5 tháng 1, 2019

Vĩnh biệt thầy Lê Hoài Nam


KỈ NIỆM VỀ THẦY LÊ HOÀI NAM
                                                                                     
HTS: NGND. PGS. Lê Hoài Nam sinh năm 1930, quê ở xã Nghĩa Hòa huyện Tư Nghĩa tỉnh Quảng Ngãi, nguyên Đại biểu Quốc Hội khóa VII, Huy hiệu 65 năm tuổi Đảng, nguyên Hiệu trưởng Trường ĐHSP Vinh (nay là Trường Đại học Vinh), Nguyên Hiệu trưởng Trường ĐHSP Quy Nhơn (nay là Trường Đại học Quy Nhơn) đã qua đời tại nhà riêng ở Làng Đại học Quốc Gia, xã Phước Kiển, huyện Nhà Bè, TP. Hồ Chí Minh lúc 5h55’ sáng ngày 5 tháng 1 năm 2019. Hưởng thọ 89 tuổi.

     Tôi trở thành sinh viên khoa Văn khoá 12 của Trường ĐHSP Vinh từ tháng 9 năm 1971. Do hoàn cảnh chiến tranh, trường sơ tán ở nhiều nơi nên sinh viên khoa nào chỉ biết khoa đó, không biết hiệu trưởng, hiệu phó của trường là như thế nào dù những cái tên của các thầy hiệu trưởng Nguyễn Thúc Hào, hiệu phó Lê Hoài Nam chúng tôi vẫn nghe các thầy trong ban chủ nhiệm khoa nhắc tới thường xuyên và có trong chữ kí giấy gọi nhập trường của mình.
    Mãi đến ngày 10 tháng 9 năm 1972, cái ngày mà tôi không thể nào quên trong cuộc đời mình vì đó là ngày tôi rời Trường ĐHSP Vinh lên đường nhập ngũ để sau đó đi B vào miền Nam làm anh lính giải phóng, tôi mới được thấy mặt hai vị giáo sư đáng kính của trường mình. Đó là buổi chiều tà trên một khu đất trống ở xã Mã Thành huyện yên Thành tỉnh Nghệ An, nơi sơ tán của Trường ĐHSP Vinh, 160 cán bộ giảng dạy và sinh viên của trường tập hợp nghiêm trang trong một buổi lễ tiễn đưa giản dị để lên đường nhập ngũ. Sau bài phát biểu rất ngắn, thầy Hiệu trưởng Nguyễn Thúc Hào cùng thầy Hiệu phó Bí thư Đảng uỷ Lê Hoài Nam đi bắt tay khắp lượt tiễn đưa những học trò của mình lên đường ra trận. Ấn tượng trong tôi là cả hai người thầy có cương vị cao nhất trường đều có dáng hình thấp nhỏ, đi đứng chậm rãi và giọng nói  rất nhỏ nhẹ. Tôi lúc đó vừa tròn 18 tuổi, mới học xong năm thứ nhất, người tròn tròn như củ khoai lang nên được các bạn cho đứng ở đầu hàng quân, vì thế mà tôi vinh dự được cả hai thầy bắt tay và dặn dò. Đến bây giờ, sau 46 năm đã trôi qua, tôi vẫn nhớ mãi lời thầy Lê Hoài Nam: “Các em đi đánh giặc cho nhanh rồi lại về với trường nhé!”. Nói thực là lúc đó tôi đã thấy cay cay nơi sống mũi. Giữa lúc chiến tranh, bom rơi đạn nổ đầy trời, rời trường đại học đi bộ đội mà cha mẹ ở quê cũng không hề hay biết, tôi thấy các thầy đúng là hình ảnh của những người cha đang tiễn con ra trận. Và hình ảnh đó đã mãi theo tôi  trong suốt dọc cuộc hành quân vượt Trường Sơn vào Nam đánh giặc.
    Cuối năm 1975, khi đất nước đã thống nhất, sau khi tham gia giải phóng Sài Gòn, tiếp quản và làm công tác quân quản trong đội hình của Sư đoàn 341, Quân đoàn 4 tại thành phố này, tôi được xuất ngũ trở về trường cũ và vào học tiếp ở khoá 16. Lúc này thầy Nguyễn Thúc Hào đã chuyển ra công tác ở Hà Nội, thầy Lê Hoài Nam trở thành Hiệu trưởng Nhà trường. Tôi lại được tiếp tục những ngày đèn sách của đời sinh viên. Năm 1979, tốt nghiệp, tôi được phân công về giảng dạy ở khoa Ngữ văn Trường ĐHSP Qui Nhơn. Và sau đó không lâu thì thầy Lê Hoài Nam cũng rời Trường ĐHSP Vinh chuyển về làm Hiệu trưởng Trường ĐHSP Qui Nhơn. Vậy là tôi lại được ở dưới trướng thầy. Có chuyện vui vui mà tôi vẫn nhớ mãi là do công tác ở trường Vinh quá lâu nên dù đã công tác ở trường Qui Nhơn, mỗi khi lên phát biểu trước cán bộ và sinh viên hoặc trong các cuộc họp cán bộ, thỉnh thoàng thầy vẫn nói nhầm “Trường ĐHSP Qui Nhơn chúng ta” thành “Trường ĐHSP Vinh chúng ta”. Những lúc như vậy, mọi người ngồi dưới lại cười lên thú vị. Cũng may mà lúc đó, tại Trường ĐHSP Qui Nhơn, số cán bộ và sinh viên tốt nghiệp của trường Vinh được chuyển về công tác tại ĐHSP Qui Nhơn khá đông nên mọi người đều thông cảm cho thói quen của thầy Hiệu trưởng.
     Là giáo sư văn học Việt Nam, nên dù bận rộn với công việc hiệu trưởng nhà trường, thầy Lê Hoài Nam vẫn thu xếp để hàng năm vẫn có giờ giảng cho sinh viên khoa văn. Những buổi được đi dự giờ giảng về Chinh phụ ngâm, về Truyện Kiều của thầy, tôi lại được nghe cách giảng bài nhỏ nhẹ mà sâu lắng và truyền cảm, khiến sinh viên không thể không chú ‎ý. Mỗi dịp như thế tôi đã học được rất nhiều từ thầy về kiến thức và phương pháp giảng dạy.
    Là một nhà giáo hầu như sinh ra chỉ để làm công tác quản lí nên thầy Lê Hoài Nam là một người rất nghiêm cẩn và chuẩn mực. Tôi có cảm nhận như ở con người thầy không có cử chỉ thừa, không có lời nói thừa. Tất cả ở thầy đều toát lên sự mực thước, mô phạm.
    Tuy nhiên, có dịp tiếp xúc nhiều, tôi thấy thầy Lê Hoài Nam ẩn sau sự nghiêm trang và mực thước còn là một người rất hóm hỉnh và vui tính. Dịp Trường Đại học Qui Nhơn kỉ niệm 30 năm ngày thành lập vào năm 2008, thầy Lê Hoài Nam lúc này đã nghỉ hưu tại Tp Hồ Chí Minh, khi về dự lễ kỉ niệm và lên phát biểu với khoa Văn, thầy đã kết thúc bằng một bài thơ do thầy sáng tác. Trước khi đọc thơ thầy nói: “Tôi thường không hay làm thơ, mà đã làm thơ thì thường không hay. Nhưng hôm nay kỉ niệm 30 năm của khoa Văn ta vui quá nên tôi đã làm thơ và xin phép đọc, có chỗ nào không hay mong các anh chị bỏ qua cho”.
     Nghe vị giáo sư đáng kính nói, cả hội trường cùng cười ồ lên vui vẻ về cách chơi chữ khéo léo và sự khiêm tốn, giản dị của ông.
HTS

Thầy Lê Hoài Nam (bên phải) và học trò cũ (12/2018)

P/S: Bài đã đăng trên báo Thanh niên số ra ngày 5/1/2019:
 https://thanhnien.vn/giao-duc/ky-niem-ve-thay-le-hoai-nam-1040448.html


3 tháng 1, 2019

Về trong kí ức

Lê Quang Phương

HTS: Đọc nghe cứ như là Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị

Chương I

Em là cô Thanh Niên Xung Phong
Mờ trong nhung nhớ bên dòng Kiến Giang
(Còn nữa)

Ới nhau về lại Hà Tran
Nào ai viên mãn ai miên man sầu
Người xưa cảnh cũ nơi đâu
Nghó nghiêng chỉ thấy một mầu ngẩn ngơ
Con thuyền vui bến đò xưa
Xa rồi để lại hoang sơ mịt mờ
Cỏ hoang mọc xéo nơi bờ
Mái chèo nỏ thấy giọng hò vãng vong
Đôi chùm mây trắng sang sông
Nhạt nhòa kí ức bóng hồng bên kia
Kiến Giang lạnh lẽo ơ kìa
Cảnh hiu hiu hắt người thì nơi nao
Ơi em tóc rụng người hao
Da xanh xanh sốt ám màu Trường Sơn
Hôm nào gửi gạo thổi cơm
Nhìn nhau mà cảm mà thương mà rầu
Em quê đâu em đi đâu
Có về Trường Thủy gặp nhau thì về
Chiến tranh đi đã qua đi
Cái thời xuân sắc một thì cũng qua
Vùi đi da phấn mặt hoa
Soi gương lệ nhỏ biết là tại ai...
Kiến Giang sông lặng mây bay
Người ơi còn biết đất này chờ mong
LQP

Anh đi tìm em... chứ em ở nơi mô


Ngày vui vui đến tận cùng (Tiếp theo và hết)


24/12/2018. 
Đặt chân đến con đường rẽ vào xóm Mới nay là xóm 3 xã Nghĩa Thuận Nghĩa Đàn, trước tiên chúng tôi xác định lại đâu là vị trí của xóm ngày xưa, đâu là con đường từ xóm vô trong rừng. Cái hồ chứa nước ngày xưa nhỏ hơn bây giờ, con đập nay cũng cao hơn to hơn con đập ngày xưa.
Đứng ngay trên con đập, chúng tôi xác định khá chính xác các vị trí của C12 ngày trước cách đây đã 46 năm.
Từ con đập, chúng tôi đi thẳng vào rừng theo con đường mòn mà 46 năm trước ngày nào chúng tôi cũng đi. Trong đó có lán của B1 và B4, có bãi đất trống khá bằng phẳng để tập trung toàn đại đội nghe CTV Vịnh giảng về ba dòng thác cách mạng; nghe CTV tiểu đoàn giảng về lí tưởng của ta và cả của địch, đại khái lí tưởng của bọn Mĩ ngụy là ô tô nhà lầu vợ đẹp con khôn; lí tưởng của chúng ta là độc lập tự do và CNXH. Nếu vậy thì lính C12 bây giờ phần lớn đều đang đi hết theo lí tưởng của Mĩ ngụy với những ô tô nhà lầu với những vợ đẹp con khôn. Đáng bắn bỏ hết.
Tôi và Ngọc Nga dừng lại chỗ cây cổ thụ, nơi ngày trước mỗi buổi chiều những anh nào lười tắm ở bẩn bị hắc lào đều bị y tá đại đội bắt tập trung thành một hàng ngang, cởi hết quần ra, gọi là cởi truồng, chổng mông lên để tay y tá dùng cái panh kẹp nhúm bông to nhúng vô lọ cồn i ốt rồi bôi lên khắp bẹn và d... của mỗi thằng. Rát không chịu được, nhiều thằng kêu lên như bò rống. Có lẽ đó là cách chữa hắc lào dã man nhất mà tôi từng thấy.
Trong lúc đó thì Quang Phương và Quang Ngọc đi rất sâu vào rừng tìm lại vết tích nơi dựng lán của B1 và B4. Đứng ngay tại cái nền lán B1 trước đây mà nay cây cối mọc um tùm, mắt Phuong le Quang ầng ậng nước và nhà sinh vật học kiêm nhà trường ca học, nhà thi pháp học này đã cất giọng khàn khàn đọc mấy câu thơ cảm khái khiến tôi cũng ngậm ngùi:
Rừng xưa nay đã khép rồi
Rừng nay đang khóc những lời nước non
Tìm chi những cánh tay son
Nhớ chi những gót chân mòn lối xưa
Chiến binh chợt nhớ rừng già
Cùng nhau quay lại mà xa xót hờn.

Tôi nhớ đợt nhập ngũ đó có nhiều thầy giáo, trong đó có ông thầy dạy Ngữ âm học của bọn tôi là Đoàn Mạnh Tiến. Do là CBGD, thầy Tiến được cử làm A phó. Thầy rất khảng khái. Là đơn vị huấn luyện, hầu như đêm nào giữa trời rét như cắt của núi rừng Nghĩa Thuận, cứ khoảng 1 – 2 giờ sáng khi chúng tôi đang ngủ say là trực ban nổi còi báo động, sau 10 phút toàn đại đội gồm 180 cán bộ và chiến sĩ phải tập hợp đầy đủ ở bìa rừng với đầy đủ ba lô súng đạn trên vai. Sau đó chạy lúp xúp quanh làng và quanh rừng mấy vòng rồi mới được về ngủ tiếp. Chịu không thấu cái khổ nhục ấy, có bữa sinh hoạt đại đội, thầy Tiến đứng dậy phát biểu yêu cầu BCH đại đội phải chứng minh việc báo động thường xuyên ấy là thực hiện theo mệnh lệnh của ai. Ông dõng dạc: Đâu. Chữ kí của Đại tướng Tổng Tư lệnh đâu. Ai cho phép các anh phá giấc ngủ của anh em binh sĩ hàng đêm như thế. Các anh có còn coi trọng sức khỏe của binh sĩ chúng tôi không. Cả BCH đại đội và những cán bộ khung C12 há hốc mồm ngạc nhiên. Trần đời họ chưa bao giờ chứng kiến một tân binh lại có yêu cầu to gan như vậy.
Sau phát biểu của thầy Đoàn Mạnh Tiến, báo động hàng đêm chẳng những không giảm mà còn tăng lên, có hôm báo động xong, mọi người vừa về chui vô màn lại có còi báo động tiếp. Lại ba lô lên lưng, súng lên vai và lại chạy quanh rừng. Còn thầy Tiến bị cách ngay chức A phó để xuống làm chiến sĩ cho xứng với cái lon binh nhì trên ve áo.
Tôi cũng như nhiều đồng đội trong tiểu đội hồi đó rất sợ báo động. Đến mức đêm ngủ tôi bỏ luôn cả khẩu súng trường K44 dài ngoẵng vào trong chăn ôm sát vô người để hễ có còi nổi lên là vác chạy cho kịp. Thiệt rất đúng với câu súng là vợ đạn là con.
Tuy nhiên những cuộc báo động ngoài kế hoạch huấn luyện mới đáng sợ. Đó là khi mấy nàng bạn gái hay người yêu của mấy thằng yêu sớm từ trường ĐHSP Vinh khi đó đang sơ tán ở Yên Thành vượt núi băng rừng lên thăm người yêu.
Tôi thì rất vô tư vì đến lúc đó, dù đã học hết năm nhất khoa văn vẫn chưa biết bàn tay người con gái là mềm hay cứng. Nghĩa là ngày đi bộ đội tôi vẫn chưa được nắm bàn tay một người con gái theo đúng nghĩa của yêu đương chứ đừng nói là ôm với hôn hít. Có lẽ con người tôi hồi đó quá ngu ngơ, có đứa con gái cùng lớp còn nói thẳng với tôi rằng tau thấy cái mặt mi ngu ngu thế nào ấy, chưa thành người lớn được. Điều đó có thể đúng. Nhưng cái quan trong là trong đầu tôi hồi đó, và mãi cả nhiều năm sau này hình như không có vùng cho sự yêu đương trai gái. Thiệt thòi hết chỗ nói. Giá mà được làm lại từ đầu nhỉ.
Nhưng có khoảng vài chục thằng khác trong đại đội thì không thế, chúng yêu đương đậm đà đến mức các nàng SV nhớ không chịu nổi nên hầu như tuần nào cũng băng rừng lội suối lên thăm chúng nó. Cái tai hại là cứ mỗi lần có một nàng SV xuất hiện là cả đại đội lại được một trận báo động và tập trung đột xuất cho đến khi nào các nàng chia tay người yêu ra về mới thôi. Quả là vừa thương vừa giận. Thương vì tội cho mối tình thời chiến tranh trắc trở của bạn bè đồng đội, giận vì chúng nó xuất hiện yêu iếc linh tinh nên mình khổ lây.
Tôi nhớ hồi đó ngay trên thân con đập chỗ chúng tôi đứng chụp hình là một cái nhà kho chứa gỗ khai thác từ trong rừng ra. Và cái nhà tạm chứa đầy những súc gỗ to ấy được C12 dùng làm nơi gặp gỡ của các cặp đôi như là một ngôi nhà hạnh phúc. Tôi không biết là bên trong căn nhà trống tuềnh toàng ấy, họ đã làm những gì trong thời gian eo hẹp được gặp nhau. Nắm tay hay ôm hôn, hay làm gì nữa có trời mà biết. Nhưng tôi biết chắc là xa xa bên ngoài căn nhà ấy luôn có một cán bộ tiểu đội canh chừng để các cặp đôi biết mà không đi quá giới hạn. Cái giới hạn đó là gì thì đến nay, sau 46 năm tôi vẫn nghĩ không ra.
Những thằng bạn của tôi ngày nay hẳn không thể nào quên những giờ phút thuộc về tình yêu ấy. Tôi nhớ Phạm Thanh Tùng ngày đó cũng có một cô nàng mang tên một loại vỏ cây dược liệu có mùi thơm hăng hắc học cùng lớp rất siêng lên thăm, hầu như nàng lên thăm hắn hàng tuần. Cô nàng này yêu Tùng như điếu đổ. Mà cũng phải thôi vì thằng Tùng ngày đó rất đẹp trai, da hắn trắng hơn da con gái, môi đỏ như môi con gái tô son, tóc hắn lại loăn xoăn như tóc Xuân Diệu, đám con gái không say hắn mới lạ. Cũng vì thế mà BCH đại đội rất cảnh giác với hắn. Đã mấy lần tôi cùng cả đại đội phải mang súng đạn ba lô chạy trối chết vì em Q của hắn lên và hắn trốn ra khỏi rừng gặp gỡ mà không báo cáo qua BCH đại đội. Rút kinh nghiệm từ lần đó, sau này mỗi lần em Q lên, hắn lại bấm tôi ra kho gỗ canh chừng cho hắn tự do gặp gỡ nàng. Tôi giúp hắn vô tư không vụ lợi với tất cả tình bè bạn cùng dân khoa văn với nhau, đến một điếu thuốc bọ cũng không có.
Ấy thế mà sau này hắn lại vu vạ tôi là mỗi lần người yêu hắn lên thăm, tôi vì cô đơn không có người yêu nên thường xin hắn ra gặp ké để cùng chia sẻ chút tình cảm trai gái. Tính tôi thà chết chứ có đâu mà nhục nhã thế. Có lần vào đầu năm học mới, Q lên thăm hắn, đưa cho tôi một lá thư viết tay không có phong bì. Đó là lá thư của một cô bạn tên là PT học cùng trường cấp 3 Đồng Hới với tôi nhưng học sau một khóa. Tôi khóa 12, PT vào sau học khóa 13. Hồi học cấp 3 chúng tôi có biết sơ về nhau nên khi nhập học làm SV khoa văn, PT đã hỏi thăm tôi như một người bạn đồng hương, đồng môn; khi biết tôi đã nhập ngũ và đang huấn luyện ở Đoàn 22A nàng đã viết lá thư thăm hỏi rất bình thường.
Nhận thư PT tôi rất cảm động, đó là lần đầu tiên trong đời tôi được một người con gái viết thư tay gửi cho. Sau này cũng có một số cô gái nữa viết thư cho tôi nhưng không có ai làm tôi ấn tượng và cảm động như PT. Nhưng tôi đã không viết thư hồi âm cho PT, vì tôi vốn rất nhát phụ nữ, nếu viết sẽ không biết nói gì; và cũng nghĩ rằng sau 3 tháng huấn luyện ở đây đằng nào chúng tôi cũng đi B, trước mắt là cái chết, chả bịn rịn làm chi cho phức tạp. Sự thật chỉ có thế, nhưng thằng Tùng lại vu vạ cho tôi là dám cả gan chủ động hỏi thăm và viết thư tỏ tình cho PT gửi về khoa qua em Q của hắn. Giá mà tôi được một chút dũng cảm như thế cũng đáng trai khoa văn, nhưng đằng nay tôi bị nó vu vạ. Tức chết đi được. Nhân đây tôi viết mấy dòng như sách trắng này công bố cho cả thiên hạ C12 và C20 cùng biết. Tùng còn vu vạ tôi nhiều chuyện nữa, những chuyện mà hắn đã đem in thành sách nhưng tôi không chấp. Biết đâu có ngày tôi sẽ thu thập bằng chứng kiện hắn lên tòa án quân đoàn, cho hắn một cái án tù treo cho sướng.
Kết thúc một ngày sống với những hoài niệm ở Nghĩa Thuận, nơi xứng đáng để xem là cội nguồn của những thằng lính sinh viên ĐHSP Vinh nhập ngũ đợt tháng 9/1972 bởi từ đây, sau 100 ngày huấn luyện ở C12, đến cuối tháng 12/1972, thầy trò chúng tôi được phân bổ đi nhiều đơn vị khác, kẻ vô Nam người sang Lào, kẻ đi học người đi chiến đấu, trong đó có 60 lính Sv được về làm lính trinh sát C20 F341. Và nhờ đó mà danh tiếng còn mãi đến ngày nay.
Chiều muộn trở lại Vinh, bốn chúng tôi gồm Quang Phương, Quang Ngọc, Trung Ngọc và tôi cùng Viết Khái đến nhà Tư Rèn Nguyễn Tư Quý ăn tối. Đến nhà Tư Rèn mới thấy số hắn thật may mắn khi lấy được cô vợ dễ thương lại đảm đang và cũng vô cùng hiếu khách, tiếp đãi bạn bè đồng đội của chồng bằng một mâm cỗ thịnh soạn, đến mức nếu thêm 10 người nữa ăn cũng chưa chắc đã hết. Cái thằng thật thà như đếm và hiền lành như bụt Tư Rèn ấy lại tốt số thế.
Sáng hôm sau, 25/12, vợ chồng Trung Ngọc Phan Nga đến KS Duy Tân chia tay chúng tôi. Quang Ngọc sẽ quay vô làng Tùng Ảnh ở Hà Tĩnh lấy tư liệu cho một bài báo Tết mà hắn đang mắc nợ viết chưa xong và rất có thể đến Tết năm sau hắn viết cũng chưa xong; Quang Phương về lại phủ Tây Hồ với vườn bưởi Luận Văn nhìn đẹp mã nhưng ăn thì chua hơn chanh của hắn; còn tôi về lại Hoàn Lão trên cái xe Công Nhật nội thất rách rưới như thổ tả nhưng chạy êm như ru và giá thì rất rẻ.
Ngồi trên xe, nhớ về những cuộc gặp gỡ kể từ khi tôi với Quang Ngọc lên chuyến bay Sài Gòn – Huế ngày 18/12 đến 25/12, vừa tròn một tuần chúng tôi lang bạt kì hồ từ Huế, Quảng Trị, Đông Hà, Cửa Việt, Đồng Hới, Hà Tran, Bố Trạch, Quảng Trung, Quảng Trạch, Ba Đồn, Vinh, Nghĩa Đàn... tôi lại nhớ về những câu thơ giàu cảm xúc và như một bài học về triết lí nhân sinh của nữ thi sĩ Tôn Nữ Hỷ Khương:
Còn gặp nhau thì hãy cứ vui
Chuyện đời như nước chảy hoa trôi
Lợi danh như bóng mây chìm nổi
Chỉ có tình thương để lại đời
Còn gặp nhau thì hãy cứ thương
Tình người muôn thuở vẫn còn vương
Chắt chiu một chút tình thương mến
Gửi khắp muôn phương vạn nẻo đường.
Còn gặp nhau thì hãy cứ chơi
Bao nhiêu thú vị ở trên đời
Vui chơi trong ý tình cao nhã
Cuộc sống càng thêm nét tuyệt vời.
Còn gặp nhau thì hãy cứ cười
Cho tình thêm thắm, ý thêm tươi
Cho hương thêm ngát, đời thêm vị
Cho đẹp lòng nhau hết mọi người....
(Còn gặp nhau)











2 tháng 1, 2019

Ngày vui vui đến tận cùng (Chương 3)


Trưa 23/12. Sau khi đã ăn no (không uống say) tại làng Thọ Lộc, như đã nói trong chương 2, tổ 3 người chúng tôi gồm Quang Ngọc, Quang Phương (sao mà tôi ghét mấy thằng cha có tên lót là Quang thế không biết, nghe chúng nó có vẻ kiêu căng tự mãn thế nào ấy, trong lúc Bác Hồ dặn chúng nó từ nhỏ là phải khiêm tốn thật thà dũng cảm) và tôi xuống Hoàn Lão đón xe ra Vinh.
13h lên xe của nhà xe Công Nhật, cái xe 16 chỗ mà chỉ có 6 khách nên rộng rinh, giá vé chỉ 90k/người nên rẻ rề. Công nhận dịch vụ vận tải hành khách Quảng Bình tiến bộ thật. Cái xe nhìn bên trong rách rưới như thổ tả nhưng chạy êm như ru. Bác tài vừa lái xe vừa phì phèo thuốc lá trông rất điệu nghệ. Ba thằng tôi ngồi trên xe nói chuyện to như mổ bò nhất là thằng Quang Phương mà không thấy ai nhắc nhở gì. Rất lịch sự. Rất tôn trọng hành khách.
16h30 thì đến Bến Thủy, đã thấy đồng đội Nguyễn Trung Ngọc với chiếc Nissan Sunny quen thuộc đứng chờ sẵn. Trung Ngọc (không phải Quang) là tay hiếu bạn vô bờ bến, hắn tồn tại ở ĐH Vinh từ ngày tốt nghiệp mà không ra trường cho đến ngày nghỉ hưu, chỉ mong có bạn bè đến để được hàn huyên cho bõ. Lần nào tôi xuất hiện ở Vinh (năm nào cũng ít nhất một lần) cũng đều được Trung Ngọc đón đưa đãi đằng hơn cả thủ tướng.
Khách sạn Duy Tân 3 sao nằm trên đường Phượng Hoàng Trung Đô, Trung Ngọc đã lấy sẵn cho chúng tôi một phòng 3 giường tại đây. Phòng đẹp, sang trọng, tiện nghi có cả ăn sáng tự chọn mà chỉ 500k/ngày cho 3 tên. Ai ra Vinh đến đây ngủ nhé, rất gần Trường ĐHSP Vinh và nhà đồng đội Nguyễn Viết Khái, rất tốt để họp lớp, họp mặt đồng đội..
Tắm rửa xong (mà không thay đồ vì mới mặc cách đây 3 ngày trước khi lên Hà Tran) chúng tôi kéo về nhà Trung Ngọc (từ đây trở đi phải viết rõ Trung hoặc Quang để khỏi lẫn lộn). Bà xã Ngọc là Phan Nga cũng là dân dạy VHTQ với tôi đã bày sẵn một mâm thịnh soạn. Hai tên Ngọc này có điểm giống nhau là cùng lấy vợ tên Nga. Và bà Nga nào cũng rất chu đáo với bạn của chồng, nhất là trong khâu tiếp đãi ăn uống. Nga Sài Gòn mỗi lần tôi lên nhà đều hỏi rất ý tứ anh uống gì để em pha. Nga Vinh thì cách đây cả tuần đã nhắn qua Zalo: anh thích ăn gì để em nấu. Tôi đặt hàng: Rau và cá, không thịt. Chủ khách rất hiểu nhau. Phải nói lính SV chúng ta rất tốt số, mụ vợ nào cũng tai quái với chồng nhưng đối đãi với bạn chồng thì rất được.
Tuy nhiên trên bàn ăn lúc này có một món rất đặc biệt của Vinh mà dân SG và nhiều nơi không có: Rươi. Chả rươi. Cả một đĩa đầy tú hụ. Giờ này ngồi ở SG nhắc đến tôi còn tứa cả nước bọt. Một món chủ lực nữa là hến xào xúc bánh tráng. Hai món này ăn no không chán và khỏi cần cơm. Lại thêm chai Chivas 18 đứng chễm chệ giữa bàn. Chai rượu này là của Đỗ Ngọc Thống xách tay từ Đức về tặng Trung Ngọc trong lần gặp nhau ở Thanh Hóa hồi tháng 8/2018. Mồi ngon rượu ngon chỗ ngồi ăn ngon nhưng quan trọng là người ngồi ăn ngon. Một bữa ăn trên cả tuyệt vời. Tôi để ý trong tủ bếp của nhà Ngọc còn 3 chai Chivas 18 nữa, nghĩa là còn đủ cho tôi ra thăm hắn 3 lần nữa.
Trung Ngọc nói là rất muốn vô Quảng Bình để dự họp mặt với C20 theo lời mời của Trưởng ban tổ chức Phạm Thanh Tùng (Hắn học cùng lớp 12A K2 cùng nhập ngũ 1 ngày cùng ở chung 1 tiểu đội với Đỗ Xuân Ngôn và Quang Phương huấn luyện 100 ngày ở Nghĩa Thuận Nghĩa Đàn với bọn tôi nhưng có lẽ do may mắn hơn nên hắn được rút đi học quân lực sau này về trung đoàn công binh sang hoạt động nếu không nói là bị đọa đày bên xứ Ai Lao tây Trường Sơn). “May mắn” là thế nhưng hắn lại rất ghen tị vì không được làm lính trinh sát C20 F341 với áp đảo là lính SV và vào miền Nam chiến đấu giải phóng Sài Gòn như bọn tôi. Nhưng hắn lo là nếu vô Quảng Bình gặp nhau nói hết chuyện thỏa mãn rồi thì bọn tôi sẽ không ra Vinh chơi với hắn nữa nên đành ngồi ở Vinh dõi theo cuộc gặp qua facebook với còm và lai rất đều đặn. Thỉnh thoảng lại còn góp ý đến phát ghét nữa. Tính hắn thế, có gì không vừa mắt là phang ngay từ chuyện to như ông trời đến chuyện nhỏ như con kiến (vì thế mà đời dạy triết học của hắn cũng chả được tiến bộ thăng quan tiến chức gì. Khộ).
Sáng hôm sau thức dậy giữa bình minh thành phố Vinh, vợ chồng Trung Ngọc Phan Nga cùng ba thằng tôi thẳng hướng Nghĩa Đàn mà tiến. Cuộc đi này đã được Trung Ngọc lập trình từ trước. Mục tiêu phụ là cánh đồng hoa hướng dương của mụ Thái Hương (mà tôi chả ưa gì và chưa bao giờ uống một giọt sữa của mụ ta, cùng lắm thì tôi bú sữa cô gái Hà Lan) ở Thái Hòa và mục tiêu chính là lên lại Nghĩa Thuận nơi chúng tôi đã có 100 ngày huấn luyện trước khi tỏa về C20 F341 và các đơn vị khác. Từ Vinh lên đây cũng khoảng 70km. Trời giữa mùa đông mà nắng vàng rực rỡ, phải nói là đám lính C20 đi đâu được trời đất phù hộ đến đấy. Suốt từ ngày 21 khi họp mặt ở Đồng Hới cho đến ngày ra Vinh chơi trời đẹp như rắc mật.
Dù không ưa gì mụ TH và sữa của mụ ta nhưng cánh đồng hoa hướng dương của mụ thì phải nói là tuyệt vời. Trước đây tôi chỉ thấy trên mạng, nay mới tận mắt chứng kiến. Thằng Quang Phương với Quang Ngọc cứ nhảy cỡn lên như dân Liên Xô ngày nào vui hát trên đồng hoa. Chúng nó như quên mất tuổi U65 để giành nhau chỗ chụp hình với mấy con bé tuổi teen teen chân dài trắng bóc như ống pháo sáng lại mặc quần đùi và áo thun ngắn củn cỡn. Đúng là không có lòng tự trọng. Tuy nhiên tôi cũng đã có được khá nhiều khuôn hình rất ưng ý trong điện thoại để dành nuôi fây.
Sau một bữa cơm khá hợp khẩu vị trên đường HCM ở thị xã Thái Hòa, rồi nghỉ ngơi khoảng 30’ chúng tôi đi tiếp về Nghĩa Thuận.
Nhớ 46 năm trước, vào tối ngày 10/9/1972, sau khi chia tay bạn bè thầy cô ở ĐHSP Vinh để lên đường nhập ngũ, chúng tôi hành quân từ hướng xã Quỳnh Tam huyện Quỳnh Lưu rồi vượt truông Sượng cao như thẳng đứng để xuống khỏi truông thì đi qua một bản làng với khoảng chục nếp nhà sàn của đồng bào người Thái, chúng tôi dừng chân ở một xóm có cái tên là xóm Mới (nay là xóm 12 xã Nghĩa Thuận) ở dưới chân núi, phía sau lưng là cả một cánh rừng nguyên sinh rậm rịt, trước mặt là một hồ nước trong xanh, cái hồ mà tôi mỗi lần được trực nhật thường về sớm đi một mình ven hồ và vừa đi vừa nghêu ngao câu thơ: Người yêu ơi hãy đợi chờ/ Anh sẽ mang về cho em viên ngọc quý/ là trái tim người chiến sĩ/ Yêu đời yêu đảng yêu Em... Người yêu là do tôi tưởng tượng ra thôi chứ hồi đó tâm hồn tôi rất trong sáng, tất cả dành hết cho đảng cho cách mạng, không có yêu iếc gì như mấy thằng tào lao kia.
Hồi đó chúng tôi có 160 CBGD và sinh viên nhập ngũ, đơn vị huấn luyện là C12 thuộc Đoàn 22A quân khu 4. C12 chia làm 4 trung đội (B), B1 và B4 ở trong rừng, B3 của tôi và B2 ở trong nhà dân xóm Mới.
100 ngày huấn luyện ở đây, từ 10/9/1972 đến cuối tháng 12/1972 của C12 chúng tôi là cả một pho lịch sử bằng vàng với những câu chuyện lên bờ xuống ruộng mà nay kể lại với nhau cứ phải cười ra nước mắt.
(Còn tiếp)









Ngày vui vui đến tận cùng (Chương 2)


Sáng 23/12 có hai chiếc ô tô nối đuôi nhau rời khách sạn Victory Đồng Hới đưa đoàn Thanh Hóa (gồm 10 chiến sĩ) và đoàn Sài Gòn (nhõn 2 chiến sĩ) trực chỉ làng Thọ Lộc xã Vạn Trạch huyện Bố Trạch về thăm mạ Hà Tùng Sơn (cách Đồng Hới 25km). 

Ngay tối 21 gặp nhau ở Đồng Hới, Lê Đăng Sơn đã thông báo với tôi: xong việc bọn tao sẽ về quê mày thăm mạ mày và thắp hương cho ông gìà mày đấy. Hắn nói xong rồi bỏ đó không hề nhắc lại khiến tôi nghi nghi hoặc hoặc, nói theo kiểu dân Tàu là nghi tín tương bán.
Đoàn này trừ Lê Quang Phương vì phải mang theo quà tặng cho Hà Tran và bạn bè một cơ số bưởi tiến vua Luận Văn nên đi xe đò, còn lại ngồi hết trên một chiếc Ford Everest của vợ chồng Lương Hữu Tiến (Vợ chồng Tiến xuất phát từ Hà Nội, qua Thanh rước cả tiểu đội trời ơi này cùng đi). Tôi cứ nghĩ Lê Sơn nói vậy chứ xong việc chắc hắn quên luôn cái thông báo nhẹ như lông hồng ấy. Vậy mà sáng 23 khi đang chui trong mền, hắn đã gọi giật tôi và Quang Ngọc dậy: 7h30 ăn sáng xong đi luôn nhá.
OK. Thế là đi.
Phải nói là khi thấy cả một đoàn hàng chục bạn bè đồng đội tôi cùng đổ bộ vô thăm nhà, mạ tôi cảm động vô cùng, tay chân luống cuống không biết nên bắt tay chú nào trước.
Ba tôi mất đã tròn 4 năm, mạ 88t nhiều năm nay sống một mình trong một khu vườn rộng cây cối xanh um, rau xanh mọc khắp vườn. Sinh 8 đứa con 2 trai 6 gái mà rồi cuối đời cũng sống gần như trong cô đơn vì con cái lần lượt đủ lông cánh bay đi hết. Bạn bè tôi ai đến cũng ái ngại. Hòa vợ Lương Hữu Tiến lấy làm xúc động lắm cứ hỏi đi hỏi lại tôi: thế cụ cứ ở một mình thế này quanh năm à anh. Chứ còn biết làm sao nữa, không một mình thì hai mình với ai.
Cả đoàn kính cẩn đặt quà dâng hương lên ban thờ ba tôi rồi tản khắp khu vườn ngắm tiêu ngắm mít ngắm rau. Thấy rổ rau xanh tươi mạ mới hái để trên bàn, Hòa nói em thích quá luôn. Cô giáo toán này có vẻ rất thích vườn tược với rau ria tự nhiên trong lúc lại phải giam mình giữa trung tâm Hà Nội. Khổ thế.
Rồi cũng đến lúc đoàn Thanh Hóa chia tay mạ tôi lên xe ra Bắc theo con đường Ba Trại chạy thẳng ra cầu Sông Gianh, để lại hại đại nhân sinh học là Quang Ngọc Nguyễn và Phuong le Quang cùng với tôi.
Chiếc Ford Everest của Tiến vừa chạy hết con đường Mỹ, ba thằng tôi liền triển khai ngay bữa trưa để còn kịp chuyến rong chơi. Thằng Ngọc vo gạo, thằng Phương rửa rau, tôi làm cá. Thực đơn gồm 3 món: canh cá chim tươi nấu chua me đất, cá mè trẻ (một loại cá rất ngon chỉ có ở vùng nước biển Fosmosa) sốt cà chua, rau lang luộc (2 loại cá này tôi mua hôm cùng Ngọc ghé chợ Hoàn Lão chiều 20/12). Định hướng ăn uống của đảng ta đề ra là không thịt, không dầu mỡ, tăng cường rau xanh các loại. Là những đảng viên kì cựu nhưng không lấy gì làm trung kiên lắm, chúng tôi vẫn thực hiện nghiêm túc.
Mâm cơm dọn ra mạ ngồi ngắm ba thằng chúng tôi ăn. Cơm thì còn dư nhưng thức ăn sạch bách cả 3 món. Mạ mỉm cười sung sướng.
Rồi chúng tôi xuống Hoàn Lão đón xe ra Vinh tiếp tục hành trình làm giàu thêm ý nghĩa cho chuyến về nguồn tràn đầy xúc cảm của những CCB C20 F341.
(còn tiếp)


Đoàn đồng đội xứ Thanh chụp hình lưu niệm với mạ tôi. Ảnh: NB Nguyễn Quang Ngọc.


1 tháng 1, 2019

Ngày vui vui đến tận cùng (Chương 1)


 Rời nhà đồng đội Liệt sĩ Lê Văn Thành ở xã Thanh Thủy và Nguyễn Hữu Nhơn ở xã Hàm Ninh, đoàn CCB C20 F341 chúng tôi bon về lại Đồng Hới thăm nhà đồng đội Hoàng Tấn Quả. Chuyến thăm nhà bạn này có vẻ như nằm ngoài lề cuộc gặp gỡ của C20 nhưng thực chất là một nội dung có ý nghĩa như một giá trị gia tăng (plus) của cuộc gặp vì lời mời đã được vợ chồng Hương Quả gửi gắm từ trước đó cả tuần và đưa luôn vào nội dung chương trình. Thế mới biết cái tình đồng đội, nghĩa bạn bè của Hòa Hương và Hoàng Tấn Quả thắm thiết đến mức nào. 
Tôi nhớ lại mấy lần về thăm quê, chuyến nào khi Quả biết cũng mời vô nhà chơi hoặc ra nhà tôi ở Thọ Lộc chơi, có chuyến còn bảo con trai chở ra tận sân bay Đồng Hới đón tôi về nhà.
Hình như càng có tuổi, khi mà chuyện gia đình, con cháu đã đâu vào đó, con người ta càng có nhiều hơn nhu cầu bạn bè. Nó như là một phần không thể thiếu trong cuộc sống. Tôi nhớ ông bạn Nguyễn Trung Ngọc ở Vinh thỉnh thoảng vẫn nhắn tin: Tớ bây giờ hàng ngày chỉ mong có bạn bè ghé qua Vinh để được gặp gỡ chuyện trò cho thỏa lòng mong nhớ, nhất là giải tỏa được những điều cháy bỏng trong lòng.
Hóa ra ai cũng vậy, thời trẻ thì mong ngóng người yêu, có gia đình thì mong ngóng con cháu, khi về già thì mong ngóng bạn bè. Cho nên tôi vẫn lấy làm lạ là sao có những người sống trên cõi đời này mà hầu như không có nhu cầu bạn bè, đồng đội. Họ lãng xa những cuộc họp lớp, những cuộc gặp gỡ đồng đội, thậm chí khi giáp mặt bạn cũ cũng ngó lơ, thấy cuộc gọi nhỡ của bạn bè không gọi lại, thấy bạn nhắn tin không hồi âm. Có thể những người đó xem các mối quan hệ bạn bè, đồng đội là vô nghĩa, là của những kẻ ham vui vô công rỗi nghề; họ cũng có thể xem những cuộc gặp gỡ như của C20 F341 mới rồi là vô bổ.
Nhưng với tôi, với nhiều bạn bè đồng đội, với rất nhiều người có trái tim luôn đập rộn ràng với những thanh âm hàng ngày thì đó chính là cuộc sống.
Với vợ chồng Hương Quả lại càng như vậy. Cứ nhìn cái cách cả gia đình bạn từ vợ chồng con trai con gái nhập cuộc như một thành viên chính thức của C20 trong cuộc gặp gỡ vừa diễn ra thì rõ.
Cái buổi chiều 22 – 12 mới rồi, vừa đặt chân vào sân nhà Quả đã khiến tôi tròn xoe mắt ngạc nhiên khi nhìn thấy trên bức tường rộng ngoài sân bạn đã treo sẵn một tấm pa nô lớn với dòng chữ rất to trên nền xanh dương: Chào mừng đồng đội cùng đơn vị Trinh sát Sư đoàn 341. Chỉ chừng đó cũng đủ khiến tôi cay cay nơi khóe mắt vì tôi đã thấy gia đình bạn xem cuộc đón tiếp đồng đội này là cả một Events lớn có tầm vóc quy mô quan trọng.
Trừ đoàn Nghệ An sau khi ghé thăm đã ra về trước và trừ luôn Tổng thư kí Phạm Thanh Tùng vì hoàn cảnh gia đình phải trở vô Huế ngay sau khi gặp gỡ bà con Hà Tran, hầu như các đồng đội C20 đều có đủ mặt tại nhà Quả. Bốn bộ bàn ăn đủ cho 40 người ngồi. Những tiếng cười vang lên ấm cúng, những cái cụng li, những câu chuyện cũ, những kỉ niệm xưa đã được bắt đầu từ khách sạn Sài Gòn – Đồng Hới, từ Hà Tran lại được tiếp nối liền mạch. Vui ơi là vui. Vui đến mức Hoàng Tấn Qủa vốn không phải là người nói nhiều hôm đó nghe giọng cũng đã hơi cao cao. Đến mức sếp Hòa Hương phải hắng giọng e hèm: không biết cái dây buộc vô chân anh Qủa (để giật giật nhắc nhở phanh ngay Quả lại khi quá chén nhiều lời) mô rồi hè.
Quả là dân khoa Sinh cùng lớp với hai đại nhân Quang Ngọc Nguyễn và Phuong le Quang. Hình như dân khoa sinh ai cũng bị bịnh nghề nghiệp nên anh nào cũng gắn liền với vườn ao chuồng. Phía sau căn biệt thự rộng rinh của Quả là vườn rau ao cá, là giàn phong lan khiến dân Hà nội, Sài Gòn nhìn mà phát thèm. Đến mức Hòa – một cô giáo dạy toán cấp 3, sếp của Tiến Lương Hữu từ Hà Nội vào đứng cạnh tôi cứ chép miệng: Thích quá anh, thích quá anh.
(Còn tiếp).
P/S: Tạm dừng ở đây đã, tôi ngồi gõ status này tại nhà vợ chồng cô em gái ở Hoàn Lão, định gõ một mạch cho xong nhưng vừa đến đây thì thấy nó đã dọn ra một mâm cua bể vàng ruộm thay cho cơm trưa chỉ nhìn đã phát thèm, có trời mới gõ tiếp được.


Gia đình Hoàng Tấn Quả rạng rỡ đón đồng đội bạn bè


Đồng đội C20 tại gia đình Hòa Hương - Hoàng Tấn Quả


Phát biểu chào mừng tại cuộc gặp gỡ Từ dòng Kiến Giang đến Dinh Độc Lập của CCB C20 F341


Đồng Hới, ngày 21 tháng 12 năm 2018

Thưa các đồng đội, thưa các bạn, thưa các vị khách quý.
46 năm trước, vào ngày 23 tháng 11 năm 1972, cùng với sự ra đời của Sư đoàn Bộ binh 341, đại đội trinh sát 20 của sư đoàn (gọi tắt là C20 F341) cũng được thành lập trên đất Nghệ An bên bờ bắc Sông Lam (Vì thế mà Sư 341 còn có mật danh là Đoàn Sông Lam). Sau đó không lâu, vào những ngày đầu năm 1973, C20 cùng cả sư đoàn 341 di chuyển theo đường giao liên từ Nghệ An vào đóng quân huấn luyện suốt gần hai năm trên quê hương Quảng Bình.  
Trong gần hai năm dài huấn luyện trên đất Quảng Bình, C20 F341 may mắn được đóng quân ở xóm Hà Tran, một xóm kinh tế mới chưa đầy 20 nóc nhà nằm giữa xã Mỹ Thủy và xã Trường Thủy bên bờ hữu ngạn sông Kiến Giang. Hà Tran lúc bấy giờ là đơn vị hành chính thuộc làng Uẩn Áo, xã Liên Thủy huyện Lệ Thủy. Vào cuối năm 1974 khi cái Tết Nguyên đán đã cận kề, từ xóm nhỏ mang tên Hà Tran, toàn thể cán bộ chiến sĩ C20 F341 đã vượt sông Kiến Giang hành quân thần tốc vào chiến đấu tại mặt trận B2 – Miền Đông Nam Bộ trong đội hình của Quân đoàn 4, đánh trận Xuân Lộc lịch sử, tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng Sài Gòn, chiếm Dinh Độc Lập – Phủ Tổng thống của chính quyền VNCH, làm nên Đại thắng mùa xuân 30 tháng 4 năm 1975.
Từ bấy đến nay, 45 năm đã trôi qua với bao nhiêu nước đã chảy qua cầu, với bao nhiêu biến cố thăng trầm của lịch sử, với bao nhiêu cuộc đời mỗi con người từng trải biến đổi cùng đất nước như bãi bể nương dâu, những CCB C20 vẫn mong mỏi có một ngày được hội ngộ trên đất Quảng Bình và đặc biệt là thăm lại xóm nhỏ Hà Tran thân yêu.

Sau một thời gian ngắn với sáng kiến của đồng đội Phạm Thanh Tùng đưa ra từ tháng 8 năm 2018 và nhanh chóng có được sự ủng hộ nhiệt tình của đông đảo các đồng đội cựu chiến binh C20, niềm mong ước cháy bỏng và chính đáng ấy hôm nay đã thành hiện thực.
Cuộc gặp gỡ này nhằm mục đích Kỉ niệm 46 năm ngày thành lập C20 F341, Kỉ niệm 45 năm ngày C20 đặt chân đến đóng quân và huấn luyện trên xóm nhỏ Hà Tran – Quảng Bình, Kỉ niệm 74 năm ngày thành lập QĐND Việt Nam. Nhưng trên hết, mục đích chính của cuộc gặp này là để thấy lại nhau, xem sau gần nửa thế kỉ qua, kể từ những cuộc chia tay sau ngày giải phóng miền Nam 30 tháng 4 năm 1975 đến nay, chúng ta ai còn ai mất, ai đang sống ở đâu, ai đang làm việc gì, mọi người đã và đang sống như thế nào,...
Đó là lí do của cuộc gặp gỡ mang tên TỪ DÒNG KIẾN GIANG ĐẾN DINH ĐỘC LẬP hôm nay.

Thưa các đồng đội, thưa các bạn
Về dự cuộc gặp gỡ hôm nay, chúng tôi vui mừng và hân hạnh giới thiệu sự có mặt của các vị khách quý:
-      Nhà văn Tô Nhuận Vỹ, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam.
-      Chị Cao Thu Hiền, Đại diện Tcty CP Trường Sơn, Nhà tài trợ chương trình;
-      Anh Nguyễn Xuân Sùng, Đại diện Hội VHNT Quảng Bình  
- Xin giới thiệu sự có mặt của những người vợ, người con, người bạn, người em thân yêu của các đồng đội C20 cũng có mặt trong cuộc gặp gỡ hôm nay
-  Cùng các phóng viên, BTV của Báo Quảng Bình, Đài PTTH Quảng Bình, Truyền hình QĐND, Ban Tuyến huấn Tỉnh đội Quảng Bình… đến dự và đưa tin cho sự kiện.
Về phía chủ nhà là những CCB C20, chúng tôi vui mừng giới thiệu sự có mặt của 50 đồng đội đã một thời cùng nhau đứng trong đội hình sư đoàn 341, sư đoàn từng được hai lần Nhà nước phong tặng danh hiệu anh hùng LLVTND, sư đoàn từng cầm súng chiến đấu trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại, giải phóng Sài Gòn, giải phóng miền Nam năm 1975, giải phóng luôn cả thủ đô nước bạn Phnom Penh vào năm 1979.
Đặc biệt trân trọng giới thiệu sự có mặt của các anh trong Ban chỉ huy cũ của đại đội, họ từng một thời là những chỉ huy tài ba của C20:
Anh Lê Trần Quý, nguyên C trưởng C20
Anh Lê Hồng Mão, nguyên C phó C20

Thưa các đồng đội, thưa các bạn
45 năm trước, khi đóng quân và huấn luyện tại xóm nhỏ Hà Tran, chúng ta còn là những chàng trai 19 – 20 tuổi trẻ như măng, trẻ đến mức nhiều người gặp các o thôn nữ chiều chiều ra sông gánh nước còn thẹn thùng không dám nhìn dù trong lòng rất yêu thích. Bây giờ thì những chàng trai ấy đều đã đi quá nửa đời người, trở thành những ông lão U65, U70; trở thành những ông nội và ông ngoại. Mặc dù vậy, chúng ta vẫn là những thương binh tàn nhưng không phế, những ông già nhưng nhìn còn mạnh khỏe; phong độ có khi cũng tạm được. Bởi chúng ta là CCB của Đại đội Trinh sát 20 Sư đoàn 341.
Để đến được với cuộc gặp gỡ - hội ngộ tràn ngập tình thương mến thương hôm nay, nhiều đồng đội của chúng ta ngồi đây đã phải vượt qua không ít những rào cản tất yếu của cuộc đời như tuổi cao sức yếu, bệnh tật, hoàn cảnh gia đình, công việc, khoảng cách địa lí xa xôi. Chúng ta đến với nhau hôm nay từ những miền đất trải dài trên khắp cả nước, nơi có mặt những CCB C20 đang sinh sống. Từ Hải Phòng, Hà Nội, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị đến Huế, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh, miền Đông và miền Tây Nam Bộ...
45 năm trước, khi đóng quân huấn luyện ở Hà Tran, C20 có trên 100 cán bộ và chiến sĩ trong đó có 60 lính là sinh viên nhập ngũ từ Trường ĐHSP Vinh. Hôm nay, tại khán phòng sang trọng và ấm áp này của khách sạn Sài Gòn – Đồng Hới, chúng ta về hội tụ cùng với rất nhiều người thân và bạn bè.
Điều đó thật đáng để lấy làm cảm động. 
Xin nhiệt liệt chào mừng sự có mặt của tất cả chúng ta.

Tuy nhiên, cũng vì những rào cản đã nêu trên, nhiều đồng đội của chúng ta đã không thể đến tham dự cuộc gặp gỡ nhiều cảm xúc và ý nghĩa này, như anh Nguyễn Lê Hợi nguyên Chính trị viên trưởng đang ở TP. Hồ Chí Minh vì bịnh tật; anh Lê Minh Hiếu nguyên C trưởng ở Đà Nẵng dù đã mua vé tàu để đi dự họp mặt nhưng ốm đột xuất đành hoãn chuyến đi lại; anh Hồ Văn Thoan nguyên chính trị viên phó ở Đà Lạt do phải chăm sóc người vợ cũng là một CCB đã từng 5 lần bị tai biến; đó còn là anh Ninh nguyên CTV trưởng, anh Long nguyên C phó; hay như anh Trần Quốc Tế nguyên B trưởng là một thương binh xếp loại thương tật nặng nhất, hạng 1/4, mất trên 85% sức khỏe, gắn liền với chiếc xe lăn kể từ cuộc chiến tranh trên đất bạn Campuchia từ năm 1979 đến nay, hiện anh đang sống và điều trị suốt đời tại Trung tâm Điều trị thương binh nặng Nghệ An; anh Lê Đình Nguyên, SV khóa Hóa, nguyên Chiến sĩ B1 hiện sống tại TP. Hồ Chí Minh và anh Nguyễn Hữu Nhơn, SV khoa Toán, chiến sĩ B1 hiện sống ở Quảng Ninh, Quảng Bình đều bị tai biến sức khỏe chưa hồi phục.v.v.
Chúng tôi cũng đã đến tận nhà của Cố Sư đoàn trưởng Thiếu tướng Trần Văn Trân nằm trên đường Cộng Hòa quận Tân Bình TP. HCM để thăm hỏi và mời cô Võ Bích Hà, phu nhân của Sư trưởng Trân cùng gia đình tham dự cuộc gặp nhưng do tuổi cao sức yếu, cô Hà không thể tham dự được. 
Dù không đến được nhưng qua các phương tiện liên lạc như điện thoại, email, facebook... mọi người đã nhiệt tình gửi lời thăm hỏi đến các đồng đội CCB C20 và chúc cho cuộc gặp gỡ của chúng ta thành công.
Xin vỗ tay để gửi lời chào thăm hỏi từ cuộc gặp gỡ này đến những đồng chí, đồng đội thân yêu của chúng ta.

Thưa các đồng đội, thưa các vị khách quý.
Trải qua hai cuộc chiến đấu tại mặt trận B2 - miền Đông Nam Bộ và trên chiến trường Campuchia, có nhiều cán bộ chiến sĩ C20 của chúng ta đã dũng cảm chiến đấu và hi sinh. Có những đồng đội đã ngã xuống ngay tại cửa ngõ Sài Gòn trước khi Chiến dịch HCM toàn thắng. Nói như Hạ sĩ Lê Quang Phương, SV khoa Sinh, chiến sĩ A Thông tin trong bài thơ Quê anh ở làng Dừa:
...Ba ngày nữa hết chiến tranh/ Miền Nam giải phóng/ Sao Anh không về...
 Đó là các đồng đội đã trở thành Liệt sĩ và hiện đang cư trú tại các NTLS nổi tiếng ở miền Nam như NTLS Xuân Lộc, NTLS Trảng Bom, NTLS Long Khánh, NTLS Biên Hòa, NTLS Tây Ninh... như anh Đỗ Xuân Ngôn SV khoa Văn chiến sĩ B2; anh Hoàng Huy Tụng quê Thọ Xuân Thanh Hóa, anh Ngân SV khoa Sinh chiến sĩ B3; anh Tiến SV khoa Hóa, chiến sĩ A Thông tin, anh Mạnh Trọng Lộc SV khoa Lịch sử, chiến sĩ A Thông tin; anh Lê Văn Thành B trưởng quê xã Thanh Thủy, Lệ Thủy Quảng Bình, anh Chiến C phó..v.v..
Nhiều đồng đội may mắn sống sót trở về sau chiến tranh nhưng vì vết thương tái phát trở nặng, vì bệnh tật, vì tai nạn cũng đã qua đời như anh Mơ nguyên CTV trưởng; anh Nguyễn Sỹ Mác SV khoa văn, A phó A Thông tin; anh Mạnh Trọng Hội SV khoa văn, chiến sĩ B1; anh Thân SV khoa Sinh, chiến sĩ liên lạc đại đội; , anh Nguyễn Hộ quê Hà Tĩnh, chiến sĩ A Thông tin.v.v...
Các đồng đội ấy đã mất đi trên cõi đời này nhưng hình bóng, tinh thần và tình cảm của các anh vẫn sống mãi trong lòng những CCB - C20 F341.
Xin tất cả hãy đứng dậy dành một phút mặc niệm để tưởng nhớ về những người đồng đội thân yêu của chúng ta đã qua đời.
Nghiêm - Một phút mặc niệm – Bắt đầu....
Xin cảm ơn.

Thưa các đồng đội, thưa các bạn.
Để có được cuộc hội ngộ đầy ý nghĩa mang tên TỪ DÒNG KIẾN GIANG ĐẾN DINH ĐỘC LẬP hôm nay là một sự cố gắng lớn của tất cả các đồng đội CCB C20 F341. Đây là một cuộc gặp gỡ mang tính tự phát do một nhóm các CCB đề xuất và thực hiện (do chúng ta chưa có một ban liên lạc chính thức của CCB - C20 F341); trong đó phải kể đến những tên tuổi đã tự mình đứng ra gánh vác hết mọi công việc cho cuộc gặp với tư cách một Ban tổ chức tự phong như Trung sĩ Phạm Thanh Tùng, trưởng ban kiêm chủ biên cuốn sách TỪ DÒNG KIẾN GIANG ĐẾN DINH ĐỘC LẬP, Trung sĩ Lê Tự Hiểu, phụ trách công tác tổ chức và tài chính; Trung sĩ Hoàng Tấn Quả, phụ trách công tác hậu cần và Lễ tân cùng nhiều đồng đội khác; Ngoài ra, dù không trực tiếp tham gia nhưng các anh trong BCH cũ cũng thường xuyên thăm hỏi, góp ý cho công tác tổ chức cuộc gặp.
Xin mọi người hãy vỗ tay để cảm ơn và động viên sự cố gắng không mệt mỏi của các đồng đội của chúng ta.
Xin cảm ơn.
Và bây giờ, đã đến lúc tôi phải nhường lời cho Trưởng ban tổ chức Trung sĩ Phạm Thanh Tùng lên phát biểu và công bố nội dung chương trình của sự kiện TỪ DÒNG KIẾN GIANG ĐẾN DINH ĐỘC LẬP – ĐỒNG HỚI – HÀ TRAN 2018.
HTS