26 tháng 3, 2014

"Cung bậc hồn cha ông"



                                                                  Chử Anh Đào

          Đó là một câu trong bài thơ “Đàn Tơ rưng” của Huy Cận. Nguyên văn:
                             … …
                             Anh bắc qua năm tháng
                             Chiếc cầu phao âm thanh
                             Đời hai đầu mưa nắng
                             Đàn mắc võng tâm tình

                             Mỗi câu em đậm đà
                             Mỗi tiếng lòng anh dội
                             Câu trầm bổng thiết tha
                             Vọng ru lời rừng suối

                             Anh cùng em ta nối
                             Qua trăm núi nghìn đèo
                             Tiếng quê hương vời vợi
                             Như dậy rừng nứa reo

                             Tiếng đá lồng tiếng nứa
                             Cung bậc hồn cha ông
                             Bậc cao như đỉnh núi
                             Bậc trầm hơn đáy sông

                             Đàn nối lòng Đăm San
                             Đàn nối tình Xinh Nhã
                             Nối ân tình đôi ta
                             Tựa lửa bền trong đá.

          Tôi biết bài thơ này từ năm 1976, cùng thời với “Mùa xuân đầu tiên” của Văn Cao, trong chương trình dạy hát trên Đài tiếng nói Việt Nam. Sau này tiếp xúc với văn bản, tôi biết thêm bài thơ còn một khổ đầu kể về công việc làm đàn và Huy Cận đề tựa “Tặng Kpa Púi”. Hồi đó sách vở khan hiếm. Tôi phải mượn thư viện trường về hàng trưa ngồi chép “Bài ca chàng Đam San”, “Xinh Nhã”. Ròng rã cả tháng trời như thế. Chép xong thì thuộc luôn. Nhưng trong hai trường ca này không nhắc tới đàn Tơ rưng. Tôi cũng không biết nó là gì, chỉ mù mờ cảm thụ qua lời bài hát. Thật may, các khoa trường tôi đều có các anh chị người Tây Nguyên là “ học sinh miền Nam” theo học. Trong số họ, tôi thân với vài người. Tôi hỏi anh U Đia về đàn Tơ rưng. Anh bảo: Tưởng gì, cái ấy quê tao đầy! (Sau 1977 mới biết anh là người Xơ Đăng, quê ở Đak Ruồng- Kon Rẫy- Kon Tum) Anh giảng giải: Kpa là một họ của người JRai. Còn đàn Tơ rưng thủa xa xưa làm bằng đá. Bây giờ phổ biến làm bằng ống lồ ô (một loại giống cây nứa). Người ta chặt lồ ô về phơi khô rồi dùng dao gọt thành những đoạn từ dài tới ngắn không bằng nhau rồi buộc lại với nhau, để trên rẫy đuổi chim và để người trong chòi rẫy nghe cho vui tai. Âm thanh của nó phát ra nhờ những cơn gió, hoàn toàn tự động. Tự động kia đấy!Mày thấy quê tao ghê gớm chưa? Tôi bảo: Ghê! Bao giờ giải phóng, em nhất định vào quê anh.Trở lại, có những bài thơ hay ở cái tứ, cái tình; lại có bài hay ở câu, chữ (nhãn tự); “Đàn Tơ rưng” hay từ những câu đầu tiên bởi sự liên tưởng, so sánh ngầm rất tài tình và tài hoa hình hài cây đàn với “cầu phao”, “võng”. Cây đàn xuất hiện như một sự an ủi kiếp người qua thời gian và mưa nắng của cuộc đời.
          Qua bàn tay chế tác của các nghệ sĩ dân gian mà những vật liệu thô mộc, gần gũi, tưởng như không làm được việc gì (đá, nứa) đã cất lên tiếng nói. Đó là tiếng của “em”, tiếng của “anh”, của “rừng suối” và cao nhất, bao trùm là “hồn cha ông” ở muôn vàn cung bậc “cao như đỉnh núi, trầm hơn đáy sông”, vượt qua thời gian “năm tháng” và không gian “trăm núi nghìn đèo” để hòa vào tiếng của anh, của em, thành tiếng “ ân tình” bất tử. “ Đăm San” và “Xinh Nhã” là văn hóa truyền thống, tượng trưng cho khát vọng sống và tình yêu từ ngàn xưa của cha ông đã được đàn Tơ rưng “nối” vào “đôi ta” hôm nay. Đàn Tơ rưng như chiếc cầu nối giữa quá khứ và hiện tại yêu thương được tác giả sử dụng với một so sánh tu từ rất đắt: “Tựa lửa bền trong đá”. Hai đối tượng khác biệt nhưng thân thuộc : “đàn” và “lửa” (ở trong đá) lại có cùng một phẩm chất là: có tự ngàn xưa và trường tồn mãi mãi.
          Vừa qua, một ca sĩ tương đối nổi tiếng thể hiện trực tiếp bài hát này ở Plei Ku nhưng đã hát “đời” thành “đợi” và không hát câu cuối cùng. Tiếc thay!
                                                                            
                                                                               C.A.Đ
                                                         
                            

25 tháng 3, 2014

Mai chiếu thủy



Là một trong những loài hoa mai chỉ có từ các tỉnh Nam Trung Bộ trở vào, từ Quảng Trị trở ra đảm bảo không biết mai chiếu thủy là như thế nào. Loài hoa này trắng muốt, trắng đến tinh khôi, mỗi bông có 5 cánh nhỏ li ti, khi nở đài hoa chúc xuống đất. Nếu muốn nhìn thấy đài hoa và nhị hoa mai chiếu thủy người ta phải đặt nó trên mặt nước rồi nhìn nó qua sự phản chiếu từ mặt nước. Vì thế mà gọi là mai chiếu thủy (còn có tên khác là mai chiếu thổ nhưng không thấy ai gọi như thế). Loài mai này có hương thơm gần giống hương hoa lài, ưa chịu nắng và nở quanh năm, hết lứa này ra lứa khác.
Nhiều người chơi mai chiếu thủy bảo nó cũng đỏng đảnh như mai vàng, nhưng tôi có hai cây mang từ Bình Định vô trồng trên sân thượng, chăm bón rất amateur mà vẫn thay nhau ra hoa liên tục (có lẽ do tay tôi mát và người cũng...mát nữa).
Cây lớn tôi mua ở công viên Quang Trung, Quy Nhơn từ năm 1996 khi lần đầu tiên tôi có một căn nhà. Ngày lần đầu tiên được vô căn nhà mới của riêng mình, thoát khỏi cảnh ở nhà tập thể,  tôi thấy sướng trong người quá liền chạy xe ra vườn hoa công viên, mua nó 65 ngàn đồng bỏ lên ba ga chở về, lúc đó còn bé tí, giờ đã cao cả mét.
Cây nhỏ do một ông bạn vong niên bên bưu điện BĐ tặng cũng nhân ngày vô nhà mới thì tôi hãm lại nên chỉ cao khoảng 3 tấc, gốc cây sần sùi nhìn rất đã con mắt.  
Dù to hay nhỏ thì từ khi vô tay tôi đến nay, đã tròn 18 năm, cả hai cây hoa vẫn nở ầm ầm.
Nở nhiều và thường xuyên đến mức tôi xem đó là sự rất thường, không có gì mà phải ầm ĩ. Ở đời, cái gì mà thường xuyên và có nhiều qúa thì mình không thấy quí dù thực ra nó cũng rất đáng để quí. Như cây mai vàng mỗi năm chỉ nở có mấy ngày Tết thì quí như vàng, dù so với mai chiếu thủy chưa hẳn nó đã đáng quí hơn. Đã thế cây mai vàng năm nào cũng tự hào chĩnh chện ở góc đẹp nhất của phòng khách, còn cây mai chiếu thủy thì chỉ biết khiêm tốn và lặng lẽ nép mình trên góc sân thượng.
Chiều nay đi làm về, lên sân thượng tưới cây, chợt thấy sao hôm nay cây mai chiếu thủy lớn nó trổ bông tưng bừng thế. Chắc mọi lần trước nó cũng thế nhưng vì nở thường xuyên quá nên mình không để ý. Lại chợt thấy mình cũng chỉ là kẻ vô tâm, vô tình.
Bèn lấy máy ra bấm mấy kiểu vào lúc mặt trời đã gần lặn.
Đây là lần đầu tiên tôi chụp hình cây mai chiếu thủy dù nó đã ở với tôi 18 năm nay, chẳng bù cho cây mai vàng năm nào cũng chụp, năm nào cũng khoe.
Nghĩ cũng thấy mình có lỗi.

 Mai chiếu thủy này theo tôi từ BĐ vào, đã ở với tôi tròn 18 năm, ra hoa liên tục và lần nào cũng nở tưng bừng từ gốc đến ngọn.


 Đài hoa luốn chúc xuống mặt đất. Vì thế mà gọi là mai chiếu thổ, mai chiếu thủy 


Ở một góc khác,  có cái dàn lưới trước trồng đậu rồng, giờ trồng chậu bí ngòi. Đã cho ra những quả đầu tiên. Bí này khi to bằng quả mướp đem xào tỏi ăn hết ý.


                                   Quả bự nhất mới đậu được 3 ngày


       

20 tháng 3, 2014

Thằng bạn về hưu



Lứa học cùng lớp cấp 3 với tôi đứa nào chậm lắm thì cũng trong năm 14 này là về hưu, trừ một vài tên ít ỏi khai man lí lịch để được ở lại "phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân" thêm một vài năm nhằm hưởng thêm chút lộc chức quyền.
Mới rồi Khuyến Trung Nghĩa vô, cả bọn học sinh Đồng Hới khóa 68-71 của tôi ở SG tổ chức gặp gỡ ăn uống. Khuyến cho biết tháng 10 ni về hưu. Về đúng ngày đúng tháng vì hắn sinh tháng 10-54.  Nghĩ cũng tiếc. Khuyến đang là GĐ kho bạc tỉnh, tiền nhiều như quân nguyên (kho bạc mà không nhiều tiền thì còn ai vô đó). Vậy nhưng Khuyến nói: về là đúng rồi. Cần rút lui đúng lúc. Hóa ra cái đứa làm về tài chính tiền bạc mà cũng sâu sắc nhỉ. Tưởng hắn chỉ có con số và con số.
Tiễn Khuyến về tuần trước thì hôm qua Phan Thanh Hà từ Hà Nội vô với lí do: Đã nhận quyết định nghỉ hưu từ tháng 3 này, vô là để chia tay các đồng nghiệp cũng là thuộc cấp ở phía Nam và nhân thể gặp gỡ bạn bè cùng lớp cấp 3.
Hà là đứa duy nhất trong lớp cấp 3 bọn tôi lên đến cấp hàm thiếu tướng, hắn làm trưởng một cục to vật gọi là V26 của bộ CA.
Vô chỉ đúng 1 ngày. Buổi trưa Hà gặp gỡ đồng nghiệp thuộc cấp, buổi tối dành cho cuộc gặp với bạn học thời cấp 3.  Rồi ngay trong đêm hắn phải ra sân bay về lại Hà Nội luôn. Vì thế mà cuộc gặp diễn ra tại một nhà hàng của hàng không cạnh sân bay để ra máy bay cho gần.
Mọi người bảo tôi thay mặt phát biểu. Tôi chúc mừng bạn đã đi được và kết thúc được một chặng đường dài quan trọng nhất của cuộc đời; đã làm nên một công danh sự nghiệp khiến nhiều người phải mơ ước. Chúc bạn tiếp tục sống vui sống khỏe trong chặng đường đời còn lại.
Hà về hưu cũng có nghĩa là chia tay với đồng nghiệp trong cục, trong cơ quan bộ CA, còn với đám bạn học bọn tôi thì không có gì mà phải gọi là chia tay. Bạn bè thì vẫn là bạn bè dù là đang làm việc hay nghỉ hưu. 

 Bạn bè cùng lớp cấp 3 trong một lần họp lớp ở QB. Trái sang:
Phan Xuân Vũ, Lê Khắc Chân Như, Phan Thanh Hà, Thủy Nguyễn, Khuyến Trung Nghĩa, Vinh bánh ướt (vì nhà Vinh làm nghề bánh ướt), Hoàng Sơn,  Lê Nam, Phạm Bá Chiểu, Lê Hòa, Nguyễn Bích Thọ, Hà Tùng Sơn, con gái Thọ, Trần Ngọc Hùng.

Trong cuộc vui có người hỏi Hà sao lâu mà không được lên lon trung tướng nhỉ. Hà bảo trời chỉ cho mình đến đó thôi. Vậy cũng là tốt rồi.
Nghe Hà nói mọi người đều nghĩ đến mấy vị trung tướng, thượng tướng, kể cả đại tướng bị chết bất đắc kì tử ngay khi còn đương chức đương quyền, nhất là vụ thượng tướng Ngọ mới đây.
Hà nói đúng, bởi ông cha ta từng đúc kết: Trời cho đến đâu may đến đấy. Và cả câu: Trời không cho không ai một cái gì. Khi cho một cái này, trời sẽ lấy đi một cái khác.
Nghĩ thế là đủ để vui và thanh thản rồi.
Đám bạn bè cùng lớp cấp 3 Đồng Hới với tôi ở SG khoảng 15 đứa, hồi còn học cấp 3 thì dĩ nhiên như nhau nhưng học đại học thì mỗi đứa học một trường rất khác nhau nên ra đời làm việc có nghề nghiệp cũng rất khác nhau. Mỗi lần có một bạn nào từ quê vô hay từ xa đến cũng đều ới nhau gặp gỡ ăn uống chuyện trò rôm rả. Chiều qua gặp nhau ăn uống từ khá sớm nên ăn xong còn đủ thời giờ làm chầu karaoke ngay tại phòng VIP của nhà hàng. Mỗi người được chọn một bài thích nhất để hát. Vui đáo để.
Chia tay Hà, chúng tôi hẹn nhau 27 tháng 7 này sẽ về ĐH làm cuộc họp lớp cấp 3, cùng các bạn ở quê tụ tập ăn chơi một ngày cho thỏa thích.
Về hưu thì về. Có gì mà phải buồn phải ngán.



19 tháng 3, 2014

Người kể chuyện rừng



     (Đọc “Pơ thi”, tiểu thuyết của Thu Loan- NXB Đà Nẵng- 2014)

                                                               Chử Anh Đào
         
          Pơ thi là lễ hội lớn nhất trong số những lễ hội về vòng đời của người JRai nói riêng và nhiều dân tộc Trường Sơn- Tây Nguyên nói chung. Người JRai quan niệm: sau khi mất, hồn người chết, tuy đã về cõi A tâu (ma) nhưng vẫn quẩn quanh bên người sống và vẫn có những nhu cầu trần thế khác. Sau ba bốn năm, nếu có điều kiện, gia đình sẽ làm lễ Pơthi (bỏ mả) để vĩnh viễn chia tay với người chết. Từ đây hồn sẽ về cõi vĩnh hằng “Muốn ăn cơm thì hỏi mặt trăng, muốn uống nước thì hỏi các vì sao…” (Lời khấn) Người sống không còn bị ràng buộc gì, sẽ tiếp tục xây dựng một gia đình mới, bắt đầu cuộc sống mới. Pơ thi là lễ hội mang bản sắc dân tộc độc đáo và đậm đà chất nhân văn của người JRai.

                              Bìa sách Pơthi của Thu Loan

          Nhưng tác giả không chỉ đơn thuần phản ánh lễ Pơ thi. Trong tác phẩm còn nhiều lễ hội khác: chọn đất lập làng, mừng sức khỏe, cơm mới, cầu mưa, cúng giọt nước… Có thể nói khái quát: tác phẩm nói về rừng và các số phận liên quan tới rừng. Chính tên các phần (chương) đã nói lên điều đó: “Thiên đường xanh, Biến đổi, Pơ thi, Hoa rừng, Đại ngàn, Nơi không rừng, Tiếng rừng”
          Hai nhân vật chính của câu chuyện là Rơ man Đih và Kpui Lim. Họ sinh ra và lớn lên ở làng Chan. Họ có những phẩm chất tốt đẹp của những con người chân chính: ngoại hình đẹp đẽ, trung thực, mạnh mẽ dũng cảm, tài hoa, hiếu thảo…và một tình yêu vô bờ bến với rừng. Họ yêu nhau say đắm nhưng lại là một kết thúc không có hậu khiến người đọc cảm thương, tiếc nuối. Nói như tác giả, một người từng trải, kinh lịch: Trên đời này, tất cả mọi thứ đều có thể xảy ra!
          Để lại ấn tượng cho người đọc trước hết là những người ruột thịt trong gia đình Đih. Đó là già Duck. Duck như là cái gạch nối giữa cõi người và cõi thần. Già làng này là người hiểu rừng nhất. Ông luôn tôn trọng, biết lắng nghe, biết ơn và chỉ dạy cho mọi người trong cộng đồng cũng làm thế với Rừng linh thiêng, vĩ đại. Ông tiên lượng được mối quan hệ sống còn giữa người và rừng. Ông ngã xuống và hóa điên khi rừng bị tàn phá, tận diệt.Ông chết mà không nhắm được mắt và lời cuối cùng của Ông là tiếng gọi Rừng thê thiết…Đó còn là bà Mên, ông Duang- cha mẹ Đih- những con người hiền như đất, cả đời lam lũ, khổ nghèo mà bao la một tình thương yêu vô bờ bến với con người.
          Và còn nhiều người khác nữa!
          Nhưng lòng tốt của các nhân vật đã không cứu nổi rừng. Rừng bị lòng tham của con người xứ khác nuốt chửng. Người làng Chan như bị nhấc bổng lên khỏi mặt đất, bơ vơ, hụt hẫng, tróng chênh, không có căn cứ tồn tại. Làng Chan mang tên mới là “ Thôn 1” với những căn nhà xây giống hệt nhau, không chịu nổi qua một mùa mưa nắng, chơ vơ giữa khối hồng trần không một bóng mát chở che.Ước ao phục sinh rừng trở lại của Đih gần như là vô vọng. Rừng cao su không thể là rừng nguyên sinh! Và cũng vì vậy, ước muốn cuối cùng đơn sơ như nghìn vạn năm trước nay vẫn thế của già Duck về quan tài bằng gỗ, về cồng chiêng… không bao giờ thực hiện được. Dù cuộc sống đang tiến về phía trước với những lợi ích và phương tiện nhân đạo mà một làng truyền thống chưa bao giờ có.

                                                  Lễ Pơ Thi (Lễ bỏ mả) ở Gia Lai

           “Pơ thi” là đầu sách thứ 7 của Thu Loan. Trước đó tác giả đã có những truyện ngắn thành công về đề tài dân tộc (Làng ma, Sương mù, Sáu cặp ngà voi…) Đọc “Pơ thi” người ta thấy ngoài sự am tường về văn hóa, phong tục tập quán JRai còn thổn thức một tấm lòng yêu thương gắn bó, sẻ chia của tác giả với cộng đồng này. Những trang tả rừng hấp dẫn; những nỗi nhớ thương của Đih với mẹ, của ông Duang với vợ, của Đih với Lim thật xúc động. Chúng khiến người đọc liên tưởng, thấm thía và trân quí những gì mình đang có. Bởi hạnh phúc là cái gì khi đã mất đi thì người ta mới thấm thía rằng mình từng đã có nó.

          Tuy nhiên, “Pơ thi” còn sót những hạt sạn nhỏ. Ấy là nơi người JRai sinh sống mà lại gọi suối là “Đak” (suối Đak Ning), gọi núi là “Kông” (Kông Ná) Ngoài phần lớn ngôn từ nghệ thuật còn một số từ ngữ nặng phong cách hành chính, báo chí như “quan tâm”, “quyết định”, “trách nhiệm”, “ảnh hưởng”, “tầm quan trọng”…Có cảm giác chúng rất ngọng nghịu trong miệng của nhân vật. Tất nhiên là mỗi người một “tạng”, một thế mạnh, nhưng để xây dựng nhân vật dân tộc, người viết nên chú ý nhiều tới khắc họa đời sống nội tâm và hành động của họ./.
                                                                             C.A.Đ