Chử
Anh Đào
Đó là một câu trong bài thơ “Đàn Tơ rưng” của Huy Cận. Nguyên văn:
… …
Anh bắc qua năm
tháng
Chiếc cầu phao âm
thanh
Đời hai đầu mưa
nắng
Đàn mắc võng tâm
tình
Mỗi câu em đậm đà
Mỗi tiếng lòng anh
dội
Câu trầm bổng thiết
tha
Vọng ru lời rừng
suối
Anh cùng em ta nối
Qua trăm núi nghìn
đèo
Tiếng quê hương vời
vợi
Như dậy rừng nứa
reo
Tiếng đá lồng tiếng
nứa
Cung bậc hồn cha
ông
Bậc cao như đỉnh
núi
Bậc trầm hơn đáy
sông
Đàn nối lòng Đăm
San
Đàn nối tình Xinh
Nhã
Nối ân tình đôi ta
Tựa lửa bền trong
đá.
Tôi biết bài thơ
này từ năm 1976, cùng thời với “Mùa xuân đầu tiên” của Văn Cao, trong chương
trình dạy hát trên Đài tiếng nói Việt Nam. Sau này tiếp xúc với văn bản,
tôi biết thêm bài thơ còn một khổ đầu kể về công việc làm đàn và Huy Cận đề tựa
“Tặng Kpa Púi”. Hồi đó sách vở khan hiếm. Tôi phải mượn thư viện trường về
hàng trưa ngồi chép “Bài ca chàng Đam San”, “Xinh Nhã”. Ròng rã cả tháng trời
như thế. Chép xong thì thuộc luôn. Nhưng trong hai trường ca này không nhắc tới
đàn Tơ rưng. Tôi cũng không biết nó là gì, chỉ mù mờ cảm thụ qua lời bài hát.
Thật may, các khoa trường tôi đều có các anh chị người Tây Nguyên là “ học sinh
miền Nam”
theo học. Trong số họ, tôi thân với vài người. Tôi hỏi anh U Đia về đàn Tơ
rưng. Anh bảo: Tưởng gì, cái ấy quê tao đầy! (Sau 1977 mới biết anh là người
Xơ Đăng, quê ở Đak Ruồng- Kon Rẫy- Kon Tum) Anh giảng giải: Kpa là một họ của
người JRai. Còn đàn Tơ rưng thủa xa xưa làm bằng đá. Bây giờ phổ biến làm bằng
ống lồ ô (một loại giống cây nứa). Người ta chặt lồ ô về phơi khô rồi dùng dao
gọt thành những đoạn từ dài tới ngắn không bằng nhau rồi buộc lại với nhau, để
trên rẫy đuổi chim và để người trong chòi rẫy nghe cho vui tai. Âm thanh của nó
phát ra nhờ những cơn gió, hoàn toàn tự động. Tự động kia đấy!Mày thấy quê tao
ghê gớm chưa? Tôi bảo: Ghê! Bao giờ giải phóng, em nhất định vào quê anh.Trở
lại, có những bài thơ hay ở cái tứ, cái tình; lại có bài hay ở câu, chữ (nhãn
tự); “Đàn Tơ rưng” hay từ những câu đầu tiên bởi sự liên tưởng, so sánh ngầm
rất tài tình và tài hoa hình hài cây đàn với “cầu phao”, “võng”. Cây đàn xuất
hiện như một sự an ủi kiếp người qua thời gian và mưa nắng của cuộc đời.
Qua bàn tay chế tác
của các nghệ sĩ dân gian mà những vật liệu thô mộc, gần gũi, tưởng như không
làm được việc gì (đá, nứa) đã cất lên tiếng nói. Đó là tiếng của “em”, tiếng
của “anh”, của “rừng suối” và cao nhất, bao trùm là “hồn cha ông” ở muôn vàn
cung bậc “cao như đỉnh núi, trầm hơn đáy sông”, vượt qua thời gian “năm
tháng” và không gian “trăm núi nghìn đèo” để hòa vào tiếng của anh, của em,
thành tiếng “ ân tình” bất tử. “ Đăm San” và “Xinh Nhã” là văn hóa truyền
thống, tượng trưng cho khát vọng sống và tình yêu từ ngàn xưa của cha ông đã
được đàn Tơ rưng “nối” vào “đôi ta” hôm nay. Đàn Tơ rưng như chiếc cầu nối
giữa quá khứ và hiện tại yêu thương được tác giả sử dụng với một so sánh tu từ
rất đắt: “Tựa lửa bền trong đá”. Hai đối tượng khác biệt nhưng thân thuộc : “đàn” và “lửa” (ở trong đá) lại có cùng một phẩm chất là: có tự ngàn xưa và
trường tồn mãi mãi.
Vừa qua, một ca sĩ
tương đối nổi tiếng thể hiện trực tiếp bài hát này ở Plei Ku nhưng đã hát “đời” thành “đợi” và không hát câu cuối cùng. Tiếc thay!
C.A.Đ



