7 tháng 6, 2015

Nhớ bạn

 Cảm ơn các bạn Hà Tùng Sơn và Nguyễn Trung Ngọc Nga ra thăm chơi và viếng đồng đội tại Thanh Hóa 

                                                                            Lê Quang Phương
I
Bạn từ Thanh Hóa lên đường
Phía tây xe cán đường mòn vào Nam
Nhưng khi vào đến Nghệ An
Nhớ nhà bạn đã vội vàng cỡi mây
Kể từ ngày đó đến nay
Bây giờ mới có lời này phải chăng
                      II
Quá bốn mươi năm bạn tới thăm
Mướp gà chẳng có luống băn khoăn
Thói quê bỗ bã mừng ríu rít
Thơ phú loàng xoàng đọc hung hăng
Hương khói vấn vương  đời binh nghiệp
Lợi danh khục khặc khách làng văn
Chuyện dài ngày ngắn rồi ly biệt
“viễn ảnh cô phàm ”  bạn về Nam.
III
Miền trong các bạn ra chơi
Thịnh tình đã đượm lại vui cho quà
Ngại nhìn mái tóc bạc phơ
Ngẩn ngơ nhớ chuyện ngày xưa ở rừng
Muốn ôm một cái quá chừng
Lại e ủy mị ngập ngừng trong tay
                   IV
Rằng đã quá vạn ngày li biệt
Cánh chim trời mải miết muôn phương
Thương người nằm lại chiến trường
Mộ phần chưa biết nén hương chưa từng

Lời đã hẹn cùng chung một ý
Bạn từ trong Xứ Nghệ bạn ra
Mấy chàng Thanh Hóa quê nhà
Một xe thẳng xuống đường xa bon cùng

Thắp nén hương cho lòng bớt tủi
Chắp tay nhìn đồng đội năm xưa
Mái nhà nghèo ngói bơ vơ
Hồn trai năm ấy bây giờ nơi nao!


Tại Tp.Thanh Hóa, 25-4-2015. Trái sang: Lê Đăng Sơn, Lê Ngọc Sáng, Nguyễn Trung Ngọc, HTS, Lê Quang Phương 


Vú ma

                    

                                    Lê Quang Phương
Homo khát!
Khát trong tiềm thức sâu hút.
Khát nhớ bầy đàn trong rừng xanh quả chín
bên vách non cao vọng tiếng hớp trời xanh. 
Tự do vô tận không tên không tuổi

Hoocmon vương mùi trong tán cây     
theo gió hương tình dội vào vách núi
quấn quýt đất với trời
Homo ngất ngây

Ghè đá rồi hái lượm
Cắn xé hay bầu bạn
Làm tình rồi thù hận
Thất vọng và hả hê
Đói gục và chạy trốn
Nhớ trong khát ê chề

Đêm qua Homo tưởng đã khát lại càng khát.
Một bầu vú trắng nhờ nhạt trong đêm
Sờ nắn không cảm giác
Bú mút không hương vị

Từ thuở Homo làm người
càng kiếm tìm càng khát

đêm qua một bầu vú Ma đánh  rơi
Homo vồ được.



5 tháng 6, 2015

Tự sự trong Cao lương đỏ của Mạc Ngôn

                       Phan Thị Nga
                                               (GV. VHTQ khoa Ngữ văn, Đại học Vinh)

1. Giải Nobel văn học 2012 được trao cho Mạc Ngôn, một tác giả xuất sắc trên văn đàn Trung Quốc đương đại, người đã có những sáng tạo và đóng góp cho sự đổi mới văn học Trung Quốc nói riêng và văn học thế giới nói chung bằng sự nghiệp sáng tác của mình. Cao lương đỏ là một trong những cuốn tiểu thuyết mang về giải Nobel danh giá cho Mạc Ngôn bên cạnh Đàn hương hình, Báu vật của đời, Cây tỏi nổi giận. Cao lương đỏ cũng là tác phẩm được độc giả biết đến nhiều nhất trong sự nghiệp sáng tác của Mạc Ngôn và đã được dịch sang nhiều thứ tiếng như: tiếng Anh, tiếng Đức, tiếng Nhật, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Hàn Quốc và tiếng Việt. Cao lương đỏ là tác phẩm “có chút sáng tạo riêng”. “Chút sáng tạo riêng” ấy được thể hiện qua tư tưởng, tình cảm của Mạc Ngôn với con người, quê hương Đông Bắc Cao Mật, với phương thức tự sự rất riêng, rất Mạc Ngôn.



2. Cao lương đỏ viết về cuộc chiến đấu chống Nhật của nhân dân Trung Quốc vùng Đông Bắc Cao Mật thời kì 1938 – 1939. Giống như tiểu thuyết truyền thống, Cao lương đỏ vẫn có cốt truyện nhưng cốt truyện Cao lương đỏ khác tiểu thuyết truyền thống ở chỗ không hoàn chỉnh, không đầy đủ các thành phần chính như thắt nút, phát triển, cao trào, mở nút mà chỉ là cái khung truyện. Cái khung truyện ấy lại chứa đựng trong nó nhiều câu chuyện nhỏ. Cốt truyện Cao lương đỏ không có những sự kiện, tình tiết li kỳ, gây cấn và các sự kiện, tình tiết được tái hiện cũng không theo trật tự thời gian mà có sự đan cài, lồng ghép vào nhau trong chín chương được đánh số thứ tự từ 1 đến 9. Diễn biến của cốt truyện không liên tục,liền mạch theo trật tự các chương, bản thân từng chương cũng bao chứa trong nó môt số câu chuyện. Câu chuyện nòng cốt trong Cao lương đỏ là chuyện về đội du kích gồm 40 người do Từ Chiếm Ngao, thủ lĩnh thổ phỉ, làm tư lệnh đi phục kích đoàn xe Nhật, trải qua một trận chiến không cân sức đã giành thắng lợi được kể một cách không liền mạch mà có phần rời rạc,  chắp nối với nhau bởi các sự kiện nằm rải rác ở 5 chương: 1, 4, 6, 7, 9. Câu chuyện bắt đầu từ chương 1 bằng sự kiện “bố tôi” gia nhập đội du kích, Từ Chiếm Ngao chỉ huy đội du kích hành quân đi phục kích xe Nhật và tạm dừng lại đây. Rồi câu chuyện được tiếp tục ở chương 4: Từ Chiếm Ngao bố trí du kích mai phục Nhật ở bờ đê. Chuyện được dừng lại ở chi tiết tư lệnh Từ bảo “bố tôi” về gọi “bà tôi” làm bánh khao quân. Mãi đến chương 6 việc “bố tôi” từ trận địa về đến làng và chuyển lời dặn cho “bà tôi” mới lại được kể tiếp.Chi tiết bà tôi trông thấy Linh Tử điên dại đã làm câu chuyện rẽ sang hướng khác, mở ra câu chuyện mới về cái án tử hình dành cho Từ Đại Nha ở phần sau của chương 6. Toàn bộ hành trình tiếp tế quân lương của “bà tôi” được kể chi tiết ở chương 7 và diễn biến của trận đánh, tinh thần dũng cảm, quyết tử của đội du kích, chiến thắng của họ ở chương 9 đã kết thúc câu chuyện đánh Nhật.
Vẫn duy trì lối kể như trên, Câu chuyện về ông La Hán được kể trong 3 chương: 1, 3, 4. Chương một: ông La Hán, người làm công cho “bà tôi” đã cùng “bố tôi” bắt cua những đêm thu các năm trước. Ở chương 3: La Hán bị Nhật bắt đi phu. Cuộc hành hình man rợ của giặc Nhật, cái chết thương tâm của ông La Hán là một phần của chương 4.
Cũng được kể một cách đứt quãng, rời rạc là các câu chuyện về tình yêu giữa “ông tôi” với “bà tôi”; cuộc hôn nhân bất hạnh của “bà tôi” với Đơn Biển Lang; về “bố tôi”, về Từ Đại Nha, đội trưởng Lãnh...Những câu chuyện này được kể một cách bất chợt xen kẽ trong câu chuyện đánh Nhật.
Sự tồn tại độc lập của từng câu chuyện, sự kiện và đoạn đời của các nhân vật trong văn bản có vẻ rời rạc về hình thức song liên kết, ráp nối chúng lại với nhau đã làm nên câu chuyện hoàn chỉnh về việc đánh Nhật, về cuộc đời của từng nhân vật. Để rồi toàn bộ các câu chuyện ấy cùng góp phần làm nên một bức tranh hiện thực về con người Cao Mật với tính cách rõ ràng như cây cao lương, “đẹp đẽ nhất, xấu xa nhất, siêu thoát nhất, thế tục nhất, trong trắng nhất, nhơ bẩn nhất, anh hùng hảo hán nhất, đểu giả mất dạy nhất, giỏi uống rượu nhất, biết yêu đương nhiều nhất ở trên trái đất này”... “giết người cướp của nhưng lại tận trung báo quốc… diễn từng màn vũ kịch anh hùng bi tráng” [5; tr.14-15].
Ráp nối những mảnh vụn khác nhau của hiện thực, tổ chức theo kiểu dán ghép,Cao lương đỏ  như một bức tranh có nhiều chân dung nhân vật, mỗi nhân vật là một mảnh đời riêng, có mối dây liên quan nhất định với nhau cùng tạo nên bức tranh hiện thực sinh động về câu chuyện của nhiều con người, nhiều cuộc đời trọng tâm là “ông tôi”, “bà tôi”, bố tôi, Lưu La Hán, Từ Đại Nha, phó chỉ huy Nhiệm. Tác giả không tái hiện nhiều sự kiện, tình tiết mà chỉ tập trung vào một số tình tiết, biến cố có tính chất quyết định trong cuộc đời nhân vật để qua đó làm rõ các tính cách cũng như xung đột xã hội. “Ông tôi” ngang tàng, đầy bản lĩnh (đánh nhau với tên cướp ở đầm Con Cóc, cùng “bà tôi” ân ái trong ruộng cao lương, giết chết bố con nhà họ Đơn để cứu “bà tôi” khỏi cuộc hôn nhân bất hạnh). Trong trận phục kích đoàn xe Nhật, “ông tôi” tỏ rõ khí phách kiên cường, tận trung báo quốc. “Bà tôi” cá tính mạnh mẽ (dám phá bỏ mọi ràng buộc của lễ giáo khi cùng Từ Chiếm Ngao ân ái trong ruộng cao lương), bản lĩnh, quyết đoán trong những hoàn cảnh có vấn đề, có những sáng kiến và đóng góp cho cuộc chiến đấu chống Nhật. Ông La Hán, người nô bộc trung thành và tận tụy, kiên quyết không hợp tác với kẻ thù nên bỏ trốn khỏi công trường, chịu đựng hình phạt đau đớn mà
không thèm kêu xin hay quỵ lụy… Những tình tiết, sự kiện này đều góp phần bộc lộ tính cách, số phận, cuộc đời nhân vật và cốt truyện Cao lương đỏ được kết dệt từ nhiều mảnh đời khác nhau ấy.
Sự cắt mảnh rời rạc trong cấu trúc cốt truyện Cao lương đỏ chịu chi phối của thủ pháp dòng ý thức. Như những tiểu thuyết hậu hiện đại khác, các cảm giác, ý nghĩ, liên tưởng… bất chợt thường xuyên chen nhau, thay nhau, đan bện vào nhau một cách lạ lùng ở các nhân vật trong Cao lương đỏ, đặc biệt với “tôi” và “bố tôi”. Chúng thường được biểu hiện bằng các trạng thái “nhớ” (bố nghe tiếng nước sông, nhớ lại cảnh những đêm thu trước đây) “nghĩ”, “cảm thấy” (bố cảm thấy có một luồng khí lạnh ghê người tràn khắp người). Sau sự cảm thấy của “bố tôi”ấy là hồi ức thương tâm về ông La Hán. Dòng ý thức của “tôi” và “bố tôi” đã làm nảy sinh các tình tiết, các câu chuyện trong tác phẩm, chi phối cách kể chuyện. “Tôi” đang kể chuyện “bố tôi” lại kể sang chuyện “bà tôi”, “ông tôi”, ông La Hán rồi lại quay về với câu chuyện nòng cốt đánh Nhật. Sự chi phối của thủ pháp dòng ý thức khiến cho Cao lương đỏ có kết cấu đảo ngược thời gian, không tuân thủ trật tự tuyến tính. Từ hiện tại, “tôi” kể những câu chuyện về những con người ở thời quá khứ cả xa và gần. Thời gian trong tác phẩm được biểu hiện bằng những con số chỉ ngày, tháng, năm cụ thể hoặc bằng những cụm từ chỉ thời gian như “năm ấy”, “năm kia”, “bây giờ”, “những đêm thu năm trước”... Nếu lấy câu chuyện nòng cốt đội du kích đánh Nhật
làm mốc, người đọc dễ dàng nắm bắt được thời gian xảy ra các câu chuyện khác trong tác phẩm. Câu chuyện đánh xe Nhật do “tôi” kể bắt đầu ngày 9 tháng 8 năm 1939, ngày Từ Chiếm Ngao chỉ huy đội du kích hành quân đi đánh Nhật. Cuộc mai phục diễn ra vào rằm tháng tám, cao trào trận đánh là sáng ngày 16 tháng 8 năm 1939. Đan cài vào câu chuyện đánh xe Nhật là chuyện ở quá khứ xa: “bà tôi” lúc 16 tuổi ngồi kiệu hoa về nhà chồng, “ông tôi”- Từ Chiếm Ngao - đánh cướp ở đầm Con Cóc, ông bà tôi ân ái trong ruộng cao lương cùng xảy ra năm 1923. Rồi chuyện ông La Hán bị bắt đi phu và bị hành hình năm 1938 (“mắt bố rơm rớm lệ, nhưng kìm lại được chưa kịp tràn ra khỏi hốc mắt như ngày nào năm ngoái”) (so với thời điểm 1939 “năm ngoái” là năm 1938). Chuyện Từ Đại Nha và phó chỉ huy Nhiệm tuy không được nói rõ xảy ra vào thời điểm cụ thể nào nhưng ở vào thời kì đội du kích của Từ Chiếm Ngao mới được thành lập, cũng là quá khứ so với câu chuyện đánh Nhật của “ông tôi”.
Bản thân câu chuyện về từng nhân vật cũng được kể trong sự đan xen về thời gian, chịu chi phối bởi dòng ý thức. Trong chương 8, sự kiện “bà tôi” bị thương nằm trong ruộng cao lương xảy ra vào năm 1939. Cũng trong chương này là hồi tưởng của “bà tôi” về năm 1923, sau hai đêm bà từ nhà họ Đơn trở về nhà mình, rồi cùng Từ Chiếm Ngao ân ái, và kết thúc chương 8, bà đắm chìm trong dòng cảm xúc rồi thanh thản từ giã cuộc đời vào năm 1939.
Cũng  vậy, ở chương 9,phần đầu chương kể về diễn biến trận chiến chống Nhật của “ông tôi”, “bố tôi” và những người du kích vào  tháng 8 năm 1939. Giữa chương là chuyện ông tôi từ Hốc Cai Đô trở về vào năm 1958, đào bới và đập nát ngọn giáo thành sắt vụn và quăng đi. Rồi cuối chương lại quay về với câu chuyện của năm 1939.
Cùng với sự đảo ngược thời gian, không gian trong Cao lương đỏ cũng thường xuyên bị xáo trộn, thay đổi liên tục. Lúc là không gian ở trong làng Cao Mật, lúc giữa ruộng cao lương, khi trên sông Mặc Thủy, lúc trên đường cái Giao Bình, khi trên bờ đê, lúc ở công trường, khi trong kiệu hoa, lúc ở nhà họ Đơn… Dù thường xuyên bị xáo trộn, thay đổi về không gian và thời gian nhưng cốt truyện của Cao lương đỏ vẫn rõ ràng mạch lạc. Điều đó khẳng định sự sáng tạo cũng là bản lĩnh nghệ thuật vững vàng của Mạc
Ngôn.
Cấu trúc tác phẩm theo kiểu phân mảnh rời rạc, xâu chuỗi các sự kiện, các cuộc đời, Cao lương đỏ mang lại hiệu quả vừa bao quát được những mảnh hiện thực rộng lớn lại vừa đạt tác dụng kết dính chúng lại một cách tự nhiên thành một chỉnh thể nghệ thuật.


                                      Nhà văn Mạc Ngôn (ảnh từ internet)
3. Một phương diện thành công khác trong Cao lương đỏ là ở sự đa dạng chủ thể trần thuật. Mạc Ngôn đã từng bộc bạch:  Gần 20 năm đã trôi qua, điều mà tôi tương đối vừa lòng với Cao lương đỏ là ở góc nhìn để miêu tả trong tiểu thuyết.Các tiểu thuyết trước đây thường có đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất, thứ hai, thứ ba. Còn Cao lương đỏ vào đầu đã là “bà tôi”, “ông tôi”, vừa là góc nhìn của nhân xưng ngôi thứ nhất, lại vừa là góc nhìn chung. Khi viết “tôi” thì là ngôi thứ nhất nhưng vừa viết đến “bà tôi” thì lại phải đứng ở góc độ “bà tôi” [4;tr.52]. Cao lương đỏ vừa sử dụng điểm nhìn của người kể chuyện “tôi” và sử dụng đa chủ thể trần thuật. Người kể chuyện “tôi” đã kể các câu chuyện về “ông tôi”, “bà tôi”, “bố tôi”, Lưu La Hán, Từ Đại Nha… Với vai trò là người dẫn dắt, không trực tiếp tham gia vào cốt truyện, “tôi” đã miêu thuật cho độc giả những gì mình đã tìm hiểu, đã được nghe, được biết bằng tình yêu quê hương tha thiết, bằng mâu thuẫn giữa tâm lý hận thù và yêu mến những con người ở quê hương. Trong tư cách người kể chuyện, “tôi” không tham gia vào hành động cốt truyện mà chỉ có chức năng tổ chức nhân vật, tổ chức kết cấu tác phẩm để giúp Cao lương đỏ thành một câu chuyện lớn bao chứa trong nó nhiều câu chuyện nhỏ về con người quê hương Cao Mật. Ở tư cách người trần thuật ngôi thứ nhất thuộc thế hệ con cháu nhưng lại biết hết mọi chuyện về mọi người trong quá khứ thuộc thế hệ tiền nhân, “tôi” đã góp phần tạo nên câu chuyện lịch sử có tính chất truyền kỳ trong Cao lương đỏ.
Ngoài chủ thể trần thuật ngôi thứ nhất “tôi”, Cao lương đỏ còn có các chủ thể trần thuật khác “ông tôi”, “bà tôi”, “bố tôi”,  Lưu La Hán. Các chủ thể trần thuật này phối hợp cùng “tôi” làm nên điểm nhìn đa chủ thể trần thuật trong Cao lương đỏ, không có ai giữ vai trò chính yếu hay thứ yếu mà bình đẳng như nhau xét từ góc độ chủ thể trần thuật. Câu chuyện về “ông tôi”, “bà tôi”, “bố tôi” vừa do người kể chuyện xưng “tôi” kể, vừa do chính bản thân các nhân vật này tự thuật. Vì vậy, điểm nhìn trần thuật trong Cao lương đỏ vùa là điểm nhìn riêng của “ông tôi”, “bà tôi”, “bố tôi” lại vừa có điểm nhìn của người kể chuyện. Trong tư cách vừa là nhân vật trực tiếp tham dự vào hành động cốt truyện, vừa là người tái hiện câu chuyện có liên quan đến bản thân, “ông tôi”, “bà tôi”, “bố tôi” còn có thể trực tiếp thể hiện thế giới nội tâm của mình. Và “ông tôi”, “bà tôi”, “bố tôi” đã làm cho câu chuyện về cuộc đời họ do “tôi” kể có độ xác tín cao, trung thực hơn và tính tả chân, tính truyền kỳ của tác phẩm được kết hợp với nhau một cách chặt chẽ. Sử dụng điểm nhìn trần thuật đa chủ thể, Cao lương đỏ đã vượt qua những tác phẩm chỉ có người kể chuyện ngôi thứ nhất ở chỗ những tác phẩm này chỉ có thể miêu thuật hành động, lời nói của nhân vật chứ không thể thâm nhập trực tiếp vào ý nghĩ của nhân vật. Sử dụng điểm nhìn trần thuật đa chủ thể, Cao lương đỏ đã mở ra khả năng to lớn trong việc tái hiện sinh động tâm hồn, những trạng thái vui buồn, những suy tư trăn trở của nhân vật khiến cho nhiều dạng thức thời gian trong tác phẩm được bố trí một cách linh hoạt, cùng góp phần tổ chức nên một cốt truyện Cao lương đỏ khác với tiểu thuyết truyền thống.
4. Ngôn ngữ trong Cao lương đỏ thiên biến vạn hóa, kết hợp nhuần nhuyễn giữa tự sự và trữ tình, giản dị và mộc mạc, gần gũi với người nông dân.
Tự sự khi “tôi”, “ông tôi”, “bà tôi”, “bố tôi”, ông La Hán cùng thuật lại câu chuyện cuộc đời họ bằng lời kể của “tôi”, bằng hành động, lời thoại của các nhân vật. Trữ tình khi “ông tôi”, “bà tôi”, “bố tôi” trực tiếp bày tỏ nội tâm; “tôi” bộc lộ những suy nghĩ, cảm xúc về con người, phong tục tập quán, cảnh vật ở quê hương Cao Mật. Những trang văn xuôi miêu tả cánh đồng cao lương, miêu tả tâm trạng “bà tôi” ngày sắp lấy chồng, tâm trạng “bà tôi” lúc bị thương nằm trong ruộng cao lương thấm đẫm chất thơ.
Sự biến hóa trong văn chương của Mạc Ngôn còn được thể hiện ở việc ông đã đưa vào sáng tác của mình một số câu hát. Trong văn bản, chen giữa những dòng văn xuôi còn có những câu hát được các nhân vật hát lên vào những thời điểm, ở những chương khác nhau. Những câu hát ở chương 1 do “tôi” hát:
Cao lương đỏ
Quân Nhật đến
Đồng bào chuẩn bị xong,
Súng lớn súng nhỏ đều bắn
Những câu hát do phó chỉ huy Nhiệm dạy đội du kích ở chương 6 và lại được Từ Đại Nha hát lên trước khi bị xử bắn ở chương 9:
Cao lương đỏ
Cao lương đỏ
Bọn giặc Nhật đến rồi
Nước mất nhà tan
Đồng bào ơi,
Mau đứng dậy
Cầm dao, cầm súng,
Đánh giặc bảo vệ quê hương…
Ngoài lời kể của “tôi”, “ông tôi”, “bà tôi”, “bố tôi”, “tôi” còn dẫn lời của một nhân vật, hoặc lời một cuốn sách nào đấy đáng tin cậy và để chúng trong dấu ngoặc kép (“...”). Chẳng hạn lời của cụ già 92 tuổi ở chương 2: “Quê hương Đông Bắc, có hàng vạn người bày ra thế trận bên bờ sông Mặc Thủy…bọn quỷ tấn công” [5; tr.29] và “Khi con đường làm đến làng này… có bím tóc to” [5; tr.29-30]. Hoặc “tôi” dẫn một đoạn trong sách “Huyện Trí”: “Dân quốc năm 27…đến chết mới thôi” [5; tr.31].
Trí tưởng tượng phong phú của Mạc Ngôn còn giúp ông thu được hiệu quả cao từ lối so sánh trong văn chương. Thường dùng lối so sánh cũng là một đặc điểm đáng chú ý trong Cao lương đỏ. Tác giả đã không dưới 30 lần sử dụng thủ pháp này. Đối tượng được dùng để so sánh rất gần gũi với người nông dân, quen thuộc với đời sống hàng ngày như: mạn thuyền, quả nho chín, chú vịt, hoa đào, khúc giò, đùi ếch, gáo dừa, lá cây, bức tường, cái trống, tượng gỗ, hòn đá mài khổng lồ...Lối so sánh này vừa khiến văn chương của Mạc Ngôn đa dạng, linh hoạt trong cách diễn đạt lại vừa góp phần giảm nhẹ sự rối rắm của lối tổ chức cốt truyện.
Cao lương đỏ có nhiều câu hay, lời đẹp, có lời thanh nhưng cũng rất nhiều lời tục và đặc biệt đượm mùi dân dã, suồng sã. Khá nhiều tiếng chửi, lời nói tục tằn được thốt ra từ miệng các nhân vật, không dưới 20 lần trong tác phẩm, nhiều nhất ở Từ Chiếm Ngao như: “đồ chó chết”, “đồ chó đẻ”, “đồ chó ghẻ”, “đồ quỷ”, “quân cường bạo”, “hãy mở mắt chó ra mà xem”, “cút mẹ mày đi”, “giết chết lũ chó khốn nạn đi”, “đồ súc sinh”, “Đ…mẹ anh!”...Bên cạnh những câu chửi là những từ ngữ chỉ các bộ phận trên cơ thể người, những hành vi không mấy xuất hiện trong sáng tác văn học. Từ ngữ chỉ các bộ phận trên cơ thể người như: “lỗ đít đỏ hỏn”, “hai chiếc bành dày”, “bụng dưới”, “mông
đít”, “bọng đái”, “đầu chim”, “chim”, “đôi vú”, “trái tim nhúng đầy xì dầu bẩn thỉu”, “giữa hai đùi”, “bộ phận sinh dục”. Từ ngữ chỉ các hành vi như: “đái một bãi”, “ỉa vào nồi”, “đái vào chậu”, “nghe rõ tiếng thở phì phò của con chó và tiếng rắm của viên sĩ quan Nhật dắt chó”, “nước đái rỏ giọt ở đầu chim”, “nước đái nóng làm đầu chim tê buốt”, “liên tục mửa thịt rượu ra bãi cỏ ven đường”.
Ngôn ngữ đối thoại trong Cao lương đỏ ngắn gọn, phần lớn mang tính mệnh lệnh hoặc là lời văng tục, tiếng chửi, câu hỏi. Nhiều nhất là đối thoại của tư lệnh Từ với các nhân vật khác:
“Tư lệnh Từ tung chân đá một cái vào đít Vương Văn Nghĩa:
- Ho cái gì?
- Thưa tư lệnh...- Vương Văn Nghĩa cố nhịn ho nói - Cổ họng ngứa quá...
- Ngứa cũng không được ho! Lộ mục tiêu, tao sẽ lấy đầu mày!” [5; tr.18]
Hay:
“Tư lệnh Từ quát lớn:
-         Ai bắn đấy? Chú em, ai bắn đấy” [5; tr.25]
Hay:
“Chi đội trưởng Lãnh ngang nhiên đi đến nói:
- Tư lệnh Từ, đánh khá lắm!
- Đồ chó đẻ! Ông chửi
- Đàn em đến chậm một bước!
- Đồ chó đẻ!
- Nếu không có chúng tôi đến thì ông hết đời rồi!
- Đồ chó đẻ”   [5; tr.142]
…….
Peter Englund – chủ tịch viện Hàn lâm Thụy Điển đã từng khẳng định nguyên nhân làm nên giải Nobel 2012 của Mạc Ngôn: “Sự nghiệp văn chương của Mạc Ngôn có được là do gốc gác từ nông dân”. Nhận định này là lý giải đầy thuyết phục cho đặc điểm ngôn ngữ trong Cao lương đỏ nói riêng và sáng tác của Mạc Ngôn nói chung.
5. Không ngừng sáng tạo, tìm tòi cho mình một hướng đi riêng, Mạc Ngôn đã khẳng định được tên tuổi của mình trong văn học Trung Quốc đương đại không chỉ ở số lượng lớn tác phẩm gây xôn xao dư luận, hấp dẫn bạn đọc trong và ngoài nước mà ông đã đem đến cho văn học đương đại Trung Quốc những sáng tạo mới trong nghệ thuật tự sự theo tinh thần làm sao để văn của ông khác với các nhà văn Phương Tây và cũng khác với các nhà văn Trung Quốc. Có thể xem Cao lương đỏ như là khởi đầu cho những sáng tạo thành công của Mạc Ngôn về nghệ thuật tự sự, cụ thể là ở phương thức tổ chức cốt truyện theo lối phân mảnh tuy rối rắm nhưng rất linh hoạt và hấp dẫn, ở việc sử dụng và phối hợp một cách hợp lý, hiệu quả điểm nhìn trần thuật, ở sự biến hóa khôn lường của ngôn ngữ văn chương . Sự sáng tạo của Mạc Ngôn còn tiếp tục được thể hiện trong những sáng tác nổi tiếng sau này của ông như Đàn hương hình, Báu vật của đời, Cây tỏi nổi giận.
Thành công trong nghệ thuật tự sự của Cao lương đỏ nói riêng và tiểu thuyết Mạc Ngôn nói chung đánh dấu sự hiện diện của chủ nghĩa hậu hiện đại trong sáng tác của ông, góp phần đưa văn học Trung Quốc hòa nhập vào khuynh hướng hậu hiện đại của văn học thế giới.
     PTN 

Tác giả bài viết Phan Thị Nga (thứ 3 phải sang) 



1 tháng 6, 2015

Những đứa trẻ trong "Bài ca nhà tranh bị gió thu phá"

Ý kiến giáo viên

                                                                               Chử Anh Đào

 Chương trình Ngữ- Văn bậc Trung học cơ sở có 13 tác phẩm dịch từ chữ Hán của các tác giả trong và ngoài nước. "Bài ca nhà tranh bị gió thu phá" của nhà thơ kiệt xuất đời Đường Đỗ Phủ (712-770) sách Ngữ- Văn lớp 7 (trang 131-135) là một trong số đó.                              
Giá trị nhân đạo lớn lao là điều không thể phủ nhận trong tác phẩm này. Nhà thơ đang trong hoàn cảnh nhà tranh bị gió thu thổi tốc mái, nhà dột, rét mướt, già yếu, không ngủ được nhưng vẫn nghĩ đến và ước ao điều tốt đẹp sẽ đến với những người nghèo khác: "Ước được nhà rộng muôn ngàn gian/  Che khắp thiên hạ kẻ sĩ nghèo đều hân hoan...Riêng lều ta nát, chịu chết cũng được" (Khương Hữu Dụng dịch). Đúng là vằng vặc một tấm lòng tiên ưu hậu lạc của kẻ sĩ chân Nho. Nhưng theo tôi thì có thể chọn những bài khác trong di sản tác phẩm đồ sộ của Đỗ Phủ mà không nên đưa bài này vào chương trình để dạy cho học sinh THCS vì những lí do sau đây:
 1. Thực tế đã chứng minh: Không phải tất cả các câu, các tác phẩm của một nghệ sĩ lớn đều đúng, đều hay. Nhà thơ lớn vẫn có những câu thơ "thật thà" kiểu: "Đoàn là gì nhỉ em ơi/ Là không quen biết lại ngồi với nhau". Hoặc: "Giên Phôn Đa/ Lột trần chị ra/ Chúng thấy gì?/Một trái tim dũng cảm"...
 2. Bài thơ quá dài, 23 câu thơ dài ngắn khác nhau, ít vần điệu, khó cảm thụ, khó thuộc. Tác phẩm như một câu chuyện được kể lại bằng văn vần, giá trị nghệ thuật hạn chế (Trong khi các bài thơ khác: Nam quốc sơn hà, Tĩnh dạ tứ, Tụng giá hoàn kinh sư, Hồi hương ngẫu thư... đa số chỉ 4 câu, cô đọng, súc tích, giàu tính biểu cảm)
 3. Đối tượng trữ tình trong bài là những đứa trẻ, tuổi sàn sàn với các em học sinh lớp 7, lớp 8 của chúng ta. Những đứa trẻ trong bài thơ hiện ra với những tính cách không đẹp một tí nào. Trước hết là lũ trẻ xóm Nam vô lễ, coi thường người già, nhẫn tâm, ngang nhiên ăn cướp: "khinh ta già yếu/ Trước mắt ta dám làm đám kẻ cướp/ Công nhiên ôm tranh chạy vào bụi trúc", khiến ông già là tác giả "Rát cổ bỏng họng gào chẳng ăn thua gì/  Đành quay về chống gậy đứng thở dài." Tối đến, mưa vẫn rả rích không ngớt. Tác giả lên giường với "cái chăn vải đã cũ, lạnh như đồng" và thằng con trai: "kiêu nhi, ác ngọa, đạp lí liệt". Dịch nghĩa: "Đứa con kiêu ngạo, nằm ngang ngược, đạp rách hết chăn". Nếu xuất hiện những đưa trẻ gom tranh giúp ông hoặc đứa con ôm lấy người cha ân cần hỏi han: cha có lạnh lắm không thì tính giáo dục của tác phẩm sẽ cao hơn rất nhiều.
  Giả sử có tình huống trong giờ học, nếu một học sinh nào đó hỏi giáo viên: "Thưa cô, sao những đứa trẻ trong bài thơ lại hư hỏng như vậy?" thì người dạy sẽ rất khó trả lời.

                                                          PK 1/6/15

                                                               A.Đ

                                      Nhà thơ Đỗ Phủ;  712-770 (Ảnh từ internet)


29 tháng 5, 2015

Tôi đi nằm viện


Chọn đúng dịp cuối năm tôi xin nghỉ việc một ngày để đi khám sức khỏe tổng quát định kì. Ở bệnh viện Thống Nhất có quy định 6 tháng người bệnh được đi khám tổng quát một lần nhưng tôi thì cứ 12 tháng mới đi. Một là vì tôi lười khám. Hai nữa là trước đó công đoàn trường cũng đã tổ chức cho GV, CB, NV được khám rồi. Vậy là một năm tôi có hai lần khám tổng quát ở hai bệnh viện khác nhau. Một ở nơi tôi đăng kí bảo hiểm y tế là BV Thống Nhất và một nữa ở nơi trường hợp đồng thuê khám.
Theo kinh nghiệm, tôi không ăn sáng và dậy đi sớm. Tiếng là bệnh viện dành cho đối tượng trung cao nhưng ở Thống Nhất lúc nào cũng đông nghịt người bệnh. Đa số là ông già bà lão về hưu đã lâu ngày, đi chậm và nói khẽ (vì loại này muốn đi nhanh nói to cũng không còn sức chứ không phải họ văn minh lịch sự gì).
Khám tổng quát nghĩa là phải đi qua hàng chục phòng khám chuyên khoa với hàng chục vị BS khác nhau. Tôi ghét nhất ở phòng khám siêu âm. Một cô y tá trẻ bảo tôi nằm dài lên giường cởi thắt lưng ra. Tôi đang lóng ngóng vì ngại thì cô y tá đã kéo tụt hẳn quần tôi xuống quá mông, rồi xoa lên một lớp dầu mỡ gì đó lạnh ngắt để một bà BS khác dò máy siêu âm màu.   
Vừa nhìn trên màn hình đến đâu bà BS vừa phán đến đấy: Gan nhiễm mỡ nha, máu cũng nhiễm mỡ nha…  Rồi bà yêu cầu tôi nên bỏ hẳn bia rượu, bớt ăn thịt và tăng thêm rau trong bữa cơm… Khi tôi đã ngồi dậy rồi, bà BS tỏ vẻ ân cần hỏi chứ anh còn thấy thường bị đau hay nhức mỏi chỗ nào nữa không. Tôi nói là hay bị đau lưng, nhất là đau mỏi ở vùng thắt lưng. BS khuyên tôi nên sang khoa chẩn đoán hình ảnh chụp MRI để kiểm tra vùng cột sống cho chính xác. Tôi bảo vậy để tôi sang đó chụp luôn cho khỏi mất thì giờ. Bà BS nói ngay: không được. Người bệnh ngoại trú mỗi lần chụp MRI phải bỏ tiền túi ra trả 2,5 triệu. Nếu muốn miễn phí theo chế độ điều trị bảo hiểm thì tôi phải lập thủ tục nhập viện để thành một bệnh nhân nội trú. Khi đó bệnh nhân sẽ được miễn toàn bộ viện phí kể cả chụp MRI. Tôi hỏi nếu nhập viện luôn bây giờ thì có được chụp ngay không. BS bảo hôm nay nhập thì nhanh nhất sáng mai mới chụp được. Có phim với kết quả rồi xuất viện ngay, mất mát gì đâu mà sợ. Tôi nhẩm tính vậy là mất hai ngày nhưng biết được chi tiết tình trạng cột sống và vùng thắt lưng thì cũng tốt. Bấm máy thông báo cho bà xã. Bả nghe rồi bảo vậy nhập viện luôn đi. Mấy khi được chụp MRI miễn phí.  
Vậy là bà BS phòng khám siêu âm viết phiếu nhập viện cho tôi vào khoa nội thần kinh ngay.
Tôi với hai bàn tay không tung tăng như một kẻ đi dạo phố làm thủ tục nhập viện để thành một bệnh nhân nội trú. Đây là lần đầu tiên trong đời tôi làm bệnh nhân nội trú của một bệnh viện bởi đời tôi từ trước đến nay chưa đau ốm gì đến mức phải nhập viện cả. 
Phòng bệnh với nhà WC khép kín trên lầu 3 có hai giường nệm khá sạch sẽ và thoáng. Làm gì có chuyện hai, ba người bệnh nằm chung một giường đâu nhỉ. Ở giường đối diện là một bác hưu trí già gần 80 tuổi hom hem, đầu gối chân và cả cột sống đau nhức nhối đi lại khó khăn với một bà vợ già cũng gần bằng ông vào chăm nuôi đang bắc ghế ngồi đọc báo ngoài ban công. Họ nội trú ở đây đã hơn chục ngày. Tôi đang đứng lóng ngóng cạnh cái giường thì một cô y tá điều dưỡng vào đưa cho một bộ quần áo bệnh nhân có lẽ trước đây là màu thiên thanh nhưng giờ thì nó bợt bạt không ra cái màu gì. Hình như gần với màu xám tro. Thêm tấm ga trải giường với một cái chăn mỏng và cái gối.  Trải ga xong đâu đó tôi leo lên nằm xoải chân thoải mái vô cùng. Nằm viện nội trú thế này cũng sướng.
Đang lim dim nhìn cái quạt trần quay thì một y tá khác vào nắm tay đo huyết áp làm bệnh án. Rồi một anh BS còn trẻ có bảng tên là Hiền vào thăm khám. Tôi nhân tiện trình bày luôn là thực ra tôi không bị đau ốm gì cả. Chẳng qua phải nội trú vô đây để được chụp MRI theo tư vấn của BS phòng khám. Anh BS gật đầu: Cháu hiểu rồi. Nhiều người vào đây với mục đích như chú lắm. Rồi anh ta cấp cho tôi một nắm thuốc bảo phải uống làm hai lần trong ngày cho hết rồi viết phiếu chỉ định cho tôi 9h sáng mai lên khoa chẩn đoán hình ảnh chụp MRI. Tôi nghĩ vậy là chậm lắm thì chiều mai mình xuất viện được rồi. Nhập hôm trước hôm sau xuất, chưa đến hai ngày nằm viện. Có lẽ tôi đạt kỉ lục về bệnh nhân nội trú điều trị nhanh nhất nước trong năm cũng nên.
Anh BS đi rồi, bà vợ của ông bệnh nhân ở giường đối diện đặt tờ báo xuống nói: Vậy mà thấy chú vào nhanh nhẹn hăng hái trải ga giường tôi tưởng là chú đi chăm nuôi người nhà chớ. Ai dè chú lại là người bệnh. 
Hừm. Tôi mà là người bệnh thì cả thành phố này còn ai khỏe nữa.
Trưa đó tôi xuống cantin bệnh viện ăn hết một đĩa cơm cá nục kho, ăn thêm một tô hủ tiếu với một đĩa to rau xà lách nữa mới no. Lên lại phòng bệnh, ngủ một giấc đến 3h chiều tôi kín đáo trút bỏ lại bộ quần áo nhàu nhĩ không biết là sạch hay bẩn của bệnh viện rồi nhẹ nhàng lách vô thang máy trốn về nhà ăn cơm chiều, tắm rửa và ngủ ở nhà cho nó sướng. Ngu gì nằm giường bệnh trong lúc mình có đau ốm bệnh tật gì đâu. Sáng mai lại nhâp viện sớm. Có hề hấn gì.
Sáng hôm sau tôi có mặt ở bệnh viện lúc 7h. Vừa thấy tôi anh BS Hiền đã cảnh cáo: Tối qua chú trốn viện là sai quy định nha. Lãnh đạo mà biết là phê bình cả chú và cháu đấy. Rồi anh ta cúi xuống nói nhỏ vô tai tôi: chú có trốn thì cũng phải đợi sau 8h tối, khi BS trực đi kiểm tra, thăm khám bệnh nhân xong đã nhé. Ai đời bệnh nhân nội trú mà bỏ trốn hiên ngang như chú chứ.
Hì. Anh BS trẻ này tốt thật. Vậy mà người ta với báo chí cứ thêu dệt cả hàng ngàn câu chuyện về sự xấu xa của đội ngũ thầy thuốc, của ngành y, của những con người từ lâu đã được mệnh danh là lương y như dì ghẻ. Trong lúc tôi vào bệnh viện này thấy toàn người tốt. Không lẽ bệnh viện Thống Nhất là một ốc đảo của ngành y nước ta.
Đúng 9h tôi cầm phiếu của BS Hiền lên phòng chụp MRI. Lần đầu tiên tôi được chui cả đầu và người vào một cái máy gọi là MRI. Bên trong cái máy MRI đó tối tăm như địa ngục và rú rít lên những tiếng kêu ma quái ghê rợn. Cứ như là mình đang tham gia vào một trò chơi cảm giác mạnh. Sau này chết nằm trong quan tài chắc cũng giống thế này quá.
Chiều tôi lên phòng BS trực của khoa hỏi xin phim và xem kết quả chụp  thế nào. BS Hiền bảo chưa được chú. Sáng mai đầu giờ các BS của khoa sẽ tập trung đọc hết phim chụp hôm trước của bệnh nhân và thống nhất đưa ra kết luận cuối cùng. Tôi nói vậy làm sao chiều nay chú ra viện được. BS bảo cho dù có kết luận là không sao rồi thì chú cũng chưa thể ra viện được bởi theo quy định của BV bệnh nhân khi đã vào nội trú ít nhân phải 3 ngày sau mới xuất viện được.  
Thế có chết tôi không. Lại phải thêm một ngày chờ đợi nữa trong cái không gian chẳng có gì thú vị này.
Tối đó đúng 8h, đợi cho BS và y tá điều dưỡng trực ca đêm đi thăm khám, đo huyết áp và phát thuốc uống xong, tôi lại lẹ làng thay đồ rồi ra nhà xe lấy xe phóng về nhà.
Vậy mà cũng phải đợi đến 15h chiều hôm sau tôi mới được cầm cái phong bì to đựng phim chụp MRI với cái kết luận ghi rõ bằng hai chữ viết tắt BT của BS trưởng khoa (BT là bình thường không phải bó tay) cùng một nắm giấy tờ các loại lên phòng viện phí đóng dấu vào hóa đơn thanh toán. Tổng chi phí cho 3 ngày nằm viện với chụp MRI hết hơn 4 triệu đồng. Quái, những thứ gì mà đội giá lên cao thế nhỉ. Trong lúc ăn uống thì mình phải tự túc hết rồi. May mà chế độ bảo hiểm của tôi được miễn viện phí 100%, không phải cùng chi trả xu nào.
Bắt tay chào tôi, BS Hiền cười tinh quái: Nói thiệt với chú, những người đã đến tuổi U60 như chú mà không đau với nhức mỏi cột sống thì mới lạ. Nếu chú tìm ra một người như thế cháu sẽ trả áo Bs lại cho bệnh viện về làm nông dân trồng lúa với ông bà già cháu ở quê ngay.
Đó có lẽ là một điều chắc chắn. Tôi nghe và nghĩ vậy.
Phóng xe ra đến ngã tư Bảy Hiền tôi thấy phố phường hôm nay sao đẹp và đáng yêu thế. Ai nói là sức khỏe quý như vàng. Phải nói là sức khỏe quý gấp hàng vạn lần vàng ấy chứ.
Kệ. Mất ba ngày lằng nhằng trong Thống Nhất nhưng xác định được cái cột sống với vùng thắt lưng hay nhức mỏi không bị gì cũng tốt. 
Hôm sau lên trường, gặp ông thầy trưởng khoa tâm lí, vô tình ổng hỏi tôi dạo này sức khỏe thế nào. Tôi kể lại câu chuyện 3 ngày làm bệnh nhân nội trú với vụ chụp MRI cho ông PGS già nghe. Ông vỗ tay đánh đét: Chết rồi, vậy là chú mi bị thằng Thống Nhất nó lợi dụng cho sập bẫy rồi. Tôi há hốc mồm: Thầy nói sao chứ em có thấy nó sập bẫy với lợi dụng gì em đâu. Ông trưởng khoa Tâm lí cười to: Chú lại ngây thơ nữa rồi.  Bà vợ tôi là BS chuyện gì mà tôi không biết. Số là cuối năm rồi mà cái khoa nội thần kinh nó chưa đạt đủ số lượng bệnh nhân điều trị nội trú trong năm theo kế hoạch đã đề ra từ đầu năm nên nó bấm với mấy vị BS phòng khám là kéo cho nó mấy bệnh nhân nhập vô nội trú, chỉ cần mỗi vị nhập 3 ngày là ok. Đấy, chú mi là nằm trong số đó.
Ối trời ơi. Lại có cả cái gọi là hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch chết tiệt đó trên đời này nữa sao.
Chuyện đã hai năm bây giờ mới kể.

  

26 tháng 5, 2015

Thơ của người đàn bà tuổi ba mươi

                    
          (Đọc "Phác thảo đêm" của Ngô Thanh Vân- NXB Hội Nhà văn- H.2015)

                                                                                                          Chử Anh Đào

          Tôi rất quan tâm tới chân dung đồng loại, nhất là những người cùng hội cùng thuyền. Để biết họ, ngoài những quan sát đầy chủ quan, võ đoán vì định kiến và những đơm đặt không mấy thiện ý của thiên hạ thì tốt nhất là qua nhật kí, qua tự bạch và tác phẩm của họ. Và đêm qua tôi đã thấy một người...
          "Phác thảo đêm" là tập sách thứ 5 sau 9 năm công bố tác phẩm thứ nhất của nhà giáo- nhà thơ Ngô Thanh Vân, người đã được tới 4 giải thưởng về văn học nghệ thuật ở trung ương và địa phương. Sách dày 146 trang, gồm 51 bài thơ được chia theo, tạm gọi là 5 "chủ đề" về những người ruột thịt, về quê hương đất nước... Nhưng nổi bật lên cả là những rung động, suy tư, giằng xé, vật vã của chính cá nhân tác giả.
          Mỗi tác giả, mỗi trào lưu sáng tác đều có những thời gian nghệ thuật khác nhau. Các nhà thơ cách mạng thường viết về các buổi sáng mai- thời khắc bắt đầu của sự sống với "mặt trời chân lí chói qua tim". Các nhà thơ mới hay nói về buổi chiều, về cái cô đơn sắp kết thúc mà có lẽ tiêu biểu là "Ngậm ngùi" của Huy Cận. Trong lịch sử văn học Việt Nam thì Nguyễn Du cũng là người thức khuya nhất, hay nói về đêm nhất: "Trong trường dạ tối tăm trời đất", "Hòm gỗ đa bó đóm đi đêm", "Đêm vắng, đồng hoang, đom đóm bay tứ tung", "Tiếng trống canh làm lạnh cả đêm hè", "đêm tối đen biết tìm đâu ra ánh sáng tươi đẹp?"... Có người nhận xét: những người hay thức là những người giàu nội tâm. Người phụ nữ là tác giả giờ tuổi ba mươi, cái tuổi đẹp nhất của một đời người. Tất cả đều đã khác xưa, từ ánh mắt, nụ cười, những giọt nước mắt, lời ru, tình yêu...Tất cả đều đã chín, đã viên mãn, đã vị tha nhưng vẫn ráng hết mình dù có bị xô đẩy, dập vùi, gãy cả chân thì vẫn không nao núng rướn về phía trước để đi tìm bản ngã đích thực của chính mình (tr 33, 45).


                                   Phác thảo đêm của Ngô Thanh Vân

          Người phụ nữ này sau những ban ngày vật vã mưu sinh vì tiền bạc, áo cơm "ghì sát đất" (Nam Cao), sau chồng con đã ngủ, thiên hạ đã chìm vào cơn mê, giờ háo hức với chút không bận bịu đời thường để đối diện với chính mình: "Còn phút giây này thôi/ mai lại cơm áo gạo tiền/ gạo tiền cơm áo/chữ chảy theo ròng rã mồ hôi/ nên với đêm/ ta thật lòng hoan hỉ/ mở ra. Mở ra. Ấm áp phận người" (Tự khúc đêm/tr 11,12). Nhưng sự "mở ra" này không lấy gì là thanh thản. Trái lại, đầy chông gai, phức tạp, rối như bụi lau ngày nắng gió.
          "Phác thảo đêm" chủ yếu bày tỏ cái tôi trữ tình của tác giả với những cung bậc tâm hồn thầm kín, chân thật và vô cùng phong phú. Nếu có những bài hướng ngoại như viết về cha, mẹ, chồng con, buôn làng, góc phố... thì vẫn là hiển hiện một cái Tôi Ngô Thanh Vân không trộn lẫn.
          Tác giả đã ngoài ba mươi, rồi sẽ chợt đâu "bất hoặc", "tri thiên mệnh". Nói như một nhà thơ người dân tộc thiểu số: "Cứ nói rằng nhiều tuổi/ Điều đó anh biết rồi/ Nhiều tuổi mà con gái/ Vẫn là con gái thôi". Đối diện với đêm ở Ngô Thanh Vân trước hết vẫn là sự đối diện của giới tính. Tác giả xưng "tôi", "em", tự nhận là "người đàn bà tham công tiếc việc", là "bướm đêm", "thiêu thân", "chim sợ cành cong"...để cảm nhận và phát biểu, trước hết là những vấn đề muôn thủa: không có lúa mà xay, không có nước để làm nguội bớt những dục vọng "nóng rẫy bản năng vùng vẫy". Những bi kịch của những đứa con tinh thần giữa một bên là những "máu/ mồ hôi/nước mắt", "trân trọng", "rưng rưng" của người sinh thành ra chúng và một bên là địa chỉ không mong đợi: "Trong quang gánh của bà đồng nát vừa đi ngang qua nhà". Những sinh linh mà người ta nhẫn tâm vứt bỏ và một bên là những người đỏ mắt trông chờ (tr 64). Những đứa con thiếu cha do một lần lầm lỡ của người mẹ trẻ ru con. Những tranh cãi về trinh tiết. Những khát vọng mơ hồ...Tác giả tự nhận là người đã "nếm tận đáy nỗi buồn" (tr 27). Người đàn bà này đã "mặc niệm, lập trình, sám hối, ngộ", đã phải tranh đấu với những "thị phi", "hoài nghi" giăng mắc khắp nơi trong cuộc sống thường nhật để dằn lòng, vượt lên và tồn tại. Kiên quyết dứt khoát đấy nhưng cũng đầy cam chịu, nhẫn nhục thà vẫn "đồng sàng" mà tùy "dị mộng" vì một lí do nhân văn hơn là những đứa con. Vẫn "khó ngặt qua ngày, xin sống" (Nguyễn Trãi) khi hạnh phúc chia lìa; "Giọt nước đã tràn li/ Làm sao mà hốt lại" (Chia đôi) Lại chợt nhớ tới Nguyễn Du: "Chậu nước đổ, thế là hết, khó lòng vét lại/ Ngó sen đứt, thương thay tơ vẫn còn vương" (Thơ chữ Hán)
          Vẫn là Ngô Thanh Vân tình nghĩa, đầy yêu thương, sống có trước có sau khi viết về các đối tượng trữ tình khác như mẹ, cha, chồng, các con. Ngay cả gương mặt phố của những kiếp cần lao đầy "lo âu toan tính". Mới chạm khẽ vào mùa thu thôi đã "sương giăng ngập kín lối về". Nhà thơ thấy mình có lỗi trước một A Chông nhọc nhằn, nghèo khó (tr 119); xót xa "Rủ nhau về cõi mông lung" khi rừng biến mất (tr 120).
          Toàn tập, bài nào cũng đọng lại trong lòng người đọc những suy ngẫm. Nhưng tôi thích nhất hai bài làm theo thể lục bát: "Người ơi, táo rụng sân đình " (tr 68) và "Ru mẹ" (tr 87).
          Qua tập thơ,vượt lên trên tất cả những khó khăn, vật vã của đời sống là chân dung một con người giàu nghị lực, trung thực với bản thân và một trời đa đoan thi sĩ chứ không phải qua một lăng kính hay ảo giác nào (tr 35).
          Tuy nhiên, "Phác thảo đêm" sẽ tỏa sáng hơn nữa nếu tác giả lưu tâm hơn khi sử dụng từ ngữ. Thật khó nuốt trôi từ "bán trôn" trong câu thơ "Thiếu phụ không bán trôn" (tr 49) không phải vì mức độ Thanh hay Tục của nó mà vì có thể thay thế bằng những từ khác. "bán mua" hay "coi mình là hàng hóa" chẳng hạn. Còn "Gió Tây nguyên như nhựa hí vang trời" là một câu thơ dễ dãi, nhiều người đã mắc cách diễn đạt này. "Từ "phận" nghe sao mà chua xót" (tr 95) thấy hao hao thật thà kiểu P.Đ.L.
          Thứ đến là những bài thơ viết cho con gái, con trai. Vẫn biết là những lời dạy bảo để dành nhưng có cảm giác chúng quá nghiêm trang, nghiêm trọng, kiểu "Con người muốn sống con ơi/ Phải yêu đồng chí yêu người anh em" (TH). Nhà thơ dặn con gái: "Dẫu bên ai, con hãy nhớ một điều/ Sống thật lòng mình. Và, cần bản lĩnh" (tr 96); con trai: "Ngày con sinh biển Đông dậy sóng/ Con có làm Thánh Gióng?.../Khi đất nước cần con phải biết hi sinh" (tr 101).
          Cuối cùng, đành rằng không ai nghi ngờ ý thức công dân và lòng nhiệt tình yêu nước của tác giả nhưng nhiều câu trong hai bài thơ cuối cùng: "Biển" (tr 136) và "Biển gọi" (tr 139) là những câu khẩu hiệu đích thực./.
                                                                             PK 22/5/15

                                                                                  C.A.Đ


20 tháng 5, 2015

Người tốt người xấu


Nhớ bữa ra Vinh tháng trước, Nguyễn Trung Ngọc và tôi ngồi đàm đạo với nhau về một nhân vật mà cả hai chúng tôi cùng quen biết. Tôi bảo nhân vật gọi là  X ấy chẳng được tích sự gì. Ngọc thì cho rằng vậy nhưng nó là một người tốt.
Tôi thấy chỗ này có cái gì đó chưa ổn.
Trên thực tế, để khẳng định một con người là tốt hay xấu cũng là cả một vấn đề khá phức tạp. Đứng từ góc độ này thì sẽ nhìn thấy một con người này, đừng từ góc độ kia sẽ nhìn ra một con người khác. Vì thế trong  việc nhìn nhận một con người cụ thể không khéo sẽ dẫn đến oan sai và rơi vào trạng thái cực đoan.
Nhưng nói đơn giản lại, để trở thành một con người tốt trong xã hội, người đó phải ít nhất sống tốt và làm được việc tốt. Nếu con người ta sống ở trên đời mà không sống tốt và làm được việc gì tốt thì đó là một người không tốt nếu không nói là người xấu. Còn thế nào là sống tốt và làm việc tốt thì tùy quan niệm và góc độ nhìn nhận của mỗi người mà đưa ra sự đánh giá của riêng mình.
Cả tuần nay tôi đã cất công đọc hết cuốn truyện kí (mà thực chất là nhật kí) Sóng trắng của Nguyễn Văn Giai dày đến 790 trang do người con trai đầu của tác giả mang từ Quy Nhơn vào tặng. Tác giả Nguyễn Văn Giai (1933-2010) là thầy dạy tôi môn Văn học Nga hồi năm 2 đại học. Khi tôi ra trường về dạy ở khoa Ngữ Văn ĐHSP Quy Nhơn thì ông là Trưởng khoa và tôi cùng sinh hoạt chuyên môn với ông trong tổ bộ môn Văn học nước ngoài. Cuốn nhật kí dày dặn của ông đã viết một cách rạch ròi và chi tiết về những người là đồng nghiệp một thời của tác giả khi ông còn làm công tác giảng dạy tại khoa Văn ĐH Vinh những năm 1969-1970. Trong đó ông đã ca ngợi những con người mà ông cho là tốt và phê phán những người mà ông cho là không tốt. Dù đã được tác giả thay tên đổi họ nhưng những ai từng là giảng viên, sinh viên khoa văn Đại học SP Vinh những năm sơ tán vì chiến tranh đều nhận ra hình bóng của những nhân vật có thật ở ngoài đời tốt và không tốt trong cuốn sách Sóng trắng của Nguyễn Văn Giai.
Người tốt và người không tốt (nếu không nói là người xấu) trong Sóng trắng là dưới con mắt nhìn đầy thiên kiến chủ quan của tác giả Nguyễn Văn Giai. Nhưng ở ngoài đời và dưới con mắt nhìn của người khác thì thực tế chưa hẳn đã như thế. Vả lại nói cho công bằng, tác giả đã đứng từ quan điểm nào để có quyền phê phán người này là tốt còn kẻ kia là xấu. Cũng vì thế mà cuốn sách đã gây nên những tác động nhiều chiều với các đồng nghiệp ở khoa Văn ĐH Vinh khi nó được phổ biến ở đây.
Đó là cả một vấn đề có ý nghĩa phương pháp luận trong sáng tác văn học nói riêng cũng như trong cuộc sống nói chung.


Trở lại với câu chuyện như một sự đàm đạo ngẫu hứng giữa tôi và Nguyễn Trung Ngọc về nhân vật X ở trên. Sau khi nghe tôi đưa ra thiên kiến của mình, Ngọc gật gù: có lí.
Cũng từ đó mà tôi thấy Ngọc rộng lượng hơn tôi trong cách nhìn nhận về con người. Có vẻ như trong chuyện này tôi khắt khe quá chăng.