21 tháng 5, 2014

Khí phách anh hùng



                                                                                 Chử Anh Đào

Cùng với nhiều bậc tiên liệt khác, người được ca ngợi trong bài này là Giang Văn Minh (1573- 1638). Ông người làng Kẻ Mía, xá Mông Phụ, tổng Cam Giá, Phúc Thọ, Hà Tây cũ (Nay thuộc xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, Hà Nội). Giang Văn Minh đỗ Thám hoa năm 1628 đời vua Lê Thần Tông.
 Ngày 30 tháng 12 năm Dương Hòa thứ 3 (1637), Ông dẫn đầu đoàn sứ bộ sang cầu phong và tuế cống nhà Minh. Lúc này nhà Minh áp dụng chính sách ngoại giao hai mặt với nhà Hậu Lê và nhà Mạc hòng mục đích nham hiểm tọa sơn quan hổ đấu, ung dung nhìn nhà khác nồi da nấu thịt, làm Đại Việt suy yếu.
Vua Minh là Minh Tư Tông (hoàng đế Sùng Chính) muốn gây khó dễ, ngạo mạn ra cho sứ bộ Đại Việt vế câu đối: “Đồng trụ chí kim đài dĩ lục” (Trụ đồng đến nay rêu đã còn xanh) “Trụ đồng” mà vua Minh nhắc đến ở đây là cột đồng Mã Viện. Viên tướng Đông Hán này sau khi chinh phục xong khởi nghĩa Hai Bà Trưng năm 43, vơ vét đồng trong dân gian đúc thành trụ có khắc 6 chữ Hán như một lời nguyền láo xược: “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt” (Nếu cột đồng mà gãy đổ thì Giao chỉ sẽ bị diệt vong). Nghe nói cột đồng này chôn ở động Cổ Lâu, Khâm châu, Quảng Tây Trung Quốc bây giờ. Năm 1789 Vũ Huy Tấn được vua Quang Trung phái đi sứ nhà Thanh, qua cột đồng Mã Viện đã viết bài thơ “Trông chỗ cột đồng cảm xúc” có câu ca ngợi Hai Bà: “Bậc phấn son thật cùng anh hùng”. Năm 1812, Nguyễn Du đi sứ nhà Thanh cũng viết bài thơ về cột đồng với ý mỉa mai, phủ nhận: “Cột đồng này chỉ lừa được đàn bà, con gái nước Việt…Xưa nay gió lạnh thổi xương trắng/ Công lao của viên tướng nhà Hán có gì đáng khen”. Một tác giả vô danh trên “Nam Phong” số 8, tháng 2 năm 1918 cũng phun thêm một bãi nước miếng: “Công cán ra chi mấy cột đồng”.

                     Giang Văn Minh - Vị sứ thần bất nhục quân mệnh

Không mất nhiều thời gian, Giang Văn Minh lập tức đối lại: “Đằng giang tự cổ huyết do hồng” (Sông Bạch Đằng từ nghìn xưa máu vẫn còn đỏ). Bạch Đằng là con sông đã đi vào lịch sử vẻ vang, hiển hách chiến công của dân tộc trong các cuộc chống giặc xâm lược phương Bắc. (Ngô Quyền thắng quân Nam Hán Lưu Hoằng Thao, Lê Hoàn diệt quân Tống Hầu Nhân Bảo, Trần Hưng Đạo bắt sống tướng Nguyên Ô Mã Nhi… Trong kiệt tác “Bạch Đằng giang phú”, Trương Hán Siêu đời Trần cũng đã khẳng định: “Chí kim giang lưu/ chung bất tuyết sỉ” (Đến nay nước sông tuy chảy hoài/ mà nhục quân thù không rửa nổi). Vế đối của Giang Văn Minh như một cái tát trời giáng vào mặt Thiên triều, ngời ngời niềm tự hào và sừng sững thế đứng của khí phách cha ông kết tụ. Quên hết thể diện bản thân và phương diện quốc gia, vua Minh nhục nhã và hèn hạ đã sai người mổ bụng moi gan Giang Văn Minh. Nhưng sau chuyện đã rồi, Minh Tư Tông vẫn một mực kính trọng, cho phép ướp xác sứ thần Đại Việt kiên trung và đưa thi hài Ông về nước. Vua Lê Thần Tông truy tặng Ông chức Công bộ tả thị lang, tước Vinh quận công và câu: “Sứ bất nhục quân mệnh, khả vi thiên cổ anh hùng” (Sứ thần không làm nhục mệnh vua, xứng đáng là anh hùng thiên cổ)
Hiện nay, ở quận Ba Đình, trung tâm Thủ đô Hà Nội, nối giữa phố Giảng Võ và phố Kim Mã là con đường mang tên Ông: Giang Văn Minh.
Giang Văn Minh quả xứng đáng là một trong những tinh hoa văn hóa của dân tộc ta, từ nghìn xưa, bây giờ và mãi mãi.
                                                          PK 21.5.14
                                                              C.A.Đ

 Mộ Thám hoa Giang Văn Minh tại Đồng Dưa, thuộc xứ Gò Đông, thôn Mông Phụ, xã Đường Lâm

P/S: Hình ảnh trong bài từ internet

19 tháng 5, 2014

Gửi Người hàng xóm… “không có gene xâm lược”

Mấy tuần nay dõi theo vụ giàn khoan với biểu tình, thấy tình hình rất là tình hình. Chộ một bài thơ vui vui bèn cóp lên đây:
 


Đất nước anh bốn ngàn năm văn hiến

Mất mẹ nó ngàn năm chú bú đớp liên hồi.

Chú bắt dân anh sôi nước mắt đổ mồ hôi

Xuống bể săn voi lên rừng mò ngọc trai với thuồng luồng hà bá.



Chú đã tham như heo lại còn hay của lạ

Bắt gái gú chân dài anh cống nạp thường niên.

Anh nói thật là các cụ nhà anh hiền

Với lại cũng muốn chín bỏ làm mười mà sống



Ở sát nách thằng nhà cao cửa rộng

Có nhún nhường thêm tí cũng vì con

Thằng nào cũng chỉ có …hai hòn

Mạng thằng nào cũng đầu đen máu đỏ



Chú nhớ xem mấy thằng ngon bên chú

Thằng thì bị phanh thây đứa chui tót ống đồng

Chú đừng cậy chú đất rộng người đông

Hễ đụng đến non sông thiêng liêng là bọn anh xơi tất.



Anh kể dài dòng thế để chú lường được, mất

Khi chú cố tình chú bảo vệ cái giàn khoan

Biển quê anh như một mảnh ao làng

Anh quyết giữ để con anh lớn lên nó có chỗ bơi, vợ anh có nơi mà bắt tôm bắt cá.



Đất nước anh suốt bốn ngàn năm giặc dã

Nên thấm lắm rồi cái nạn binh đao

Nhưng khi cần cho những điều lớn lao

Những đứa trẻ quê anh cũng trở thành Thánh Gióng



Biển quê anh sẽ sẵn sàng nổi sóng

Nhắc chú Bạch Đằng giang thấm đỏ máu quân Tàu.

Theo ý anh cứ THÔNG NHAU MÀ SƯỚNG

Tức là phải THƯƠNG NHAU MÀ SỐNG ở cạnh nhau



Chú đem khoan đi ăn trộm mấy can dầu

Nhục như chó thế mà cũng rêu rao cường quốc.

Tộ sư chú. Anh mỏi tay bỏ mẹ!

Bài bê về từ Kim dung Blog

12 tháng 5, 2014

Về Long Hải thăm anh Mậu Đàn

 Hò hẹn mãi cuối cùng thứ 7 mới rồi tôi cũng xuống được Long Hải thăm anh Mậu Đàn. Đáng lẽ ra đi hôm lễ 30 tháng 4 vì bữa đó nghỉ dài ngày nhưng rồi lại nghĩ ngày lễ, con cháu anh ở xa đưa nhau về thăm ông bà, lại thêm mình đến chơi quấy rầy, phiền bạn bè quá nên hoãn lại đến thứ 7 gần nhất sẽ xuống.
Sáng dậy bắt xe buýt ngay đầu ngõ ra bến xe Miền Đông, mua cái vé 95 ngàn. Đúng 7h thì lên một cái xe Ford 14 chỗ rất lịch sự, sạch sẽ thơm tho như xe cơ quan. Qua ngã 3 Vũng Tàu, xe bon bon trên quốc lộ 51 rồi chạy cả trên con đường cao tốc mới bóc tem SG-Long Thành nên chỉ 3 tiếng sau đã cập bến Long Hải. Gọi cho anh Đàn, chỉ kịp nghe câu đứng đó tao ra ngay rồi cúp máy. 5 phút đã thấy anh vè vè cái xe máy trước mặt mình. Hóa ra nhà anh Mậu Đàn chỉ cách bến xe có 50 mét. Cái bến xe thị trấn Long Hải nho nhỏ bằng cái sân trường mẫu giáo mà thấy phong phú đến mức kính nể. Từ Long Hải đi Đà Lạt, Mũi Né, Đồng Hới, Huế, Đà Nẵng, Nha Trang… đều có đủ. Hỏi thì anh Đàn bảo chỗ này là khu nghỉ mát, nghỉ dưỡng nổi tiếng mà mày, cả nước ai chẳng muốn đến đây. Đúng thế thật, như tôi cũng đã mấy kì nghỉ hè xuống đây nằm kềnh ở resort, tắm biển và ăn hải sản là gì.
Vào nhà hàn huyên một đỗi đã thấy vợ con anh dọn mâm mời ăn trưa. Đúng là ẩm thực xứ biển. Mực tươi, tôm hấp cứ là ngọt lừ. Tất cả đều bắt từ biển lên, không có vụ nuôi ao thả hồ gì nên mùi vị rất tự nhiên. Tôi vốn sở trường khoái khẩu hải sản (mà hình như tôi khoái khẩu hơi nhiều món) nên phải nói là trúng tủ.
Nhà anh Đàn là một cái villa theo đúng nghĩa của nó. Trên khu đất rộng đến 500m2, anh dựng một cái villa có chiều ngang 7m, chiều dài đến 3 chục mét. Không lầu gác cầu thang lên xuống gì ráo mà đó là một ngôi nhà vừa dài vừa rộng có cửa sổ trổ ra 4 phía. Gió biển thổi và cây cối mát rười rượi. Tôi đung đưa trên cái võng nhà anh mà nghĩ về ngôi nhà bê tông cốt sắt hình ống của mình ở SG và mơ ước sau giấc ngủ trưa dậy nó sẽ hóa ra cái villa như của anh Đàn. Rồi tôi đánh một giấc thẳng cẳng cho đến 3h chiều. Có lẽ tôi đang là tuổi ăn tuổi ngủ thật. Ăn gì cũng ngon, ngủ đâu cũng thích.
Rồi anh chở tôi chạy ra bờ biển, ngồi trên bậc thềm lộng gió của khu di tích mộ Cô. Dân ở đây sống cứ như trên thiên đàng. Cứ mỗi nhóm khoảng 5-6 người, trải chiếu rồi tự nướng tôm, mực tươi trên những cái bếp lò bằng than, uống với bia lon. Lũ trẻ con thì không đoái hoài đến ăn uống, chỉ tung tăng chạy nhảy. Đám nam thanh nữ tú thì ngồi ôm hôn nhau. Cuộc sống thế còn cần gì thêm nữa không nhỉ.
Ngồi đến khi tắt mặt trời thì anh bảo về ăn tối. Lần này vợ con anh dọn ăn trên cái nền gạch đầu hè. Cứ cá tươi hấp cuốn bánh tráng rau sống chấm nước mắm ngon mà ăn đến no căng thì thôi.
Ăn uống xong anh lại bảo ra biển nữa mày. Sao ra biển hoài vậy. Chắc anh nghĩ tôi ở Thành phố xuống nên chỉ có ra biển là thích thôi. Ai thiếu cái gì thì cho cái đó. Lần này là ra chỗ khu Dinh Cô. Hồi chiều là khu mộ Cô. Anh Đàn giải thích: Dân biển Long Hải có một nhân vật như truyền thuyết để thờ cúng gọi là Cô. Dinh Cô là một tòa miếu lộng lẫy, được lập ra vào cuối thế kỉ 18 để thờ một cô gái trẻ tên là Lê Thị Hồng. Tương truyền, Cô là người ở xứ Bình Định trên đường đi qua Long Hải thì thuyền gặp giông bão, Cô bị rớt xuống biển tử nạn, xác trôi dạt vào bãi biển. Lúc ấy, Cô chỉ mới 16 tuổi. Thương tiếc người con gái trẻ đẹp mà chết yểu, người dân Long Hải đã đem xác Cô vào chôn cất trên đồi Cô Sơn. Từ đó Cô luôn hiển linh mộng báo điềm lành, diệt trừ dịch bệnh, độ trì bá tánh, phù trợ ngư dân…nên dân trong vùng tôn xưng Cô là "Long Hải Thần Nữ", gọi nôm na nhưng rất kính trọng là Cô. Chỗ ngồi chơi hóng mát hồi chiều là mộ của Cô, còn chỗ tối nay ra chơi là dinh thờ phụng Cô. Hai nơi cách nhau khoảng cây số đều ở sát bờ biển.
Một chỗ hóng mát thật là thảnh thơi và phóng khoáng. Nhìn bốn phía, tôi thấy toàn là dân du lịch các nơi đổ về. Họ nằm trên những cái xích đu, mặt hóng ra biển, uống bia và chuyện trò rôm rả.
Như đã nói, dù đã về Long Hải nghỉ dưỡng mấy lần nhưng lần nào đi tôi cũng chỉ biết có mỗi khuôn viên của cái resort với hồ bơi và nhà ăn chứ chưa hề bước chân ra khỏi cổng khu nghỉ dưỡng. Chỉ lần này, với sự nhiệt tình của anh Mậu Đàn, tôi mới thực sự biết Long Hải là như thế nào.
Chơi đến 10h đêm thì về, vợ anh đã dọn sẵn phòng ngủ. Hai anh em lại nằm nói chuyện đời xưa mãi. Phải công nhận anh Mậu Đàn là người có rất nhiều thông tin về bạn bè học cùng khóa 12 với tôi, từ lớp A cho tới lớp B. Có những chuyện mà ngay cả khi còn học với anh, lúc chưa đi lính mà tôi ngu ngơ không biết gì, còn anh thì không có chuyện gì trong lớp mà anh không biết. Anh kể hồi đó mày đi khám sức khỏe để nhập ngũ, sắp đi lính rồi mà đưa ra xét để kết nạp đoàn cho mày, có đứa trong BCH nó vẫn không chịu đấy. Hồi đó tôi tốt nghiệp cấp 3, vô đại học học hết năm thứ nhất, sang năm thứ 2 rồi mà vẫn chưa được kết nạp đoàn. Tôi nghe anh kể cứ cười ngất, thấy sao mà hài hước thế nhỉ.
Còn những chuyện của đám bạn bè trong lớp từ ngày tôi chia tay anh đi lính thì vô thiên lủng. Anh cứ thủ thỉ kể còn mắt tôi thì cứ ríu lại. Cuối cùng thì tôi ngủ chìm đi trong những mẩu chuyện không đầu không cuối về bè bạn của anh.


   Chụp ảnh  với Anh Mậu Đàn lần anh ghé thăm tôi ở trường sau 42 năm gặp lại nhau.


Sáng dậy tôi mở mắt ra đã hơn 6h. Anh Đàn đang uống trà xem TV ở phòng khách. Hai anh em đi ăn sáng xong thì tôi chia tay vợ chồng anh để về lại Sài Gòn.  Chị vợ anh chu đáo cho tôi hẳn một hộp xốp đựng mấy kí cá tươi đem về làm quà cho vợ con.
Tiễn tôi lên xe, vẫn là cái xe của Cty Thiên Phú với những chiếc xe Ford 14 chỗ lịch sự, anh dặn hôm nào lại xuống chơi nữa nhé. Có mày xuống tao vui lắm. Mà nhớ đưa cả vợ con cùng xuống đấy. Ôi trời, đưa hết cả nhà xuống đây chơi rồi để cho đội quân đạo chích SG nó đem ô tô đến khuân hết tài sản  nhà em đi à.
Về đến nhà tôi đang lúi búi chưa kịp gọi điện cho anh thì anh đã gọi trước hỏi về đến nhà chưa mày. Anh cũng vẫn không quên nhắc là bữa nào rảnh lại xuống chơi nữa nhé. 


11 tháng 5, 2014

Chân dung mẹ qua "Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa" của Nguyễn Duy

                                          
                                                              Chử Anh Đào

                             Bần thần hương huệ thơm đêm
                   Khói nhang vẽ nẻo đường lên niết bàn
                             Chân nhang lấm láp tro tàn
                   Xăm xăm bóng mẹ trần gian thủa nào

                             Mẹ ta không có yếm đào
                    Nón mê thay nón quai thao đội đầu
                             Rối ren tay bí tay bầu
                   Váy nhuộm bùn áo nhuộm nâu bốn mùa

                             Cái cò…sung chát đào chua
                   Câu ca mẹ hát gió đưa về trời
                             Ta đi trọn kiếp con người
                   Cũng không đi hết những lời mẹ ru

                             Bao giờ cho đến mùa thu
                   Trái hồng trái bưởi đánh đu giữa rằm
                             Bao giờ cho tới tháng năm
                   Mẹ ta trải chiếu ta nằm đếm sao

                             Ngân Hà chảy ngược lên cao
                   Quạt mo vỗ khúc nghêu ngao thằng Bờm
                             Bờ ao đom đóm chập chờn
                   Trong leo lẻo những vui buồn xa xôi

                             Mẹ ru cái lẽ ở đời
                   Sữa nuôi phần xác hát nuôi phần hồn
                             Bà ru mẹ…mẹ ru con
                   Liệu mai sau các con còn nhớ chăng

                             Nhìn về quê mẹ xa xăm
                   Lòng ta- chỗ ướt mẹ nằm đêm mưa
                             Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa
                   Miệng nhai cơm búng lưỡi lừa cá xương…
                                      ( Rút trong Tuyển tập thơ Nguyễn Duy)

          Không thể kể hết những bài thơ hay của những đứa con thi sĩ viết dâng tặng mẹ của mình. Thử kể ra đây một vài câu như vậy: “Hồn con là mảnh đất màu/ Tiếng ru là hạt giống đầu mẹ gieo” (Lê Đình Cánh); “ Rất tự nhiên là ta nhớ mẹ/ Nhưng mẹ đã xa rồi/ Để ta thành con cái của làn hương” (Thi Hoàng); “Bầu bí lớn lên mà mẹ thì lớn xuống” (Nguyễn Khoa Điềm); “Xòe tay tính tháng tính năm/ Tính người, nào biết xa xăm cõi người/ Gié thơm ai đã gặt rồi/ Đồng quang bóng mẹ nắng nôi một mình” (Hữu Thỉnh); “Mẹ tôi tóc bạc răng đen/ Nhớ thương xanh thẳm một miền nhà quê” (Nguyễn Trọng Tạo); “Mẹ đâu mẹ của riêng anh/ Mẹ là mẹ của chúng mình đấy thôi” (Xuân Quỳnh)…Nguyễn Duy, trước khi viết về mẹ, đã có những câu thơ rất hay về bà, về cha: “Ta đi mơ mộng trên trời/ Để cha cuốc đất một đời chưa xong” (Về làng)
          Đã không ít người nhận định : Thơ lục bát của Nguyễn Duy hay như ca dao, hay hơn cả ca dao. Nhà thơ đã lấy một câu ca dao trĩu nặng lòng nhớ thương mẹ làm đầu đề cho bài thơ (và cũng không quên khép lại ở cuối tác phẩm). Hành động nghệ thuật này trước hết thu hút sự chú ý và kêu gọi sự đồng cảm nơi người đọc.Thời gian và không gian để tác giả cảm ngẫm về mẹ là ban đêm với hương hoa huệ thanh khiết trước bàn thờ. Cõi Niết bàn có thật không mà mẹ đã cả đời lam lũ nhọc nhằn? Nhìn vào một sự vật này mà tác giả liên tưởng đến một hiện tượng khác, rất tự nhiên và tài tình:
                             Chân nhang lấm láp tro tàn
                   Xăm xăm bóng mẹ trần gian thủa nào
          Đấy là một người mẹ nông dân nghèo khổ từ ngoài vào trong: “nón mê” (Lại nhớ câu thơ của Hoàng Trần Cương: Chiếc nón mê mẹ đội nửa đời người/ Khi thủng chóp lại trùm lên vại nhút); “Váy nhuộm bùn, áo nhuộm nâu bốn mùa”. Đã cùng cực (áo nhuộm nâu) lại còn có sự cùng cực hơn nữa (váy nhuộm bùn). Những chất liệu dùng để nhuộm ấy, lớp trẻ bây giờ liệu còn có biết chăng? Người mẹ này quanh năm đầu tắt mặt tối với những công lớn viêc bé có tên và không tên; “Rối ren tay bí tay bầu” Mẹ làm như thế là vì ai và cho ai? Cho mẹ chăng? Không bao giờ ! “Con cò lặn lội bờ sông…”, “Vì chồng em phải truân chuyên/ Nào ai xương sắt da đồng chi đây”. Đó là những câu trả lời xác đáng cho sự vất vả, hi sinh quên mình của mẹ.
          Mẹ không chỉ nuôi chúng con cao bổng hình hài bằng tương cà khoai sắn. Mẹ còn nuôi chúng con bằng một dòng sữa khác. Đó là những “Cái cò đi đón cơn mưa…”, “Đói lòng ăn nửa trái sung…”, những “Chàng ơi phụ thiếp làm chi…”, “Gió đưa cây cải về trời…”, “Thằng Bờm có cái quạt mo…”, những tháng năm “Mẹ ta trải chiếu ta nằm đếm sao”, những trung thu tháng tám “Trái hồng trái bưởi đánh đu giữa rằm” Tất cả, như tác giả viết : “Sữa nuôi phần xác hát nuôi phần hồn”. Tuổi thơ với những buồn vui lẫn lộn giờ đây hiện về một mực leo lẻo trong veo. Và tác giả khẳng định: “Ta đi trọn kiếp con người/ Cũng không đi hết những lời mẹ ru”  
          Mỗi đứa con trên đời có những cách khác nhau để tri ân mẹ. Với Nguyễn Duy, “Nhìn về quê mẹ xa xăm”, nhở về mẹ, tác giả so sánh: “Lòng ta- chỗ ướt mẹ nằm đêm mưa”. Phải là đứa con chí tình, chí hiếu tới mức nào mới viết được như vậy. Đây là cách biết ơn, nhớ thương pha chút dằn vặt, ân hận kiểu nước mắt lặn vào trong của những người từng trải. Nỗi niềm ấy không bao giờ lên da non, đeo đẳng, sũng ướt đến hết kiếp người...
                                                          PK. Ngày báo hiếu Mẹ.2014

                                                                      C.A.Đ



6 tháng 5, 2014

Một chút Hà Nội giữa Sài Gòn



Sáng nay đi làm. Chạy xe trên đường Tân Sơn Nhì thấy có một quán bánh canh cá lóc mới mở. Nhìn cũng sạch sẽ khang trang lại bán cái món ăn hợp gu nên tấp vô ăn thử, lên trường khỏi ăn mì xào cantin.
Trong quán có chục bộ bàn ăn bằng gỗ sơn đen rất đẹp nhưng lúc đó chỉ có 1 ông khách dáng công chức ngồi bàn ngoài cùng đang ăn. Tui ngồi tiếp xuống bàn thứ 2. Kệ, càng ít khách ăn càng đỡ ồn ào. Tui chúa ghét ồn ào.
Ăn xong nhìn quanh không thấy có bình nước uống như hết thảy các quán ăn khác ở SG.
Lúc trả tiền cho bà chủ cỡ U40 diện váy mấn lòe xòe, tui hỏi: Quán ăn này của người Hà Nội à?
Bà chủ mắt sáng rỡ hỏi lại: Anh tinh đời thế (lâu lắm tui mới được một người khen). Sao anh biết đây là quán của người Hà Nội?
Thong thả ngồi lên xe nổ máy, vô số đâu đó tui mới dám trả lời: Tại ăn xong không có ngụm nước tráng miệng là biết liền à.
Nói xong vặn ga dzọt lẹ (để khỏi nghe nó chửi...).






1 tháng 5, 2014

Giả sử chiến tranh chưa kết thúc



Trong bữa cơm tối, tôi đem nội dung cuộc điện thoại từ hôm qua, 30 tháng 4, về chuyện một người đồng đội 39 năm trước kể cho vợ con cùng nghe. Đó là trường hợp của anh Tế, khi đang cùng đơn vị với tôi thì anh là tiểu đội trưởng trinh sát C20, còn tôi chỉ là lính trơn, gọi là chiến sĩ.
Sau ngày hết chiến tranh, tôi ra Bắc trở lại trường ĐH để học tiếp thì anh cùng cả sư đoàn 341 sang đánh nhau với Pôn Pốt ở Cam Pu Chia. Ở đó anh được thăng chức lên đến tiểu đoàn phó, rồi anh bị thương nặng, cụt cả 2 chân, mất sức đến 95%. Trở về quê nhà trên chiếc xe lăn, anh vào ở suốt đời trong trại thương binh nặng ở Nghi Lộc, Nghệ An, lâu lâu người ta lại phải chở anh ra Hà Nội đến quân y viện 108 mổ lại vết thương do bị hoại tử.
Chuyện này tôi mới biết hôm qua khi bỗng dưng anh gọi điện nói chuyện với tôi cả nửa tiếng. Tôi hỏi sao anh biết số đt của em mà gọi vậy, anh bảo thằng Nga (học lớp 12B cùng đi lính với tôi, nay sống ở Cam Lộ, Quảng Trị) gọi ra hỏi thăm và cho số của S nên biết mà gọi. Tôi nghe qua máy thấy giọng anh vui vẻ lạc quan vô cùng; cứ như là không có chuyện anh bị thương mất cả 2 chân, như là không có chuyện suốt đời anh phải gắn với chiếc xe lăn, như là không có chuyện sự sống trên cơ thể anh chỉ còn có 5%; và cả nỗi mừng vui khi nối lại được liên lạc với tôi sau 39 năm kể từ ngày anh em chia tay nhau ở Sài Gòn. 
Tôi hỏi ngồi trên xe lăn thế anh có buồn không. Anh nói buồn gì Sơn, so với thằng Ngôn thì anh còn may chán (Ngôn, gọi đầy đủ là Đỗ Xuân Ngôn, học lớp 12B, cùng nhập ngũ với tôi một đại đội, đã thành liệt sĩ trong trận đánh Xuân Lộc chiến dịch HCM tháng 4 năm 1975).  
Câu chuyện về anh Tế khiến cả nhà tôi xúc động mạnh.
Con gái lớn đặt câu hỏi: giả sử hồi đó chiến tranh chưa kết thúc và kéo dài cho đến ngày nay thì nước ta sẽ ra sao nhỉ.
Vợ tôi bảo nếu vậy thì ba mẹ không gặp nhau và sẽ không có hai chị em T và N.
Tôi bảo nếu vậy thì miền Nam sẽ thành như Hàn Quốc, còn miền Bắc sẽ giống như Triều Tiên ngày nay.
Cả nhà nghe vậy im lặng, bỗng dưng không ai nói thêm câu nào về câu chuyện 30 tháng 4 nữa trong lúc bữa cơm tối vẫn tiếp tục.
Có dịp ra Vinh nhất định tôi sẽ ghé thăm anh Tế.


Tôi ngày mới nhập ngũ, 9-1972. (Ảnh chỉ mang tính minh họa và không nhất thiết phải khác với ảnh thật)).