng cua mua từ chiều hôm trước ra gặm để lấy sức làm việc.
Mỗi hội đồng thi ở TP. HCM có ít nhất 20 phòng thi, mỗi phòng gồm 24 thí sinh. Lãnh đạo hội đồng thi đã rất sáng suốt khi xếp mỗi phòng thi (buổi nào cũng vậy) gồm 1 giám thị là GV phổ thông, 1 giám thị là GV đại học. Nói sáng suốt bởi suốt 4 ngày coi thi tôi thấy các thầy cô là GV phổ thông rất thạo việc. Hầu như họ làm hết mọi việc của cả phần tôi một cách rất nhiệt tình và tự giác, tôi chỉ việc đứng tựa cửa ngắm nhìn cô giáo giám thị 2 tác nghiệp và các thí sinh làm bài.
Điều tôi sợ nhất khi coi thi là kí nhầm chỗ vào tờ giấy thi của thí sinh bởi trên đó có rất nhiều ô dành cho các loại CB coi thi, chấm thi... kí. Nếu lỡ mà tôi kí vô chỗ dành cho cán bộ chấm thi thứ nhất/thứ 2 là đủ để kỉ luật cảnh cáo rồi. Mà chuyện này thì ngu ngơ như tôi là rất dễ phạm lỗi.
Sau khi hoàn tất chuyện kí tá, tôi về cái ghế dành cho giám thị 1 trên bàn GV ngồi, tranh thủ ngắm phong cảnh Hóc Môn qua khung cửa kính. Cô giám thị 2 cũng có một cái ghế ở cuối phòng thi. Dù ngồi trên nhưng chả mấy khi tôi nhìn thấy thí sinh giơ tay xin thêm giấy thi, trong lúc cô GV PT ngồi dưới lại phát hiện rất nhanh và phục vụ thí sinh rất kịp thời. Tôi phục lăn các đồng nghiệp GV PT, không có họ thì tôi gay to, khó mà hoàn thành nhiệm vụ.
Ngồi buồn, thỉnh thoảng tôi bước xuống mượn cái đề thi của thí sinh liếc qua. Sao mà nó dài và khó và phức tạp thế. Với 6 môn thi, may ra có môn văn, môn sử và GDCD là tôi làm được, còn các môn khác tôi đọc xong đề mà rùng cả mình. Mỗi đề thi trắc nghiệm gồm 60 câu dài kín 2 mặt giấy A4, câu nào cũng như đánh đố với 6 đáp án, biết chọn cái nào để khoanh tròn. Thế mà các em Hs 12 làm cứ nhoay nhoáy. Điều đó cũng khiến tôi phục lăn.
Ví dụ 1 câu trong môn GDCD lớp 8: Vì sao Luật hôn nhân và GĐ quy định nam đủ 20 tuổi, nữ đủ 18 tuổi mới được kết hôn. Trong lúc nam hay nữ thì đến 18t là cũng đều đủ quyền công dân như nhau nhưng tại sao bọn con trai phải thêm 2 năm nữa mới được lấy vợ trong lúc bọn con gái có thể lấy chồng ngay từ năm 18t. Chỉ có thể giải thích là do bọn con trai ngu hơn con gái nên buộc phải lấy vợ khi đủ 20t. Nếu cùng tuổi, bọn con gái đã dư sức làm chị, thậm chí làm mẹ, làm cả bà nội bọn con trai nên luật HN và GĐ phải quy định như thế. Chả biết tôi trả lời thế có đúng không.
Học hành thế có họa là ngang với đánh đố. May mà tôi đã thành giám thị rồi chứ mà còn làm thí sinh như các em HS 12 ngày nay thì tôi thi trượt THPT là cái chắc.
Sau mỗi buổi thi, có một điều sợ hãi nữa là các bài thi và tờ giấy thi của thí sinh có đầy đủ không. Chứ nó thi 1 tờ mà mình ghi lên 2 tờ là toi. Ngược lại cũng toi luôn. Chỉ đến khi thư kí dán niêm phong bì đựng bài thi, lập biên bản nhận bài thi xong, cả 2 giám thị và thư kí cùng kí tên lên tờ giấy mỏng niêm phong túi đựng bài thi mới thấy nhẹ cả người. Mỗi ngày coi thi được Bộ GD và ĐT bồi dưỡng 120k, trường ĐHHS cho thêm ngần ấy nữa là 240k mà trách nhiệm thì to như núi và độ nguy hiểm thì lớn như phải lặn xuống đáy đại dương. Ngán.
Buổi trưa thi xong, các thí sinh được cha mẹ đem xe hơi, xe máy rước về nhà ăn nghỉ, giám thị chúng tôi làm suất cơm hộp qua loa rồi kiếm cái ghế bỏ đi đâu đấy dọc hành lang ngả lưng nằm lấy sức chiều coi thi tiếp. Nhìn cứ như là dân tị nạn.
Sau một ngày coi thi, tối về nhà nằm ngủ lăn như chết rồi. Phải thức dậy từ 4h sáng, người tôi cứ bã cả ra.
Hết đợt coi thi như vừa thoát ra khỏi một trận đánh mà nguy cơ dính kỉ luật lúc nào cũng treo lơ lửng trên đầu.
Năm nay thoát vụ coi thi ngồi nhà viết tút đăng FB. Sướng.


                                            Giờ nghỉ trưa của CB coi thi.



23 tháng 6, 2019

Nhớ quán ăn Quê Hương


Hồi còn ở Quy Nhơn, Bình Định, hễ có nhu cầu ăn một bữa cơm thực sự đúng nghĩa cơm Việt, nhất là những khi tiếp đãi bạn bè và khách khứa là tôi lại đến quán ăn Quê Hương số nhà 185 đường Lê Hồng Phong.
Quán nằm ở trung tâm thành phố, cách nhiệm sở của tôi chỉ hơn trăm mét.
Nằm ở mặt tiền lại có cấu trúc theo kiểu nhà hình ống nhưng quán Quê Hương vẫn đủ thoáng mát và rộng rãi. Vào các buổi trưa, nếu dẫn khách khứa hoặc bạn bè đến đây, tôi vẫn thường gặp đủ cánh bá quan văn võ từ các sở ban ngành của BĐ.
Đến Quê Hương ngay khi vừa bước lên lầu, bạn sẽ gặp anh chàng quản lí tuổi còn trẻ lùn tịt trắng trẻo trơn tru như cục bột nặn nhưng tác phong lễ phép, điềm đạm như một ông cụ non cúi chào với trang phục thường xuyên sơ mi trắng, gi lê đen và mái tóc xịt gôm chải chuốt bóng lộn.
Tôi sẽ khó mà nói hết những món ăn hợp khẩu vị của quán Quê Hương bởi ở đây món nào cũng ngon, cũng hợp khẩu vị, cũng đều là đặc trưng của món ăn Việt nhưng giá cả lại rất phải chăng. Vì thế mà quán luôn đông khách.
Từ món bê thui chấm tương chao đến món dồi trường chấm mắm nêm… khai vị với vài li bia trước khi ăn; từ cơm gà luộc, gà rán, gà kho sả ớt, gà xé phay, thịt heo luộc… đến cá lóc, cá bống, cá rô kho tộ; món nào cũng đậm đà đến nhức nhối cả chân răng.
Một trong những đặc điểm của Quê Hương là vô đây bạn sẽ tha hồ thưởng thức đủ các loại mắm: Mắm nêm, mắm tép, mắm tôm, mắm thu (làm bằng cá thu), mắm nhỉ, mắm ruột (làm bằng ruột cá ngừ dùng để chấm cà)… Dù trong mâm có đông người đến đâu thì mỗi thực khách vẫn được nhà hàng dọn riêng cho một comple mắm như nhau. Tha hồ mà chấm và tha hồ mà nêm nếm. Thiệt đúng là kính thưa các loại mắm.
Nhưng điều mà tôi thích nhất ở Quê Hương là các món rau. Rau muống xào tỏi, rau bí xào tỏi, bông lí cũng xào tỏi và nhớ nhất là món rau lang luộc chấm mắm cua (cua đồng, quê tôi gọi là đam). Cái món ăn dân dã của con nhà nghèo đồng quê thời đói khổ ai ngờ nay lại thành như đặc sản của Quê Hương. Bạn hãy gắp một đũa rau lang xanh giòn, chấm ngập trong chén mắm cua nóng hổi và thơm nức mùi lúa mới, đi với một chén cơm bốc khói. Không ngon mới lạ. Thậm chí khi đang cơn đói, bạn chỉ cần chan vài muỗng mắm cua với chén cơm nóng, cũng đã thấy quá ngon rồi. Có lần tôi tiếp mấy bạn đồng nghiệp ở Gia Lai xuống, các bạn bảo lần sau vô đây chỉ cần kêu cơm nóng với rau lang chấm mắm cua là đủ.
Nhưng ở quán Quê Hương có một món khác còn hấp dẫn trên cả rau lang chấm mắm cua. Ấy là món canh rau tập tàng. Thành ngữ Việt Nam có câu: Rau tập tàng thì ngon, con tập tàng thì khôn. Con tập tàng là những đứa trẻ sinh ra mà không xác định được bố nó là ai. Đó là một đứa con hoang. Đứa con hoang sinh ra trong sự ghẻ lạnh của người đời nên nó ý thức được sự thua thiệt của mình và luôn tìm cách chống chọi để vươn lên trong cuộc sống. Vì thế mà nó khôn. Rau tập tàng là một mớ rau thập cẩm gồm tất cả các loại rau trồng và cả rau dại. Từ bầu bí, dền, muống, mồng tơi, rau má, rau ngót…cho đến lá ớt, lá cà chua, lá tàu bay tập hợp lại trong một nồi canh gọi là canh rau tập tàng. Ở quán Quê Hương, canh rau tập tàng thường được nấu với thịt nạc bằm hoặc tôm tươi lột vỏ. Ăn nguyên một chén canh rau tập tàng ngọt lừ lại có mùi thơm thơm, hăng hắc rất khó xác định là của loại rau gì, bạn sẽ không thể không hỏi về nghĩa của từ tập tàng và công thức nấu món canh tưởng như đơn giản mà rất phức tạp này. Có lần vợ chồng tôi mời vợ chồng một ông bạn từ Sài Gòn ra với món canh rau tập tàng của Quê Hương, chị vợ dân Sài Gòn rất ngạc nhiên về độ ngon ngọt và mùi thơm đặc trưng của nó đã tìm hiểu kĩ về cách nấu. Mấy ngày sau từ Sài Gòn chị gọi điện ra cho biết là đã đi chợ mua đủ các loại rau và nấu y chang sự hướng dẫn của quán Quê Hương nhưng sao ăn không thấy ngon như ở Bình Định.
Thế đấy. Nếu ai cũng nấu ăn ngon như nhà hàng thì nhà hàng dẹp tiệm hết à.

Kính thưa các loại mắm ở quán ăn Quê hương 2 LHP. 

                       Nhờ ghé Quê Hương nhiều nên nay vẫn chém gió tốt


21 tháng 6, 2019

Ngày cuối cùng ở đài BTV


Năm 2010, sau 22 năm làm việc ở Đài PTTH Bình Định, tôi nộp đơn xin nghỉ hưu trước tuổi. Tôi sinh 1954, đúng ra thì phải làm việc 5 năm nữa mới đủ tuổi nghỉ hưu vào năm 2015. Tuy nhiên, vợ con đã vào hết Sài Gòn, căn nhà Qui Nhơn đã bán, căn nhà Sài Gòn cũng đã mua, công việc làm mới trong SG cũng đã xin được, chả có lí do gì để tôi ở lại Qui Nhơn nữa.
Thấy tôi nộp đơn xin nghỉ hưu sớm, nhiều người ngạc nhiên, nhất là những đồng nghiệp cùng cơ quan. Họ nghĩ tại sao tôi lại xin nghỉ việc sớm thế, trong lúc cái ghế tôi đang ngồi dù là rất bé bỏng chắc chỉ ngang với chức tiểu đội trưởng trong quân đội cũng đang là niềm mơ ước của không ít người.
TP. Quy Nhơn nhỏ như cái móng tay, chuyện gì xảy ra ở đâu mọi người cũng biết. Đó là đặc điểm của dân tỉnh lẻ. Huống chi tôi, sống ở Qui Nhơn 31 năm (từ 1979 đến 2010) lại làm 2 công việc mà nhiều người biết là giảng dạy ở khoa văn ĐHSP Qui Nhơn và Đài Truyền hình Qui Nhơn, nên đi đâu gặp ai cũng hỏi: Nghe nói ông xin nghỉ việc à. Dù tôi đã trả lời giải thích cặn kẽ là nghỉ vì như thế… như thế… nhưng không ít người vẫn tỏ ra nghi hoặc: hay là cha này bất mãn vì làm TP hơn 20 năm mà không được lên chức. Hơn 20 năm ngồi nguyên ở một cái ghế, làm nguyên một công việc có lẽ cả tỉnh BĐ chỉ có mỗi tôi. Nhưng nói thực đó là công việc mà tôi rất lấy làm thích thú và có nhiều hưng phấn. Bất mãn, không là cái chắc. Mà bất mãn vì cái gì chứ, trong lúc cái công việc mà tôi đảm nhiệm khá tròn vai đã mang lại cho tôi nhiều thứ cả vật chất lẫn tinh thần.
Chỉ có một lí do duy nhất là tôi muốn vô Sài Gòn, nơi tôi đã có một thời được sống thời trai trẻ và rất muốn sống cuối đời ở đó. Chỉ có vào SG tôi mới được trở lại với nghề dạy học.
Tôi gửi đơn xin nghỉ việc từ tháng 2/2010. Nghỉ theo chế độ của Nghị định 132 của CP. Nghỉ theo chế độ này nghĩa là chấp nhận mình không đủ điều kiện về năng lực và sức khỏe để làm việc, phải tự nhận có 2 năm không hoàn thành nhiệm vụ mặc dù lương hưu vẫn đủ % như khi nghỉ tròn 60 tuổi, lại được thêm 100 triệu đồng trợ cấp nghỉ hưu sớm mà nếu đủ 60 tuổi mới nghỉ thì không có khoản phụ cấp này. Khi đó tôi đã là BTV chính bậc 7. Có làm thêm 5 năm nữa thì lương tôi vẫn thế. Nghỉ cho khỏe.
Cứ tưởng xin làm mới khó, xin nghỉ thì dễ, ai dè cũng khó quá trời. Giám đốc Đài thấy tôi đưa đơn thì thông cảm mà kí ngay vì anh ta quá hiểu hoàn cảnh và ý thích của tôi. Nhưng trên UBND tỉnh và Sở Nội vụ thì không dễ vì họ quá biết tôi. Ai chứ tay Sơn này mà nói sức khỏe yếu và trình độ làm việc kém thì ai tin được... Tuy nhiên tôi quen với 1 sếp cao nhất UBND tỉnh và đã nhờ giúp đỡ. Cuối cùng có cái hẹn hẹn sẽ có quyết định và tiền trợ cấp vào tháng 12/2010.
Nhưng tôi không đủ kiên nhẫn đợi đến hết tháng 12 vì từ 1/7, trường ĐHVH đã có quyết định tiếp nhận tôi vào làm việc. Tôi lại nói với giám đốc đài xin nghỉ trước 6 tháng, tưởng sẽ nghỉ không lương GĐ vẫn để tôi được hưởng lương đến ngày có sổ hiu. Anh bạn GĐ này phải nói là rất tử tế với tôi chứ mà gặp thằng bụng dạ hẹp hòi thì tôi đã nghỉ theo chế độ không lương rồi. Vậy là 6 tháng cuối năm 2010, hàng tháng tôi ăn lương 2 nơi, một ở SG và một ở QN. Tuy nhiên chuyện này chỉ có tôi, giám đốc, TP Tổ chức và TP Kế toán - Tài chính biết, cả cơ quan, cả mấy chục nhân viên phòng tôi đều không biết.
Tháng 6/2010 có 30 ngày. Tôi quyết định rời Đài BTV, chia tay đất Quy Nhơn - Bình Định vào ngày 29 bằng ô tô vì có nhiều đồ đạc lỉnh kỉnh không đi máy bay được. Một ông bạn là chủ một doanh nghiệp taxi (taxi Hương Trà) biết tôi chuyển hẳn vô Sài Gòn đã làm một bữa liên hoan chia tay và cho tôi một chuyến xe 4 chỗ với lời tuyên bố hào hiệp: Ông muốn đi mấy ngày cũng được. Ai nói mấy ông doanh nghiệp chỉ biết có tiền.
Đúng 5h chiều 28/6, tôi gọi người phó của mình, một cô học trò khoa văn cũ sang phòng làm việc của tôi và nói: Dù tháng 12 mới có quyết định nhưng hôm nay là ngày làm việc cuối cùng của thầy ở Đài, thầy giao lại cho em chìa khóa và căn phòng làm việc với nguyên vẹn trang thiết bị. Kể từ ngày mai em thay thầy quản lí phòng. Tôi cũng yêu cầu cô không nói chuyện này cho ai biết cho đến khi tôi rời hẳn khỏi Đài. Tính tôi không thích ồn ào.
Rồi tôi tắt hết thiết bị điện, nhẹ nhàng khép cánh của phòng lại ra về cứ như là ngày mai tôi sẽ có chuyến công tác như thường lệ đi đâu đó chứ không phải là chuyển hẳn vào Sài Gòn.
Hai ngày 29 và 30/6/2010, tôi một mình với anh tài xế vi vu trên cung đường Qui Nhơn - Sài Gòn. Trên đường đi tôi ghé Tuy Hòa, Nha Trang chào các bạn đồng nghiệp; ghé nhà bạn học Lê Trọng Minh ở Ninh Chữ ăn hải sản, tắm biển và ngủ lại một đêm ở đó. Sáng hôm sau chở luôn cả hai bố con Lê Trọng Minh vào Sài Gòn thi đại học. 5 giờ chiều 30/6 tôi đã hội ngộ với vợ con ở Sài Gòn, để lại sau lưng 31 năm sống và lập nghiệp tại Quy  Nhơn – Bình Định.
Sáng 1/7/2010, đúng 8h, tôi bước vào Trường ĐHVH nhận nhiệm vụ.
Từ đó cho đến nay, 9 năm đã trôi qua, tôi nghỉ hưu mà cứ như chưa nghỉ hưu, vẫn miệt mài làm việc và đi dạy ở một số trường đại học bạn, không chỉ ở Sài Gòn mà cả ở miền Đông và Tây Nguyên.
Có lẽ rồi tôi sẽ phải xin nghỉ đi làm hẳn, nghỉ hưu lần thứ hai, vì nhiều lúc đã thấy mệt mỏi, nhất là trong người lại mang căn bệnh đường huyết cao khá nguy hiểm. 9 năm bươn chải sống ở Sài Gòn có thể đã quá đủ cho ước muốn được sống và làm việc ở thành phố mà tôi đã có rất nhiều kỉ niệm thời trai trẻ vào năm 1975. 

P/S: Ngày 30/12/2010, tôi trở lại Bình Định 3 ngày để nhận quyết định chính thức nghỉ hưu theo chế độ 132. Đến lúc đó Đài PTTH và Phòng BTCT cũng như bạn bè thân thiết ở Qui Nhơn mới mở tiệc chia tay dù tôi đã thực sự chia tay từ trước đó 6 tháng.






21 tháng 5, 2019

Điều bí mật ở căn phòng khách sạn VIP


Buổi tối thứ 7 sau khi đã nhậu một chầu hải sản ngon nhức nhối tại nhà anh Mậu Đàn ở Long Hải, chúng tôi gồm 3 thằng Quang Ngọc, Ngọ và Sơn cùng anh Mậu Đàn lên xe sang Vũng Tàu để ngủ ở KS mang tên Summer Hotel của anh. Những lần xuống chơi trước thường chúng tôi ngủ luôn ở nhà anh cho ấm cúng, nhưng lần này anh bảo sang VT ngủ cho nó sướng. 
Vậy là ấm cúng và sướng không đồng nghĩa với nhau. Ấm cúng thì không sướng, sướng khỏi ấm cúng. Một phát hiện mới. Thế mà xưa nay tôi cứ tưởng đã sướng là ấm cúng và ngược lại. Khộ.
Từ khu nghỉ mát Long Hải sang Vũng Tàu chỉ 10km. Tài xế Ngọc chưa nhấn hết chân ga đã tới.
Buổi tối Vũng tàu thật lộng lẫy, đúng là thành phố của sự ăn chơi. Quang Ngọc cầm lái cái Toyota Yaris mang biển số 37 của Lê Văn Ngọ lướt êm dọc theo con đường ven biển của Bãi Sau (Vũng Tàu có 3 bãi: Bãi Trước, Bãi Giữa và Bãi Sau, bãi nào cũng ăn chơi mút mùa lệ thủy như nhau).
Summer Hotel của anh Mậu Đàn nằm ở hẻm 45 đường Thùy Vân, một con đường dày đặc các KS lớn nhỏ. Đi với ông chủ KS là bạn học cùng lớp đh khiến chúng tôi cũng thấy mình oai như ổng. Lướt qua mấy cái KS, nhà nghỉ còn phòng, thấy mấy con mụ beo béo hoặc bọn cò lái vẫy tay mời vào ngủ, tôi nổi máu bảo Quang Ngọc mày dừng xe tao xuống cho bọn này bài học cho nó biết điều lễ nghĩa chút. Khinh người vừa thôi chứ. Chúng nó mù hay sao mà không biết ông chủ Summer Hotel đang ngồi chễm chệ trên xe đây à. Bọn tao mà phải ngủ nhờ ở cái thứ KS của chúng mày à.
Anh Đàn phải giơ tay can mãi chứ không thì tôi đã nhảy xuống xắn tay áo cho chúng nó mấy chưởng rồi. Không gì mình cũng mấy năm ăn cơm lính trinh sát C20. Phải thể hiện cho chúng nó biết điều chứ.
Đến nơi cất xe vào hầm xong mấy cháu lễ tân đã mời ông chủ Mậu Đàn và khách qúy uống li trà nóng. Thứ 7 chủ nhật, Vũng Tàu là nơi dân SG và Tây Nguyên kéo xuống đốt tiền nên các KS lớn nhỏ đều kín phòng. Cháu lễ tân lễ phép báo cáo anh Đàn là hết phòng rồi chú. Tôi hơi lo lo nhưng nhìn sang thấy anh Mậu Đàn mỉm cười nên yên tâm trở lại. Không lẽ…
Hết 2 ấm trà thì cháu lễ tân mời các chú lên phòng. Nó dẫn vô thang máy bấm số 8. Bước ra khỏi thang máy đập vào mắt tôi là tấm biển đồng vàng chóe đề chữ VIP trước một phòng hướng ra phía biển. Nó bảo, cháu chỉ còn mỗi phòng này, các chú nghỉ tạm, nói xong chữ nghỉ tạm thấy con bé nhếch mép cười bí hiểm. Cánh cửa phòng số 801 mở ra rồi nó lại quay ngay vào thang máy.
Ôi trời, cả đời tôi chưa bao giờ ngủ ở một căn phòng KS sang như thế. Rộng mênh mông như một căn hộ 3 buồng với 2 phòng ngủ to. Có 3 cái giường lớn, có cả phòng khách, phòng bếp, bàn ăn, quầy bar… wiew thì cực đẹp, nhà tắm thì to như một cái phòng ngủ.
Ngọ hỏi anh Mậu Đàn như phòng này giá bao nhiêu. Anh Đàn chỉ cười cười không nói gì. Tế nhị thế chứ. Nếu ảnh nói cái giá ra có khi bọn tôi lại băn khoăn khó ngủ.
Tắm táp xong chúng tôi ra biển đi dạo trên mép nước chán chê rồi về ngủ. Tôi với Quang Ngọc mỗi thằng một giường đặt lưng xuống là ngáy ngay. Anh Đàn với Ngọ ngủ chung một giường nhưng hai cha nội không hề ngủ mà suốt đêm nằm rì rầm bàn chuyện họp lớp 12A K2 vào cuối tháng 7 sắp tới. Tôi cũng kịp nghe lỏm được một vài điều bí mật của 2 lão chung quanh vụ họp lớp này nhưng không tiện nói ra đây.
Lúc này tôi bỗng thấy ngủ phòng VIP không chỉ sướng mà cũng ấm cúng chán.









10 tháng 5, 2019

Có cả một ngày hội như thế cơ đấy


Ngày tôi còn học ở khoa văn đã được thầy dạy môn Hán – Nôm giảng cho nghe một câu rất nổi tiếng của người xưa “Vạn ban giai hạ phẩm, Duy hữu độc thư cao”. Câu đó có nghĩa là mọi nghề trên đời đều thuộc loại hèn kém, chỉ có việc đọc sách là cao quí. 
Chưa nói đến chuyện đúng sai của quan niệm đầy tính cực đoan trên nhưng một thực tế đã diễn ra từ thời phong kiến là trong xã hội, tầng lớp trí thức luôn được trọng vọng và sách với những người đọc sách luôn được coi trọng.
Ở Việt Nam ta, ngày 23/4 hàng năm được Chính phủ quyết định lấy làm Ngày Sách và Bản quyền, mục đích là khuyến khích đọc sách in (tức là sách hiểu theo nghĩa truyền thống), cả trên thế giới và cả Việt Nam. 
Vấn đề là tại sao lại có thêm một ngày như thế. 
Khi người ta nói nhiều về một điều gì đó có nghĩa là điều đó đang bị thiếu .
Theo logic ấy, có nghĩa là thói quen đọc sách của người Việt Nam ta đang thay đổi theo hướng sách đang bị bỏ quên và nhiều thứ khác đang lên ngôi, như tivi tinh thể lỏng, điện thoại thông minh, máy tính, mạng internet toàn cầu, đặc biệt với giới trẻ học sinh, sinh viên là Facebook, Zalo, Ola… Thậm chí có những bạn trẻ một năm không đọc nổi một cuốn sách cho ra hồn nhưng một giờ bạn đó không thể không truy cập vào trang facebook cá nhân hoặc chát Zalo với ai đó. Truy cập để xem dòng trạng thái mình mới đưa lên FB có bao nhiêu like, bao nhiêu còm… 
Có lần khi đang ở phòng chờ sân bay Tân Sơn Nhất, tôi đã đi một vòng khắp phòng chờ với lượng hành khách đang chờ bay lên đến cả ngàn người, thì thấy có hàng mấy trăm người đang chúi mũi vào điện thoại thông minh, chỉ có năm người đang cầm trên tay cuốn sách và đọc. Năm người đó là hành khách người ngoại quốc.
Tháng 3 năm nay, tôi vào giảng dạy môn văn học Trung quốc cho một lớp sinh viên khoa Ngữ văn năm thứ hai của một trường đại học, khi giảng đến tác phẩm Tây du kí của Ngô Thừa Ân, tôi hỏi cả lớp: Ai đã đọc tác phẩm này giơ tay. Không có một cánh tay nào giơ lên. Hỏi tiếp: Ai đã xem phim Tây du kí giơ tay. Tất cả đều giơ tay. Thậm chí có sinh viên giơ cả hai tay nghĩa là đã xem đến hai lần.
Đó là một thực tế đáng buồn, thậm chí là rất đáng thất vọng.
Chúng ta sẽ ra sao và sẽ đi về đâu khi ngay cả sinh viên khoa văn cũng không đọc sách, thậm chí là không đọc tác phẩm, không đọc cả giáo trình ngữ văn.
Chúng ta sẽ làm gì khi cả xã hội đang thờ ơ với sách.
Trong lúc từ bao đời nay, sách là người bạn tâm tình của ta, hơn thế sách còn là thầy của ta. 
Hãy quay lại với những cuốn sách bởi ở đó ta luôn có cả thế giới.



Mất công biên cái bài dài hơi này cốt khoe cái hình lên chém gió phần phật sáng nay. 

6 tháng 5, 2019

Đi tư vấn tuyển sinh xin đừng nổ, học sinh bây ghê gớm lắm


Nhớ dịp này năm ngoái khi còn làm ở trường đại học H tôi cùng một nhóm GV-NV của HS đến tư vấn tuyển sinh – hướng nghiệp tại trường Thủ Khoa Huân một trường THCS, THPT tư thục nằm trên đường Trường Chinh quận Tân Bình.
Sáng đầu tuần, thầy hiệu trưởng đi vắng, cô Hiệu phó tiếp chúng tôi khá thân tình, cô còn vui vẻ chỉ chỗ cho treo dán các tờ áp phích thông tin tuyển sinh của trường chúng tôi lên bảng tin. Rồi cô cho tập hợp toàn bộ học sinh lớp 12 để nghe chúng tôi tư vấn, trong đó chủ yếu giới thiệu về những ngành đào tạo của trường.
Các em HS 12 của TKH ngồi ngay ngắn và rất chú ý lắng nghe. Người lên tư vấn cho các em là TS. Th, một cô giáo đã lớn tuổi, GV khoa QTKD. Khi nói về việc chọn ngành nghề để theo học, cô cho biết về kinh nghiệm của bản thân: Trước khi đến với nghề dạy học ở khoa QTKD cô đã làm việc ở một doanh nghiệp lớn trong vai trò là một TGĐ. v.v.
Khi cô ngừng lời và đề nghị HS phát biểu, một em HS nữ ngồi phía cuối giơ tay:
Thưa cô vì sao cô đã từng là TGĐ một doanh nghiệp lớn mà cô lại chuyển sang nghề dạy học ạ.
Đó là một câu hỏi hay và hóc búa của HS dành cho cô giáo tư vấn. Chính tôi cũng đang muốn hỏi cô giáo điều đó. Vì nghe nó lạ đời quá. Xưa nay chỉ có các GV, các nhà chuyên môn giỏi được các doanh nghiệp mời về làm quản lí và khi đã ở vị trí TGĐ một doanh nghiệp lớn thì lương có thể từ 50 đến cả trăm triệu một tháng trong lúc làm nghề GV may lắm 20tr/tháng.
Cô giáo trả lời: Vì cô thích nghề dạy học.
Em học sinh chưa chịu. Hỏi tiếp: Thế tại sao ngay từ đầu cô không chọn nghề dạy học ạ.
Phần trả lời tiếp theo của cô giáo dài dòng lòng vòng và nhất là có vẻ không chân thật khiến tôi cũng không nghe được. Trong thâm tâm, tôi không bao giờ tin TS. Th, GV trường mình đã từng là TGĐ của một doanh nghiệp lớn. Có thể là cô đã nổ lên như thế để câu chuyện trở nên hấp dẫn nhưng không ngờ lại bị hiệu ứng ngược. Học sinh bây giờ ghê gớm lắm, đừng có mà coi thường các em.
Kinh nghiệm của tôi qua nhiều lần đi tư vấn tuyển sinh hướng nghiệp là phải chân thành với học sinh may ra mới thuyết phục được các em. Và tôi đã có nhiều kỉ niệm vừa hay vừa vui với học trò qua những chuyến đi tư vấn đến các trường THPT trên địa bàn TP, có hứng sẽ kể vài mẩu nghe cho vui.


Một nhóm học sinh lớp 12 tôi đã gặp gỡ và trò chuyện về chọn nghề chọn ngành trong chuyến đi tư vấn ở Thủ Dầu Một, 3/2019.

Chuyện chú bé ngồi gác chân lên ghế


Đó là cậu bé có dáng người nhỏ con nhất lớp nhưng lại ngồi một mình một bàn ở cuối lớp trong lúc các bàn khác đều có hai người ngồi.
Ngồi một mình cũng được, ngồi cuối lớp cũng chẳng sao. Cái không bình thường và nhìn rất chướng mắt là lúc nào cũng thấy cậu bé bắc cái chân phải lên ghế kiểu đầu gối quá tai nhất là khi cái đầu cậu bé luôn cúi xuống mặt bàn để ghi chép những điều thầy giảng vào vở. Nói chướng mắt thôi chứ tôi không bực, không ghét bỏ gì cậu bé bởi đi dạy nhiều năm với đủ các loại học trò, tôi đã gần như miễn dịch với những điều không bình thường từ phía người học.
Nhớ có lần vào một lớp năm 3, từ trên bục nhìn xuống tôi thấy một cô sinh viên diện quần short jean loại bạc phếch lại rách te tua duỗi nguyên cặp giò trắng bóc dài miên man gác lên cả hàng ghế phía trước. Lệ ở trường đại học này sinh viên được phép làm những gì nhà trường không cấm kể cả mặc áo hai dây và quần short lên lớp. Dù không thích tôi cũng không thể tỏ thái độ được.
Nhờ thế mà tôi ngày càng miễn dịch và càng có tuổi tôi càng thấy mình dễ tính. Chứ như hồi mới ra trường chắc tôi không để yên, thế nào cũng xỉa xói vài câu về phép lịch sự tối thiểu nơi giảng đường rồi đến đâu thì đến.
Nhưng đó là ở trường đại học nơi mà mỗi sinh viên đều đã đủ tuổi công dân, họ được toàn quyền chịu trách nhiệm về mọi hành vi của họ miễn không vi phạm nội quy nhà trường và pháp luật nhà nước. Còn đây là lớp học ở trường phổ thông, một cậu bé mặc đồng phục của trường khi ngồi học không thể bắc chân lên ghế. Cậu bé như một búp măng cần phải được uốn nắn để luôn mọc thẳng. Đó là trách nhiệm của tôi và của nhà trường. Đó cũng là mong muốn của phụ huynh khi gửi con đến trường nhập học.
Nghĩ nếu cứ thế này mãi đời cậu bé sẽ khổ vì cái thói quen mang đậm chất miệt vườn gây chướng mắt mọi người ấy tôi tìm cách tạo ra cơ hội để sửa sai cho cậu bé. Cơ hội rồi cũng đến. Khi nói về tính cách các nhân vật văn học nói riêng và tính cách con người nói chung trong cuộc sống, tôi đã dẫn chứng và phân tích để các em thấy là nhiều khi chỉ qua một biểu hiện rất nhỏ của một người chúng ta cũng có thể hiểu được toàn bộ tính cách của người đó. Chẳng hạn khi xem phim trên tivi, nếu các em thấy có một nhận vật nhà quê kiểu hai lúa ít học, thiếu hiểu biết về phép lịch sự tối thiểu thì khi hành động đạo diễn thường để họ ngồi gác chân lên ghế ngay cả khi đang ngồi trong một phòng khách sang trọng với bộ xa lông rất đẹp.  
Vừa nghe đến đó tôi để ý thấy cậu bé ngồi cuối lớp đã hạ ngay cái chân phải đang bắc lên ghế xuống. Đồng thời cả lớp cũng ngoái lại nhìn xuống cậu.
Một chút bối rối đến với cậu bé nhưng tôi làm bộ tỉnh bơ như không thấy gì nói tiếp: Vì thế trong cuộc sống, chúng ta nên cố gắng rèn luyện để tạo nên những thói quen đẹp mắt, từ đó sẽ có một tính cách đẹp.
Chuông báo hết tiết. Cả lớp đứng dậy chào thầy rồi túa ra hành lang. Tôi cũng xách ba lô ra khỏi lớp. Ở phía dưới cậu học trò nhỏ con không ra chơi mà vẫn ngồi nguyên chỗ cũ, đầu cậu bé vẫn cúi xuống tập vở đang để mở. Tôi thấy mừng và nhẹ cả người vì đã không có cái chân nào bắc lên ghế.




19 tháng 4, 2019

Trời. Chu Văn Sơn đã đi rồi


Vào một buổi tối, tôi đang lướt mạng đọc linh tinh bỗng thấy có tin nhắn qua facebook của Chu Văn Sơn. Sơn gửi cho tôi một bức kí họa anh vẽ về một cây bàng đã trút sạch lá, hỏi tôi: Anh HTS có biết cây bàng này em vẽ ở đâu không. Tôi đoán ra ngay: Ở góc nhà trống khu tu viện, từ trên lầu 3 nhìn xuống. Chu Sơn bác tài thế, đã mấy chục năm rồi… 
Đó là buổi tối ngày 18/11/2018. Khi chúng tôi ở hai đầu đất nước.
Rồi hai anh em nói chuyện qua lại với nhau về những kỉ niệm ngày chúng tôi còn dạy ở khoa văn ĐHSP Quy Nhơn những năm đầu 1980. Tôi ở Vinh vô, Chu Sơn ở Hà Nội vào. 
Năm 1985 khi vợ tôi sắp sinh con gái đầu thì Chu Sơn có chuyến đi Hà Nội. Vợ tôi gửi mua mấy thứ lặt vặt nhưng tính Sơn chu đáo nên khi về mua còn nhiều hơn cả những thứ đã gửi: Khăn tắm, xà phòng giặt, xà phòng thơm... do Hà Nội sản xuất. Những nhu yếu phẩm hiếm hoi thời bao cấp. Đến nay mỗi khi nhắc đến Chu Sơn vợ tôi vẫn kể lại chuyện đó. 
Khi đã mỗi người một nơi, Sơn ra Hà Nội, tôi vô Sài Gòn, có cơ hội chúng tôi vẫn gặp nhau. Có lần Sơn và Vân Anh cùng vào Sài Gòn dự hội thảo về Văn chương Tự lực văn đoàn, nghe Sơn gọi, tôi và Nguyễn Ngọc Quận cùng chạy xuống một nhà hàng nằm trên đường Nguyễn Trãi quận 5 gặp hai vợ chồng bạn. Chúng tôi đã có một chiều ăn cơm mới nói chuyện cũ và chuyện đời, chuyện nhân tình thế thái.
Sơn dặn khi nào ra Hà Nội, em sẽ đưa anh lên cái trang trại của em chơi, tha hồ uống rượu và nói chuyện văn chương.
Lời hẹn đó chưa thành hiện thực. 
Rồi Sơn đau bệnh hiểm nghèo, nằm viện cả năm nay. Hầu như bạn bè văn chương với nhau những ngày này mỗi lần gặp nhau đều thăm hỏi về bịnh tình và nhắc đến Chu Văn Sơn. Thương Chu Sơn thế. 
Hôm kia tôi ngồi café với Trần Kỳ Trung từ Hội An vô. Trung kể mới ra Hà Nội thăm Chu Văn Sơn. Sơn đang nằm thiêm thiếp trên giường bệnh thế mà khi thấy Trần Kỳ Trung bước vào, như có một sự hồi dương, Chu Sơn bỗng nhận ra Trần Kỳ Trung và kêu to lên: Kỳ Trung. Rồi Sơn nằm vật ra.
Chiều nay bỗng đọc tin Chu Văn Sơn đã ra đi qua dòng thông báo ngắn của Phạm Xuân Nguyên trên facebook:
Nguyen Pham Xuan cùng với Chu Văn Sơn
52 phút •
TIN BUỒN
Nhà giáo, tiến sĩ văn học Chu Văn Sơn, giảng viên khoa Ngữ Văn, Đại học Sư phạm Hà Nội, đã qua đời lúc 13h40, ngày 18/4/2019, tại Bệnh viện E (Hà Nội), hưởng dương 58 tuổi.
Tang lễ sẽ được thông báo sau.
Đọc xong chỉ biết buông ra một tiếng Trời.
Cầu mong bạn ra đi thanh thản. Chu Sơn ơi.





Trái qua: HTS và Nguyễn Ngọc Quận với vợ chồng Chu Sơn - Vân Anh tại nhà hàng Thanh Trà, Nguyễn Trãi, Q.5. Ngày 25/10/2012.


10 tháng 4, 2019

Trở về từ mặt trận


(Hồi kí viết tiếp)

Nguyễn Trung Ngọc

Năm 1975. Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, kết thúc cuộc chiến dai dẳng giữa hai miền Nam Bắc. Tuyến đường sắt Bắc – Nam nhanh chóng được khôi phục. Những đoàn tàu dài dặc và những đoàn xe quân sự chở đầy ắp bộ đội Giải phóng chạy ngược chiều đi chiến trường năm xưa, ngày nào cũng đầy đường hướng ra phía Bắc. Bạn bè tôi từ mặt trận phía Nam mang những chiếc ba lô to kềnh còn nặng hơn cả thời ra trận. Phía trên chiếc ba lô con cóc nằm ngang một chiếc khung xe đạp lại còn thêm một con búp bê to như em bé thật, có đôi mắt nhấp nháy được mang từ Sài Gòn ra để làm quà cho gia đình. Dọc các tuyến đường sắt, bộ... không khí “ngày trở về” làm rộn rã cả những làng quê, phường phố.
Mùa thu 1975, hầu hết lính sinh viên chúng tôi được Bộ quốc phòng trả về cho các Trường đại học. Hăng hái ngày ra đi nay náo nức trở về từ các mặt trận chúng tôi gặp nhau vui mừng khôn xiết. Dĩ nhiên không thể tránh được những giọt nước mắt rơi xuống. “Chiến tranh đâu phải trò đùa”. Tôi sợ nhất phải trả lời một ai đó chuyện người thân của họ mà mình cũng biết ít nhiều về trường hợp hi sinh. Buồn cho mấy đứa bọn tôi NTN, Hà Tùng Sơn, Nguyễn phong Nam, Nguyễn Hữu Nhia, Nguyễn Minh Khâm, Nguyễn Minh Chính, Lê Sơn, Hoàng Mạnh Truật, Nguyễn Quang Ánh...trở về trường thì cũng đúng lúc khoá 12 của chúng tôi tốt nghiệp ra trường, không còn bóng dáng một bạn cũ nào ở lại nên không có những cái bắt tay, những cái ôm chặt khi gặp nhau sau ba năm chia xa. Nhưng cũng may là như vậy khỏi phải nhìn thấy những giọt nước mắt của bọn con gái sinh viên rơi xuống khi chúng sẽ hỏi vì sao chưa thấy Ngôn, chưa thấy Hiếu...trở về. Cô bạn gái khá thân Lê Khắc Chân Như của tôi mà còn ở đây, đôi mắt đẹp vốn đượm buồn ấy không thấy anh trai mình trở lại thì tránh sao được sẽ nhoà trong nước mắt. Anh Như là Lê Khắc Duy, sinh viên năm thứ 3 cùng nhập ngũ với chúng tôi đã nằm lại chiến trường xa như một ngôi sao xa rụng xuống.
Tôi trở lại trường từ mặt trận phía Tây nên không có con búp bê và cái khung xe đạp như mấy thằng bạn cùng đợt nhập ngũ Hà Tùng Sơn, Lê Quang Phương, Nguyễn Quang Ánh...mà thay vào đó là một thùng lương khô to tướng nằm ngất nghểu trên ba lô do Quân nhu phát cho khi nhận quyết định ra quân. Tôi đi thẳng một mạch từ biên giới phía Tây về Vinh trong niềm hân hoan khôn tả. Ngày đi náo nức chừng nào thì ngày về rạo rực chừng đó. Bỏ bút cầm súng đúng 3 năm 3 tháng nay lại bỏ súng để trở về cầm bút! Trong đầu tôi hiện lên hình ảnh những cô sinh viên “trẻ măng” khoá 15 sẽ học cùng mình trong những năm tháng tới, tự nhiên tim đập rộn ràng...
Anh bộ đội với bộ quân phục đã bạc, rộng thùng thình bỡ ngỡ khoác ba lô vào trường. (Bọn con gái trong lớp sau này cứ bảo chúng tôi: Các anh mặc quần đũng què). Đó là một vùng đất cát còn bề bộn sau chiến tranh chưa được khoả lấp hết. Những hố bom vẫn còn dấu vết trên mặt đất khá rõ tuy cỏ đã mọc đầy. Dựng lên trên bãi cát pha kề con đường Bắc – Nam xe vẫn lại qua là những cái lán bằng tranh tre san sát, hồi đó người ta vẫn quen gọi là “lán” hơn là “kí túc xá” sinh viên.
Tôi hỏi tìm vào lán sinh viên nam lớp 15AK2 để gặp Khâm bạn cùng lớp 12A nhập ngũ với tôi một ngày nhưng về trước cả tháng nay đã yên vị ở năm thứ 2 để lo chuyện học hành. Việc đầu tiên tôi làm là mở chiếc thùng lương khô đang “nguyên đai” ra chiêu đãi Khâm và tất cả nam sinh trong phòng. Hết đến nửa thùng vì số sinh viên rất đông. Ngay sau đó, dẫn tôi ra bể tắm, thằng bạn đồng ngũ một thời cười nói nhỏ với tôi: “ Chốc nữa mi cất liền thùng lương khô chỗ kín. Về đây mà “thả ga” như thế không giữ nỗi một ngày đâu nhé!” Tôi học được bài học đầu tiên từ “người đi trước” về cuộc sống khu sinh viên những năm cùng kiệt.
Sáng hôm sau, tôi mang hồ sơ lên phòng tổ chức để làm thủ tục về trường thì được ông trưởng phòng Trần Lê Xuân đón tiếp thật niềm nở và giải thích một cách từ tốn, rõ ràng rằng: “Năm thứ 2 (khoá 15) đã vào học quá lâu, anh theo khoá ấy sẽ bị hổng kiến thức. Kể từ hôm nay những người về sau như anh sẽ ở lại năm thứ nhất. Ở lại chứ không phải là lưu ban. Điểm học năm thứ nhất của các anh đã có, sẽ được bảo lưu. Anh vào danh sách khoá 16 là để chờ sang năm học tiếp chương trình từ năm thứ 2 với họ. Anh về đó sinh hoạt bình thường, có thể học dự thính nhưng không phải thi. Bây giờ chỉ còn cách như thế, anh thông cảm với nhà trường”.
Tôi có bị hẫng một chút nhưng rồi cũng nhanh chóng bình tâm lại, nhận giấy giới thiệu từ phòng tổ chức và theo hướng dẫn của họ sang văn phòng Đảng uỷ chuyển sinh hoạt Đảng rồi xuống khoa nhận phân công về lớp. Cầm túi hồ sơ Đảng trong tay tôi thấy bùi ngùi một chút: Mới hôm trước ở đơn vị khi có thông báo trả hết sinh viên nhập ngũ về trường đại học, anh chính trị viên tiểu đoàn gặp tôi:
- Đồng chí thông cảm! Trường hợp đồng chí có vướng mắc một chút. Vì định cử đồng chí đi học sĩ quan nên hồ sơ đã gửi ra trường lục quân hơn tháng trước. Nay nếu đồng chí ra quân, hồ sơ Đảng viên dự bị của đồng chí chúng tôi chưa lấy lại được sẽ khó khăn cho đồng chí khi chuyển chính thức. Hay là đồng chí ở lại đi, quân đội vẫn cần những người như đồng chí phục vụ lâu dài!
Tôi lặng người vì ngán ngẩm. Nếu khoảng vài năm trước có thể tôi đã đồng ý ở lại quân đội vì sợ mất đảng viên. Nhưng lúc này thì khác, tôi suy nghĩ một chút rồi nói rất dứt khoát:
- Báo cáo Chính trị viên! Được ra quân để trở về trường học tiếp theo chủ trương của nhà nước là nguyện vọng của tôi. Tôi không có lỗi gì trong vấn đề hồ sơ kết nạp đảng. Xin phép đơn vị cho tôi được ra quân. Nhược bằng hồ sơ của tôi bị thất lạc, tôi không chuyển chính thức được thì cũng xin cho tôi được về trường.
Nghe tôi nói vậy, ông thủ trưởng tiểu đoàn không thuyết phục nữa mà ôn tồn nói:
-Thôi thì thế này, chúng tôi cứ trao quyết định ra quân cho đồng chí để đồng chí xuất ngũ. Còn hồ sơ kết nạp đảng coi như đơn vị nợ đồng chí. Đồng chí cứ yên tâm về trường rồi chúng tôi sẽ gửi về sau. Được không?
- Vâng! Nhờ thủ trưởng quan tâm.
Nói rồi như sợ người ta lại thay đổi ý kiến, tôi vội cầm quyết định giơ tay chào theo điều lệnh và chạy một mạch về đại đội để chuẩn bị những việc còn lại.
Bây giờ nghĩ lại mới thấy tôi đã có “dớp” xa đảng ngay từ khi chưa thành đảng viên chính thức.
Khi xuống văn phòng khoa, gặp lại nhiều thấy cô cũ tôi có cảm giác như mình trở về nhà sau nhiều năm xa cách. Hôm ấy hình như khoa có cuộc họp gì nên tôi gặp lại các thầy cô rất đông. Thầy Nguyễn Khắc Phi còn nhớ tôi rất rõ. Trước khi nhập ngũ tôi là cán sự môn Văn học Trung Quốc của Thầy ở lớp 12A. (Hồi đó có chức danh “cán sự bộ môn” khá gần gũi với các thầy trực tiếp giảng dạy). Các thầy lớn tuổi như Lê Bá Hán, Nguyễn Nguyên Trứ, Tưởng Đăng Trữ, Nguyễn Trung Hiếu, Đậu Văn Ngọ, Nguyễn Duy Bình, Phan Thiều...bắt tay và hỏi chuyện anh sinh viên cũ đi bộ đội trở về rất thân tình làm tôi càng thấy yêu khoa yêu trường hơn. Đợi giãn chuyện, Thầy Phi kéo tôi vào cái phòng nhỏ của BCN khoa, gọi luôn trợ lí tổ chức khoa (hình như là anh Hoàng Tiến Phào thì phải) vào bảo: Anh xếp anh Ngọc vào lớp Trung văn và bố trí làm lớp phó học tập lớp đó. Thầy Phi lúc đó đang làm Phó chủ nhiệm khoa, trực tiếp phụ trách công tác này.
Có lẽ lại là một định mệnh. Ở lớp 16D tôi về có một cô sinh viên gầy nhỏ như mảnh trăng đầu tháng cũng mới từ Hà Nội chuyển vào. Cô đậu đi nước ngoài, là lưu học sinh đi Nga đang học tiếng ở Đại học Ngoại ngữ thì xin Bộ cho chuyển về Vinh vì “thích ĐHSP Vinh và muốn làm cô giáo”. Đáng lẽ cô phải vào lớp 16C học tiếng Nga thì đúng hơn, không hiểu sao khoa lại xếp về lớp tiếng Trung. Tôi đâu biết trước, cô sinh viên trẻ “lạc lớp” ấy rồi sẽ đi cùng tôi suốt cả cuộc đời.
Tôi về lớp gặp lớp trưởng là anh NQP. Đó là một cựu binh mới thi đỗ vào, đã có dăm tuổi đảng, anh lớn tuổi hơn chúng tôi nhiều và nhìn oai nghiêm như một ông đội thời cải cách, nói năng đầy lí luận và nhiều kinh nghiệm sống so với đám học sinh phổ thông lơ ngơ mới vào. Hồi ấy dĩ nhiên mấy học sinh phổ thông trúng tuyển có “mọc gạc” cũng khó vào vị trí đó. Lớp tôi có cả một “chi bộ lãnh đạo” mang từ tiền tuyến về, lập trường cao như núi Thái Sơn. Lũ Đoàn viên chỉ có đứng sau mà nhìn. Biết tôi là cựu sinh viên đi lính về, đã học xong năm thứ nhất, lại có mảnh giấy của khoa “đề bạt” làm lớp phó học tập nên lớp trưởng NQP đã tiếp nhận tôi một cách nhẹ nhàng. Anh chỉ cười cười khiêm tốn: “Bọn mình đi lính lâu, kiến thức quên hết rồi, kiểu này phải nhờ cựu sinh viên cũng nên”. Thời đó sinh viên đến trường là chỉ để đi học (không như bây giờ, chúng đến để làm đủ thứ trò hề gì đó) nên cái “ghế” lớp phó học tập xem ra cũng cao. Lúc bấy giờ các chức danh ban cán sự lớp năm thứ nhất đều do khoa cử. Từ năm 2 về sau, dưới “sự lãnh đạo của chi bộ”, đại hội lớp sẽ bầu lại.
Tôi tưởng mình rời quân ngũ đã thuộc diện chậm nhất, hoá ra mấy ngày sau thằng bạn cùng lớp khoá 12 với tôi là Hà Tùng Sơn đang làm ở Uỷ ban Quân quản Sài Gòn mang chiếc ba lô nặng trịch nằm vắt ngang chiếc khung xe đạp ở trên mới lò dò trở về. Hắn là cả một pho tiểu thuyết đầy chất anh hùng ca và lãng mạn do vừa tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng rồi trở thành cán bộ quân quản thành phố nắm trong tay cả một núi quyền lực của Bắc cộng để có thể hù doạ mấy chú Nguỵ quân thua trận. Như là có sự sắp đặt, chức Bí thư chi đoàn vẫn còn để trống chờ một anh đảng viên trẻ trở về từ mặt trận. Sơn vào vai Bí thư chi đoàn như “khoai đã sắp vào ấm”. Nhưng dù đầy tự tin của người lính đã qua trận mạc, hắn vẫn có chút bối rối khi khoa trao nhiệm vụ nên ghé tai tôi nói nhỏ: “Tao mới được vào đoàn trước vào đảng một ít thôi, bí thư bí thiếc gì!”. Tôi cười động viên: “Mấy ông Uỷ viên trung ương đầu tiên nói chung thì cũng vào Đảng mấy bữa là được bầu, được cử cả thôi”. Hắn có vẻ yên tâm với cương vị mới và bắt đầu lao vào công việc của một đảng viên đang phấn đấu để chuyển chính thức, nên chỉ khổ cho đám đoàn viên phải chạy theo cái “đầu tàu” đang kéo cả chi đoàn lướt qua mọi khó khăn để xứng đáng với “cánh tay phải của đảng”. Chi đoàn 16D với sự dẫn dắt của một đảng viên trẻ tuổi đảng nhất (Sơn vừa vào đảng xong), gì chứ “khí thế Hồng vệ binh” thì chắc chắn có thừa!
Ít hôm sau nữa, một bạn thân cùng lớp 12 khác của tôi là Nguyễn Phong Nam cũng từ chiến trường C (Lào) trở về mà phải khó khăn lắm mới được lớp trưởng cho vào. Hồi ấy đảng viên làm cán bộ nhiều quyền lắm.Tôi chờ Nam lên trường làm thủ tục nhập học xong xuôi, hai thằng hí hửng xuống khoa để xin về cùng lớp. Đang là “phó thủ trưởng” của lớp 16D, tôi chắc mẩm thế nào cũng đưa được hắn về bên nhau sau hơn ba năm cầm súng ra trận. Có gì đâu, phân một sinh viên – chiến binh, lại là đảng viên nữa về lớp nào mà chẳng được! Vậy mà, dù đã có chiếc “phiếu về lớp” của khoa, Nam vẫn bị lớp trưởng 16D từ chối vì cho rằng: “Lớp này đông rồi, anh bảo khoa phân sang lớp khác!”. Tôi phải đem hết tài “thuyết khách” hiếm hoi có được ra dụ mãi, thậm chí phải thề nguyền tôi mới xin được cho Nam về lớp: Nào là tay này từng học với tôi tôi rất biết, hắn học khá đã đành lại rất giỏi văn nghệ; Nào là Nam còn có tài tổ chức; Nào là lớp ta lại thêm được một đảng viên...Nguyễn Phong Nam thì chỉ nói tưng tửng: “Mày cứ kệ đi, học ở lớp nào mà chẳng được”.
Thế là cuối cùng ba thằng bạn cũ chơi với nhau từ lớp 12A chúng tôi đã về bên nhau thành một “tổ ba người” trong học tập, mà trong chiến trận phải một đứa một nơi, suốt cả mấy năm nhập ngũ biền biệt phương trời...
(Còn tiếp)


8 tháng 4, 2019

Bình dân và quý tộc có khi chỉ là một


Hồi nẳm tôi có dịp sang Hong Kong, đi dạo trên những con đường rợp mát bóng cây với những cánh hoa màu hồng nở rực rỡ, nghe anh chàng HDV giới thiệu hoa này ở HK gọi là hoa Tử kinh và được chính quyền HK tôn làm quốc hoa vì sức sống mãnh liệt và vẻ đẹp hồn nhiên của nó.
Tôi ngắm kĩ thì ra nó chính là loài hoa mà ở miền Nam VN người dân vẫn gọi bằng một cái tên rất dân dã là hoa móng bò. Vì cái lá của nó có hình cái móng con bò nên gọi là móng bò. Đó là một cái tên tượng hình, giản dị và dễ hiểu cứ như xà phòng thì gọi là bột giặt, mì chính gọi là bột ngọt. Hoa móng bò mọc khắp mọi con đường ở Sài Gòn và khắp mọi con đường quê Nam Bộ. Thế mà dân Hong Kong cứ vênh mặt lên tự hào với cái tên nghe rất quý tộc là hoa tử kinh. Vì là quốc hoa, tử kinh có mặt trên quốc kỳ Hong Kong. Người Nam Bộ theo đó cũng lấy làm tự hào vì loài hoa dân dã của xứ mình lại được dân xứ Cảng thơm tôn sùng.
Điều đó khiến tôi có chút ngạc nhiên.
Nhưng chưa hết, ở vùng Tây Bắc nước ta có loài hoa gọi là hoa ban trông y hệt hoa móng bò/tử kinh. Người Tây Bắc nói chung và Điện Biên Phủ nói riêng cũng rất tự hào về hoa ban. Chính quyền nơi đây còn tổ chức hẳn cả một lễ hội hoa ban và xem nó như một đặc sản của núi rừng Tây Bắc.
Tò mò tôi xem kĩ từ hoa đến lá đến cây thì hoa ban chính là tên gọi khác của hoa móng bò, cũng là hoa tử kinh. Vậy là một loài hoa có 3 tên gọi. Nghe tử kinh thấy sang trọng, nghe hoa ban có vẻ quý phái, nhưng móng bò lại rất bình dân. Nghe nói bên xứ Mông Cổ còn gọi là hoa móng lừa vì lá của nó cũng là hình móng con lừa quen thuộc của họ. Bốn cái tên thực ra đều dùng để gọi một loài hoa. Vậy mà cứ ầm ĩ cả lên.
Ở quê tôi có một loại cây dây leo mọc khắp mọi lối mòn và cả trong rừng gọi là cây ngấy. Cây có gai, lá bứt về phơi khô nấu nước uống thơm nức và chữa được nhiều bệnh như tiểu đường, huyết áp cao. Tôi và lũ trẻ con hồi nhỏ đi sơ tán lại rất thích quả của nó khi chín đỏ hái ăn rất ngọt và ngon. Mặc cho gai cào xước chân tay mặt mũi vẫn vươn hái hết trái chín bỏ vô mồm ăn đến đâu tỉnh táo đến đó. Cái bụng đói luôn sôi sùng sục thì ăn gì mà chả ngon. Quả của nó mọng nước, đầy đặn như một mâm xôi tí hon. Vì thế mà có nơi còn gọi cây ngấy quê tôi là cây mâm xôi. Cũng là một cái tên tượng hình. Từ cây ngấy đến cây mâm xôi là cả một bước tiến dài từ bình dân đến sang trọng.
Thế nhưng cũng từ hồi trẻ con, tôi hay đọc mấy cái truyện ngắn và tiểu thuyết của Liên Xô kiểu như Thép đã tôi thế đấy, Cánh buồm đỏ thắm, Người thầy đẩu tiên… thì thấy các nhà văn Nga hay nhắc đến một loại cây có cái tên rất sang là phúc bồn tử. Sau này tìm hiểu ra thì nó chính là cây ngấy, cây mâm xôi ở VN. Thế mà khi chưa biết cứ nghĩ là quý tộc thượng lưu lắm.
Chưa hết, ở Sài Gòn và cả miền Nam nước ta, đi đâu cũng gặp loài hoa mọc từ cây thân gỗ rất cao to là muồng hoàng yến. Hoa nở vàng rực thắp sáng lung linh mọi con đường thành phố, thắp sáng cả những góc vườn thôn quê Nam Bộ. Nhưng nó là loại hoa có rất nhiều tên gọi khác nhau, trong đó có cái tên nghe rất Nhật Bản là Ôxaka. Trong lúc ở Lào lại gọi là đọc Khun hoặc gọi ngắn lại là hoa Khun. Còn ở Thái Lan gọi nó là hoa đoọc khun (hai chữ o) và tôn sùng làm quốc hoa. Hôm mới rồi ra Vinh, thấy lão Trung Ngọc Nguyễn đang chăm bẵm một cây đoọc khun mới mọc được gang tay ai đó đem đến cho. Nhìn lão nâng như nâng trứng cái cây quốc hoa Thái Lan bé xíu, tôi bảo ông vô Sài Gòn tôi cho hẳn một xe tải mang về trồng khắp trường ĐH Vinh. Hắn nhìn tôi nghi hoặc. Không lẽ cây hoa quý hóa sang trọng của mình lại là loài hoa bình dân nở khắp trời Sài Gòn.
Thế đấy. Ở đời có khi quý tộc thượng lưu và bình dân giản dị chỉ là một.

Hoa Tử kinh/Móng bò/Hoa Ban

 Ngấy/Mâm xôi/Phúc bồn tử

Muồng hoàng yến/Ô Xa ka/ Đoọc khun/Khun...,


12 tháng 3, 2019

Tạm biệt Hương Sơn

(Tiếp Phần cuối "căn phòng nhỏ nơi Trường Huyện")

Nguyễn Trung Ngọc

Năm tháng đi nhanh. Một năm chờ đợi kết thúc. Tôi được trường gửi ra Hà Nội theo học chuyên ban Triết học ở trường NAQ5. Nghĩa là một mình Nga ở lại trường cấp 3 Hương Sơn vừa đi dạy vừa nuôi con. Chúng tôi biền biệt xa nhau, không còn những chiều thứ bảy người vợ trẻ bế con ra cổng trường chờ bố nữa. Chỉ những dịp nghỉ tết, nghỉ hè hoặc đôi khi nhớ vợ con quá tôi mới về lại Hương Sơn được ít ngày để tận hưởng cái ấm cúng của cuộc sống gia đình trong căn phòng nhỏ vách đất đã trở nên quen thuộc. Những chuyến về quê hồi ấy là cả một hành trình sánh với ngày nay đi tận cùng đất nước. Từ trường – một địa điểm sơ tán thời chiến tranh còn lại ở phía tây Thủ đô (Phụng Châu, Hoài Đức, Hà Nội) – tôi phải đi bộ ba cây số để ra đường 6 nêm vào chiếc xe buýt chạy về trung tâm Hà Nội rồi chờ đợi ê ẩm và tìm hết mọi cách để len được vào tàu tìm lấy một chỗ ngồi, theo con tàu ì ạch có khi phải hai ngày mới về tới Vinh. Lại phải gần cả ngày đạp chiếc xe mượn được người quen ở Vinh mới về tận Sơn Bằng, nơi có trường cấp 3 Hương Sơn thời bấy giờ (vì còn phải chờ qua hai bến phà – Bến Thuỷ và linh Cảm). Hồi ấy hầu hết phải đạp xe trên đường đất, chỉ có đoạn từ Vinh về Bãi Vọt (TX Hồng Lĩnh sau này) là đường nhựa mà thôi. Những ai sống vào thời kì này, từng đi trên những chuyến tàu chợ Hà Nội –Vinh (nhất là dịp lễ, tết) chắc chưa hết kinh hoàng về cảnh đi tàu có một không hai trên thế giới này. Có những chuyến, con tàu trông giống như xác một con thằn lằn bị kiến – là những hành khách đi tàu – bu kín cả nóc, cả bậc lên xuống, cả cửa sổ…bò trên đường sắt. Lịch sử không biết còn có khi nào lặp lại?
Tháng 6 Năm 1981, đúng dịp nghỉ hè, khi tôi đang ở Hà Nội, cũng tại ngôi nhà của ông bà nằm trên dải đất của dãy Trường Sơn Hùng vĩ, đứa con thứ hai của vợ chồng tôi ra đời. Đó là cái năm đất nước lâm vào thời kì khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng, thời kì chúng tôi phải gồng mình trong cơn ác mộng khiến tôi đã phải mở đầu một bài thơ viết cho con:
“Bố biết con sinh thời chưa có bình yên,
Dù giấc ngủ trong nôi không còn mê thấy súng”

Con sinh ra khi chị nó còn chưa đầy hai tuổi, bố đi học xa, mẹ chỉ vừa 24. Không có nghị lực của thế hệ tôi thời đó, chắc gì vợ chồng tôi đã vượt qua để có được ngày hôm nay! (Mấy năm sống ở Hà Nội không ít đêm tôi đã thức trắng, trằn trọc, giằng xé với ý định bỏ học về với vợ con đang sống ở trường cấp 3 Hương Sơn heo hút). Nhưng con tôi đã lớn lên, đẹp như một thằng bé trong tranh. Thật lạ kì, mẹ chưa nổi bốn mươi cân mà con trai rất khoẻ mạnh, lớn nhanh như Phù Đổng. Mới một tháng mười ngày tuổi nó đã nặng tới 8,6 cân, da dẻ mịn màng như một đứa con Tây. Nga viết thư kể với tôi rằng, khi đưa thằng bé ra trường, học sinh ào vô khu tập thể để xem và bàn tán: Cô Nga có đứa con trai giống như con Liên Xô! Tôi sướng như được vàng và bao hi vọng cứ theo năm tháng lớn lên…
Còn nhớ, ngày con trai tôi ra đời, khi ấy tôi còn ở Phụng Châu (Hà Nội), đúng lúc học viên kéo nhau xuống nhà bếp ăn cơm chiều thì tôi nhận được bức điện tín từ Hương Sơn gửi ra. Hồi hộp bóc phong bì và liếc vội dòng chữ của bưu điện, tôi nhảy cẫng và hét toáng lên giữa nhà ăn, quên mất ở đó còn nhiều người lạ nữa:
- Tôi có con trai rồi! Tôi có con trai rồi!
Mấy bạn học cùng tổ xúm lại. Nguyễn Hữu Nhia, bạn học cùng lớp hồi đại học, giảng viên của trường Cao đẳng sư phạm Nghĩa Bình, nay cũng ra học Triết ở đây giật lấy bức điện trong tay tôi để chia vui. Đọc đi đọc lại mấy lần rồi hắn lắc đầu:
- Ông nói thế nào, nội dung bức điện thế này mà bảo con trai sao?
Cả bọn cùng chụm vào nhìn dòng chữ trên bức điện: “Chị và cháu Dung khoẻ. Nguyễn Thị Lan.” rồi bàn tán:
- Nhia nói đúng. Con trai ai đặt tên Dung. Ngọc nhầm to rồi!
Tôi tỉnh bơ vì chỉ mình tôi hiểu. Chả là, tôi đã dặn cô em gái Nguyễn Thị Lam rất kĩ: “Khi chị sinh xong, em ra huyện điện cho anh ngay. Nếu là con trai, đặt tên cháu là Dũng, con gái thì gọi là Hằng. Em chỉ cần điện mấy chữ: “Chị và cháu…khoẻ” là anh hiểu chị sinh con gì, có bình thường không. Điện thế cho đỡ tiền” (Hồi đó gửi điện tín ở bưu điện phải tính từng chữ để tiết kiệm). Khi mới nhận điện, lúc đầu tôi cũng tưởng là mình lại có thêm con gái nhưng chỉ một giây, khi đọc thấy cuối dòng “Nguyễn Thị Lan” là tôi hiểu ngay tất cả: Nhân viên bưu điện này hay mắc lỗi, chỉ tám chữ mà sai đến hai, “Lam” viết thành “Lan” còn “Dũng” thì đã ghi là “Dung”. Em gái tôi đã làm rất đúng như tôi dặn dò. Và tôi đã reo to lên là vì thế. Mọi người thấy tôi giải thích đều tán thành nhưng vẫn có người “nhát”:
- Cũng chưa phải là 100%, biết đâu ở nhà vợ ông sinh con gái và đặt tên Dung chứ không gọi là Hằng nữa.
Bởi vậy, tôi vẫn nơm nớp cho tận khi nhận được thư nhà gửi ra nói rõ cuộc sinh nở “mẹ tròn con vuông” lần thứ hai nơi thâm sơn cùng cốc thiếu cả bà đỡ của Nga.
Đầu 1983 tôi về ĐHSP Vinh thực tập gặp một người bạn cũ là Hà Tùng Sơn, hắn thổi cháy thêm niềm kiêu hãnh trong tôi bằng câu chuyện kể về chuyến đi công tác ghé thăm “thằng bé tuyệt vời của mày”: Nga vừa mang nước cho tao uống thì từ sau vách đất ngăn đôi căn phòng một thằng bé trắng, mập, rất cân đối lẩm chẩm bước ra liền miệng kêu: óong…óong…! Tao là người xưa nay rất ghét đi đâu trẻ con cứ lèo nhèo thì đây là lần đầu tiên tao thấy yêu trẻ. Yêu thật sự, khoái thật sự! Nhìn nó mà cứ liên tưởng đến một thằng bé khổng lồ miệng đòi khát! khát!...của văn học Phục Hưng.
Vậy là, chỉ sau ba năm lấy nhau vợ chồng tôi đã có một con gái đầu lòng và một con trai nối dõi – kết quả của một mối tình đắm say, mãnh liệt, vượt lên nhiều thành kiến trong thời buổi này. Sau này nhiều người bảo vợ chồng tôi đã đạt điểm 10 tuyệt đối. Tôi đã say sưa chiến thắng.“Lúc bấy giờ có thể tiếng bom nổ / đã hóa tiếng chuông ngân kiêu ngạo một phần đời”…
Rồi tôi từ Hà nội trở về Đại học sư phạm Vinh. Tháng 9 năm 1983, kết thúc ba năm tròn theo học chuyên ban Triết ở trường Đảng (mà bấy giờ Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình cứ nhắc đi nhắc lại mỗi lần sang nói chuyện với lớp tôi: Các đồng chí là “lớp đặc biệt” của Bộ, học chương trình tương đương NCS, mong các Đồng chí cố gắng) tôi chính thức về Đại học sư phạm Vinh cầm phấn giảng dạy khi vừa 29 tuổi. Cùng lúc Nga cũng được sở Giáo dục Nghệ Tĩnh cử ra Đại học sư phạm Vinh thi vào Cao học. Bốn năm với hai đứa con nhỏ sinh ra trong thiếu thốn nơi thâm sơn cùng cốc, lại chẳng có thời gian ôn tập nhưng Nga đã thi đỗ (dù thời này thi Cao học rụng như sung). Ba năm đằng đẳng xa vợ con trong cùng kiệt, đói nghèo nay được cùng nhau sum họp. Với tôi nó còn sung sướng hơn cả khi kết thúc chặng đời hơn ba năm lăn lộn ở Tây Trường Sơn đánh Mĩ trở về. Có phải đấy là “trời có mắt”, Chúa thương đôi vợ chồng trẻ chúng tôi biết tự mình vượt lên…
Gia đình nhỏ của tôi thực hiện một cuộc di chuyển lớn: Ba mẹ con Nga rời Hương Sơn ra Vinh, kết thúc cuộc sống thanh bình ở nông thôn để đến với thành phố ồn ào đầy khói bụi. Chuyến ra đi diễn ra vào đầu năm học mới. Nga lúc này đã có học sinh cả ba khối 8 – 9 – 10, cuộc tiễn đưa diễn ra bình dị nhưng cũng thật lưu luyến. Bằng mấy chục chiếc xe đạp, các em học sinh yêu quí cô nhất định đòi đi theo và giành mang tất cả đồ đoàn của gia đình nhỏ ra bến ca nô ở Nầm để rồi vợ chồng con cái chúng tôi xuôi về Gia Lách vào một sáng trời lác đác đổ mưa (dịp ấy vừa có một trận lụt lớn, bến ca nô ở Choi phải dời lên Nầm để đón khách). Chiếc ca nô khách rời bến, những bàn tay học trò vẫy vẫy và những giọt nước mắt ứa ra: “Học xong cô về với trường Hương Sơn cô nhé!” Chứng kiến Cô – Trò họ chia tay, tôi cũng thấy bùi ngùi khôn tả. Xuôi dòng Ngàn Phố để đi vào sông La rồi cuối cùng chạy ra sông Lam, chiếc ca nô đưa chúng tôi cập bến Gia Lách, kết thúc một hành trình đường thuỷ thật êm ả và thơ mộng.
(Còn tiếp)

Cu Dũng năm ra Vinh (3 tuổi)


Căn phòng nhỏ nơi Trường Huyện


(Nhân 8-3, tặng phụ nữ nhà tôi)
Trích Hồi kí phần 2.
Nguyễn Trung Ngọc
Tháng 11 năm 1979, Trường cấp 3 Hương Sơn (Trường THPT Hương Sơn ngày nay) xuất hiện một cô giáo trẻ vừa ra trường. Khá lạ là cô nhìn trẻ như một học sinh lớp 10 (lớp 12 ngày nay) của trường lại mang theo một đứa con nhỏ 3 tháng tuổi. Đó chính là Nga, vợ tôi. Tôi đưa hai mẹ con đến trường trong sự thiếu thốn điển hình thời đó: Toàn bộ gia đình nhỏ và tất cả “gia tài” nằm gọn trên chiếc xe đạp cà tàng. Mà quả thật, đến giờ nghĩ lại tôi cũng không hiểu được làm sao hồi ấy mình lại đạp xe giỏi vậy. Dù nghèo đến mấy thì cái buổi đầu “khởi nghiệp” ấy, gia đình nhỏ của tôi cũng phải có một chiếc va li mang theo; một cái làn nhựa đựng quần áo, tả lót cho đứa con gái mới sinh; vài chiếc soong nồi bát đũa mang từ nhà ra để đỡ mua sắm; ít ống gạo chuẩn bị cho vài bữa ăn đầu…Vậy mà tôi chở hết, cả hai mẹ con và tất cả đồ đoàn lỉnh kỉnh. May mà còn có cô em gái đi cùng, cũng bằng xe đạp chở thêm một ít đồ dùng khác như thau chậu, chiếc xô để xách nước, cái chổi quyét nhà, mấy cân sắn củ…Lớp trẻ ngày nay dù giỏi tưởng tượng đến mấy chắc cũng không sao hình dung được cuộc sống của một sinh viên mới ra trường đi nhận việc như Nga ngày ấy. Điều mà sau này tôi đã viết thành thơ:
Mẹ quên cả tuổi xuân tháng ngày lặn lội
Đồng lương nghèo đắp đổi quanh năm…

Ý định giữ cả hai vợ chồng tôi lại trường làm CBGD của nhà trường không thành hiện thực vì Nga “vỡ kế hoạch”. Chúng tôi quyết định đưa hai mẹ con về gần ông bà nội để cậy nhờ gia đình. Vậy là, bởi cuộc mưu sinh đưa đẩy, vợ con tôi phải xa thành phố, sống lại miền sơn cước Hương Sơn, xa tôi gần một trăm cây số. Hồi ấy, Gần ngày thi tốt nghiệp, sau khi bảo vệ Khoá luận môn Văn học Trung Quốc do Thầy Ngô Xuân Anh hướng dẫn, tôi đã được biết dự định của Khoa sẽ giữ tôi lại tổ Văn học nước ngoài cùng Trần Hữu Phong và Đỗ Ngọc Thống. Hồi đó, sao chuyện phân công công tác cho sinh viên ra trường trong sáng đến thế, đẹp đến thế. Chúng tôi chỉ việc lo học, thi để hoàn thành khoá học. Còn việc đi đâu, về đâu là do nhà trường sắp xếp rồi thông báo lại. Anh A khoa xin giữ lại để bổ sung cho Bộ môn X, chị B vì điều kiện khó khăn, trường xếp đi dạy ở tỉnh Y để hợp lí hoá gia đình…Xét về khía cạnh đó, thời chúng tôi ra trường là thời vàng son, một đi không trở lại. Tuy nhiên, so với dự kiến ban đầu, việc phân công công tác đôi khi cũng khác đi nhiều. Nhóm Văn học nước ngoài chúng tôi kết cục chỉ có Phong ở lại (nhưng về sau Phong cũng xin chuyển vào ĐHSP Huế). Thống thì vướng cái án kỉ luật oan uổng, trôi dạt lên miền Tây Thanh Hoá. Còn tôi “lạc lối” sang bộ môn Mác–Lênin, chờ đi học trường NAQ ở Hà Nội. Cũng may, phải một năm chờ đợi nên tôi có thời gian về Hương Sơn lo cho vợ con những buổi đầu và được gần cái gia đình bé nhỏ của tôi lúc ấy với những chủ nhật đi về. Để rồi sau đó biền biệt đi xa theo học chuyên ban Triết học sau đại học.
Nơi ở được trường cấp 3 phân cho Nga là một gian phòng vách đất thủng lỗ chỗ, không có cửa. Vì vậy, vừa đến buổi sáng là ngay chiều hôm ấy tôi phải vội vàng xin nhà trường mấy cây nứa để chẻ đan phên làm cửa và tìm rơm nhồi với bùn vá mấy vách đất cho lành lặn. May mà tôi biết làm mọi việc. Mấy năm bộ đội đã cho tôi một đôi tay gần như quen hết mọi việc trên đời. Mấy chị giáo viên ở cạnh nhìn tôi đan phên cứ trầm trồ: “Sao dượng Ngọc làm giỏi vậy!”
Dù chỉ là một căn phòng vách đất tồi tàn nhưng sửa sang xong vợ chồng tôi vẫn có một cảm giác thật hạnh phúc vì được tự do bên nhau, tự do âu yếm tỏ bày tình cảm của đôi vợ chồng đã có con nhưng còn rất trẻ (Năm ấy tôi 25 còn Nga 22 tuổi).
Mấy ngày ở với vợ con để giúp ổn định cuộc sống ban đầu, tôi cố gắng hết sức để biến một nơi hoang phế thành căn phòng “ấm cúng” mà vợ con tôi sẽ sống ở đây chờ đợi cuối tuần – ngày chủ nhật. Chỗ hai mẹ con ở trở thành nơi đẹp nhất so với cả dãy nhà tập thể của các gia đình trong trường. Cũng dễ hiểu thôi, Vợ con tôi còn có tôi chăm sóc còn phần lớn các cô “láng giềng” đều có chồng là bộ đội hoặc công tác nơi xa. Chị em giáo viên nơi trường huyện này đều là những “Mẹ Việt Nam anh hùng” thời ấy cả!
Kỉ niệm khó quên của những ngày tháng nơi đây của tôi là những chiều thứ bảy từ Vinh đạp xe về với người vợ trẻ và đứa con thơ. Yêu với một tình yêu lớn và cũng thương cảm vô bờ. Tôi cứ như luôn thấy mình nợ Nga nhiều lắm. Mà cái nợ tình, càng trả lại càng đầy lên mãi! Hơn lúc nào hết, tôi thấm thía câu nói của người xưa: “Vợ chồng là nghĩa tào khang”. Hàng tháng hai vợ chồng tôi và đứa con gái nhỏ sống bằng 64 đồng tiền lương của tôi – anh CBGD đại học vừa ở lại trường cộng thêm khoản lương tập sự của Nga chừng 50 đồng nữa. Cũng may ở gần ông bà nội nên thỉnh thoảng O, Chú lại mang ra cho cân nếp, củ sắn, củ khoai “bồi dưỡng” thêm. Con tôi lớn dần lên dưới bàn tay của người mẹ trẻ và sự đùm bọc yêu thương của Ông Bà, O Chú ở cách đó vài chục cây số.
Trong khoảng gần một năm, đầu Đông 1979 đến cuối Thu 1980, cứ đến chủ nhật tôi lại về Trường cấp 3 Hương Sơn, nơi có căn phòng nhỏ mong manh đang che chở vợ con mình. Khó nghèo đến rùng mình mỗi khi nhắc lại những năm tháng ấy. Vậy mà vẫn lạc quan, vẫn đong đầy hạnh phúc những giây phút bên nhau nồng nàn, say đắm. Lại cả khi hờn ghen, thương giận…Ôi tuổi trẻ của tôi! Tuổi trẻ đã qua…ngày ấy! “Bản chất tình yêu là không chia sẻ”(Ăng-ghen). Vì thế, nếu giữ được sắt son con người có thể đạt được điều mong muốn. Cái cần là Chúa tác hợp cho ta, gắn kết được cho ta một tâm hồn. Những ngày ấy chúng tôi đã sống cho nhau với tấm lòng “Quên tất cả chỉ mình em yêu dấu”… Ơn Chúa, tôi đã vượt qua được những chặng đường giông bão!
Về nhiều rồi thành quen. Cứ mỗi chiều thứ bảy con gái bé bỏng của tôi lại theo mẹ ra đứng ngoài cổng trường đón bố. Vòng tay siết chặt, ôm con vào lòng, cảm giác hạnh phúc, yêu thương dào dạt vô bờ bến. Nhớ có một lần, đâu khoảng 1981, khi ấy vợ chồng tôi đã có thêm cháu thứ hai (thằng bé chỉ cách chị nó 22 tháng, cũng một lần nữa "vỡ kế hoạch"), tôi đã ra Hà Nội nên việc về thăm vợ con là cả một "công trình". Tôi trốn học về nhưng không gặp con gái vì Ông Bà đã đưa cháu về Sơn Thọ được cả tháng. Nhớ quá không chịu nổi, ngay sáng hôm sau tôi đạp xe về nhà. Đang chơi với Bà, nhác thấy bóng bố về đầu ngõ con bé lao ra với tất cả sức lực của nó. Tôi cũng bỏ xe chạy tới. Con gái nhảy lên ôm chặt lấy bố. Đôi tay bé bỏng siết chặt cổ tôi, hai chân thì quắp cứng lấy hông rồi ghì khuôn mặt đầy nước mắt lên má bố, miệng cứ rối rít: Bố ơi! Bố…! Nước mắt tôi cũng chảy xuống đầy cả má con. Hai bố con ghì chặt lấy nhau trong nhiều giây. Lúc bấy giờ nếu có ai quay lại được cảnh bố con tôi gặp nhau hôm đó, tôi tin chắc đó sẽ là một trong những thước phim hay nhất về tình Phụ - Tử. Hôm sau tôi đưa con ra trường. Đêm nằm bên mẹ, nó không dám rời một giây, giành mẹ của em rồi giơ tay sờ mãi khuôn mặt mẹ, miệng cứ lắp bắp: “Mẹ…mẹ…bố…” ngay cả khi đã đi vào giấc ngủ. Tôi biết mình có lỗi với con, mình đã bắt nó thiếu thốn cả sự gần gũi của bố mẹ khi nó còn bé xíu…
Tôi ít làm thơ. Chỉ khi nào cảm xúc mãnh liệt, lời trong tim lại hát thành vần. Bài thơ sau đã hình thành trong những ngày tôi ở xa, nhớ về con da diết.

TÌNH YÊU CỦA BỐ
Tặng con gái

Tháng tám mẹ sinh con
Bố phải đi ra trường
Nhân thêm ngàn nỗi nhớ
Cộng thêm ngàn tình thương.
Bố mẹ cùng cô chú
Đặt tên con Ngọc Hà
Con chim bồ câu nhỏ
Lòng bố yêu thiết tha…
Bố đi công tác vắng
Mẹ cũng không ở nhà
Chưa đầy ba tháng tuổi
Con đã phải đi xa.
Bao giờ con khôn lớn
Mẹ cho con đến trường
Con chim bồ câu trắng
Tung cánh về muôn phương!
Mỗi lần về phép qua
Đón con trên tay mẹ
Sao bố yêu con thế
Ơi con chim Ngọc Hà!
Mũ con chưa thật ấm
Áo con chưa tươi màu
Nhưng bố tin con bố
Có cuộc đời mai sau…
Ơi con ngoan của bố
Sống giữa tình yêu thương
Lại đây con chim nhỏ
Bố hôn ngàn chiếc hôn…
Phải đi làm việc xa
Bố thương con thương mẹ
Hãy lớn ngoan con nhé
Ơi con yêu Ngọc Hà.

Tháng 2-1980


Con gái và Mẹ ở góc vườn trường ĐH Vinh