15 tháng 11, 2015

Vòng quanh múa lộn

                     Triền miên tiểu thuyết của Lê Quang Phương

  Phần một:       LÀNG VĂN HÓA CHÂN MÂY

  Chương I:      TRƯỞNG LÀNG VĂN HOÁ
                                                                                
Thôi nhé!
Đừng đem chuyện làng xóm ra mà nói.
Nhắc mãi! Thoả thuận rồi. Dân nào quan vậy. Dân làng ta thì quan làng ta.
Người có học đi. Kẻ sáng dạ đi. Mấy ông quân đội cấp uý năm xưa về. Mấy ông hưu trí lù khù ở lại. 
Lấy ai làm cán bộ.
Nhưng này, mấy người cứ khuyên là Hội Viên lại mang tiếng cán bộ, phải gương mẫu đi họp.
Nhưng mà biết không. Ngồi họp lấy bông nút tai nhưng vẫn cứ nghe. Không muốn nhìn mà vẫn thấy.
I- Họp
Trưởng làng ta, ôi rõ chi là dân giã.
Đang quán triệt nghị quyết. Trưởng làng đứng dậy. Nghiêng nghiêng nghiá nghía tìm chiếc điếu cày. Tay trái vê vê viên thuốc lào cho nhầy nhầy nhựa nhựa ra. Tay phải nhay nháy hộp quẹt. Nghiêng đầu nhô vai kẹp điếu. Méo miệng phùng mang lác mắt ông rít. Tiếng điếu kêu lẹc khẹc. Khói thuốc ùn tùm lum cả phòng. 
Cô phụ nữ giơ hai tay lẩy phẩy. Bay bớt đi mùi hôi của khói thuốc. Tống bớt đi mùi thối của nước điếu do nhiều mồm bập chung một cái miệng ống.  
Ông cựu chiến binh ưỡn ngực ra dáng sá gì ba cái khói thuốc, ta đây đã từng xông pha trận mạc hít chất độc da cam.
Ông khuyến học đỡ chiêu cho trưởng làng bằng câu : Hút thuốc lào nâng cao sĩ diện, thơm mồm thơm miệng sạch trùng lao.  
Cả hội nghị không ai nói gì. Quan khách lịch sự không nói. Khách quan mà nói thì có hôi có thối thật. Chỉ vài cái lắc đầu bịt mũi.
Lim dim đôi mắt trưởng làng thưởng thức cái khoái độc của chất thuốc và để cho mọi người sốt ruột chờ đợi nghe ông nói.
Ông truởng làng văn hoá này đuợc mọi nguời khen hay khen giỏi. Đuợc lãnh đạo xã ưu ái nghe ông, tôn ông là quân sư tầm cỡ Gia Cát Khổng Minh.  
Ông tham mưu bán đất, không cần chi đến luật, làm dân tình điêu đứng.
Ông tham mưu quét đưòng cũ thành đuờng mới, lừa kho bạc lấy tiền nhà nước lần 2!
Ông tham mưu làm nhà văn hóa thôn, hết chừng bảy trăm ông hô thành tỷ bảy.
Ông chửi cha chửi mẹ người nghèo, quát nạt họ phải nộp hơn hai chục khoản tiền. 
Ông làm thơ làm đối treo ngoài đình. Ông đọc cho mấy mụ góa mấy ông mù chữ nghe và họ khen ông là nhà thơ cấp làng. Họ tự hào vì không làng nào có được người tài thơ phú văn vẻ như ông.
Mấy chuyện này rồi sẽ kể
Trưởng làng Văn hóa họ Trương tên Văn Hích. Vì có máu văn chương nên trưởng làng yêu cầu công dân trong làng gọi là Trương Văn hoặc Trương trưởng làng. Nhưng tùy thích ai gọi là gì cũng được.
Tên làng: LÀNG VĂN HÓA CHÂN MÂY huyện XUÂN TƯƠI tỉnh THIÊN THANH

II- Thơ phú văn chương của Trương trưởng làng

 1 - Trương Văn Hích làm câu đối tự suy tôn mình treo giữa đình làng:
             “ Răng TỚ long Đầu phơ bạc nhưng TỚ một lòng vì giang sơn thôn xóm
              Kèm nhèm mắt lẩy bẩy chân TA ĐÂY sáng gương soi vì thôn xóm giang sơn” .
                                                                                      ( Trương trưởng làng đã ký)
 Câu đối đỏ vẫn còn treo đó. Đình làng Chân Mây tuổi 600 năm có lẻ. Đình đã được sở Văn hóa Thể thao tỉnh Thiên Thanh công nhận là di sản cấp tỉnh. Đình chỉ thờ thành hoàng làng cùng các anh hùng liệt sỹ. Nay trưởng làng Trương đang sống (tuy chân lẫy bẫy mắt kèm nhèm chứ chưa chết) mà vẫn được dự hàng với người đã chết. Ôi vô cùng vinh dự.
 Các cụ sáng nào tập thể dục cũng trầm trồ. Nhất là mấy bà góa xí xớn cùng mấy ông chết vợ rỗi hơi:
  - Câu đối hay nhất làng Chân Mây nhất huyện Xuân Tươi vào loại hàng cấp tỉnh.
 Đám hưu trí hay tụ tập ngoài đình, cầu lông cầu lá dưỡng sinh lại càng thán phục, ngợi ca trưởng làng (Đểu có thật có).
  - Trưởng làng mình giỏi thật, gọi là gì nhỉ, à câu đối, hay hiếm có.
 Có cả lời bình của ông chủ tịch hội khuyến học (chưa học hết lớp 7 đi TNXP vê làm hiệu trưởng cấp 1, đã về hưu) phân tích cái hay của câu đối cho mọi người nghe.
 - Đối đây này : Đầu phơ bạc –  lẩy bẫy chân. Đầu đối với lẩy nhé, phơ bạc đối với bẫy chân nhé. Nhưng TỚ  một lòng đối với TA  ĐÂY  vẫn.
 Cụ chủ tịch hội người cao tuổi hùa vào:
  - Ái chà giang sơn thôn xóm đối với thôn xóm giang sơn
 Mấy mụ ế chồng là khen trưởng làng một cách chân thành nhất:
 - Đối giỏi thật chả mấy người làm được. Chữ  TỚ - TỚ ở cột bên ni viết hoa rõ to, lại màu đỏ nhé. Rõ thích. Chữ TA ĐÂY ở cột bên nớ cũng viết to lại tô màu vàng để đối TỚ TỚ nhé. Rõ vui mắt.
  Được mấy bà góa mấy ông chập khen, trưởng làng lấy làm khoái chí lắm. Cứ nghe xong mỗi câu khen, Trương lại khẹc khẹc rít một điếu thuốc lào. Mấy chục lời khen là mấy chục lần chiếc điếu nẩy lên, rên lẹc khẹc. Mỗi lần ống điếu kêu là mồm và cổ họng Trương trưởng làng chứa đầy khói thuốc. Lúc đầu Trương ngửa cổ phun lên nóc đình. Những lần sau phun tròn tứ phía. Để tạ ơn đám đông đang có lời bình tài làm câu đối,  trưởng làng phun thẳng một hơi thuốc dài về phía mọi người.
Khói thuốc thoảng thoảng hôi, thoang thoảng thối, u ám phủ kín bảy gian đình. Khói thuốc quần tụ trước bàn thờ hội đồng làng, rồi như có phép lạ, màn khói xám đen cuộn lại thành từng bó lao vào hâu cung, nơi thờ Thành Hoàng làng Văn Hóa Chân Mây.
 Nghe nói có một nhà thơ là con em của làng Chân Mây, ra đi rồi phát triển trở thành nhà thơ ngang tầm cấp huyện có làm đôi câu.
Tôi thấy tôi thương đình làng tôi
                  Thương thôi thương lắm thương lắm thôi…

2- Trương trưởng làng làm Thơ nghĩa địa:
Bài một – Nghĩa địa 1
                                        Làng tớ nghĩa địa tựa công viên
Người chết chôn đây thật đã thèm
  Người người phải góp xây nghĩa địa
Chết rồi làng mới cho chập cheng.
                                                  (Trương Trưởng làng đã ký)

  Cứ tết đến và sau hai vụ chiêm mùa, Trương trưởng làng lại hô hào vận động con em các dòng họ thi đua góp tiền xây nghĩa địa, làm giàu quỹ tang lễ cho làng. Đứa mới đẻ đến ông đầu bạc. Hộ nghèo kiết hay tên bệnh tật, trưởng làng hô đóng tuốt. Nếu bay không đóng khi cha mẹ hay bay chết sẽ vứt xác trôi sông như xác chó. Trương trưởng làng ộp oạp nói trong cuộc họp những hộ nghèo. Mấy anh nghèo do bệnh tật nhưng vốn có học đã thưa kiện lên ông huyện Xuân Tươi, nhưng vì không ghi âm được lời trưởng làng nên thua kiện. Từ đó Trương Văn Hích càng tự đắc càng thấy mình chân lý làm sao, tài tình làm sao. Cả làng phát khiếp, ngoan ngoãn phục tùng trưởng làng.
 Hai chục năm làm trưởng làng văn hóa, tự thu tự chi mọi nguồn đóng góp, Trương Văn Hích như là (còn hơn) ông lý trưởng cường hào năm xưa. Dân làng Chân Mây ngoan hiền quá. Không ngoan sao được khi trưởng làng dọa nếu không đóng góp tiền, làng không đến đưa tang, không cho bản ti đến ồ í e chập cheng kèn trống. Chết thế thì buồn nhục lắm. Chết nhục thì thà rằng sống khổ còn hơn. Dân làng Chân Mây bảo thế. 
  Ngoài bảy mươi, trưởng làng nghĩ đến cái chết nơi nằm ngoài nghĩa địa. Phải làm sao để người chết trước phải khâm phục ta khi ta chết sau được cả làng tùng dinh vào nghĩa địa. Vì vậy Trương mới cho ra Thơ nghĩa địa 1.
 Trương trưởng làng sáng nay lại đọc tiếp Thơ nghĩa địa 2, tại đình làng.
Bài hai - Nghĩa địa 2
Công viên nghĩa địa làng tớ đẹp
Ai đến nhìn đây cũng thèm chết
      Chán cơm thèm đất thèm kèn trống
             Trưởng làng ta đây (làm) nghĩa địa đẹp.
                                              (Trưởng làng Trương đã kí)

      Hai bài thơ nghĩa địa đã được trưởng làng khắc vào bia đá. Lúc đầu bia thơ nghĩa địa được  đặt tại đình làng.
     Thật là bất ngờ. Thơ nghĩa địa lại có tác dụng vĩ đại đến thế. Được đông đảo dân làng ca ngợi lại được các ông xã ông thôn đọc rất ngân nga trong các cuộc họp. Ông văn hóa xã mấy buổi 5 giờ kém mười lăm sáng đem đọc trên loa phóng thanh của làng. 
    Sáng sáng ngoài đình làng lại có sự tâng bốc a dua, có cả sự  ngợi ca của cô Hương Hồng góa chồng.
    - Ôi anh Trương trưởng làm thơ hay lắm, tuyệt lắm, nhưng mà em không muốn chết. Không thèm chết chỉ thèm cái thèm!
   Cũng nhờ bài thơ nên mấy chục khoản tiền của thôn làng xã đổ lên đầu dân, cho dân tự nguyện đóng góp (vinh dự thay) đã hoàn thành rất nhanh chóng. Không ai bảo ai, sợ lắm, nếu không may bay chết hoặc cha mẹ bay chết mà không đóng góp thì vứt xác trôi sông như xác chó. Nay lại có thơ nghĩa địa nữa nhé :
                 Người người phải góp xây nghĩa địa
                Chết rồi làng mới cho chập cheng.
 Uy tín và tài năng của Trương Văn Hích được mấy ông xã tận dụng. Mấy ông cán bộ về hưu có tí hiểu biết ngày càng lép vế rồi cũng hùa theo Văn Hích. Họ suy tôn Hích là đại quân sư đại cố vấn cho ông xã.     
 Ở cái làng Chân Mây này không ai biết đến luật thơ luật văn, hiện đại hay hậu hiện đại, cao sang hơn nữa là hậu tương lai là cái chi chi . Cứ như cách làm thơ làm câu đối của Trương trưởng làng thì đúng niêm luật cụ thể chỉnh mỉnh lắm rồi. Vừa đúng niêm vừa chuẩn luật lại vừa hậu hiện đại. Nhà thơ cấp huyện bảo thế. 
 Nhà thơ cấp huyện thỉnh thoảng lại về đình. Đọc Thơ nghĩa địa 1 và 2 xong, lúc đầu chỉ tủm tỉm cười. Sau đó cười ha ha rồi cầm bút đề tô xuống bàn uống nước rằng:
                          Tôi thấy tôi thương đình làng tôi
                          Ngàn năm văn hiến ối ồi ôi !

Sau đó bài Thơ nghĩa địa 1 và 2 được đem ra gắn ở miếu thần linh ngoài nghĩa địa. Dòng người đưa thơ từ đình ra toàn là gái góa, mụ ế, ông chập bà vênh, cùng mấy ông bà rỗi hơi rỗi việc đi tập dưỡng sinh bị trưởng làng bắt nhập vào đoàn.

(Còn tiếp...)


Tác giả Lê Quang Phương thứ hai từ trái sang. Phủ Tây Hồ, Thọ Xuân, Thanh Hóa, 4-2015


11 tháng 11, 2015

Hồn cây cỏ

Cây bút Chử Anh Đào từ phố núi Gia Lai vừa có thêm cuốn sách mới ra mắt bạn đọc cả nước, cuốn Hồn cây cỏ(*), một cuốn sách gồm bốn thể tài văn học: Ký, tạp văn, truyện và bình luận văn học. Như vậy Hồn cây cỏ là một tập hợp những bài viết gần đây, chủ yếu là trong hai năm 2014 -2015 đã được Chử Anh Đào cho đăng rải rác trên các báo, tạp chí và một số trang mạng. Căn cứ vào thể tài tác phẩm, cuốn sách được chia làm ba phần. Phần một: Những gương mặt; phần hai: Tạp văn, phần ba: Truyện và phần bốn: Thơ và lời bình.
Trong Những gương mặt Chử Anh Đào chủ yếu khắc họa chân dung về những con người đời thường trong cuộc sống hàng ngày mà anh từng được tiếp xúc hoặc chung sống với họ. Đó là những con người rất đỗi bình thường nhưng lại là những tấm gương sáng trong cuộc sống (Có thế mới gọi là gương mặt).
Ngay ở bài kí mở đầu sách: Hồn cây cỏ, bạn đọc sẽ được tiếp xúc với một ông già Nam Bộ sống giữa khu vườn sầu riêng của Pleiku. Một con người mà khi đọc xong ta khó định hình được thành phần xã hội: Ông vừa là một trí thức (đã tốt nghiệp trường canh nông Mỏ Cày Bến Tre từ thời Pháp thuộc), vừa là một lão nông tri điền nhưng giàu có như một địa chủ lại có tri thức, vừa là một nhà giáo dục, một nhà cách tân thực tiễn. Hình ảnh “một người đàn ông trung niên có khuôn mặt chữ điền trán cao, mắt sáng với cái nhìn nheo nheo, độ lượng” rê máy cắt cỏ một cách khỏe khoắn lại biết chăm lo việc học hành cho ngay cả con cái người làm thuê mà tác giả miêu tả một cách trân trọng và yêu thương sẽ đọng mãi trong tâm trí người đọc như một nhân cách cao cả, đáng kính. Gương mặt ấy nay đã đi xa nhưng tâm hồn thơm thảo của  ông thì như vẫn vương mãi đâu đây trong khu vườn thơm ngát hương sầu riêng Nam Bộ giữa phố núi cao nguyên. Điều đặc biệt, nhân vật đó lại chính là nhạc phụ của Chử Anh Đào. Trần đời, tôi chưa thấy chàng rể nào viết về bố vợ của mình với những lời đầy yêu thương và chân kính như vây.
Nếu ở Hồn cây cỏ Chử Anh Đào viết về một trí thức trong vai lão nông thì ở Thầy tôi, anh lại viết về một người mang dáng dấp của một lão nông nhưng lại là một trí thức thực thụ: Thầy Nguyễn Cảnh Phức, nguyên giảng viên Hán Nôm khoa Ngữ văn Trường đại học Vinh. Một người thầy đáng kính của rất nhiều thế hệ sinh viên và học viên cao học đã từng học ở đại học Vinh, trong đó có tác giả Hồn cây cỏ. Thầy Nguyễn Cảnh Phức không chỉ đáng kính với học trò về sự uyên thâm mà còn đáng kính cả về sự vô cùng giản dị của một nhân cách vừa cao thượng vừa hồn hậu. Đó cũng là một gương mặt theo đúng nghĩa của nó. Trong cuộc đời của một người từng đi học qua nhiều trường lớp có hàng trăm người thầy đã đi qua trên bục giảng, nhưng đọng lại những con người được học trò xác nhận là thầy tôi thì không nhiều lắm. Nguyễn Cảnh Phức là một bậc thầy như vậy.


Đọc Những gương mặt, ta thấy toát lên một thâm ý của người viết là trong cuộc sống quanh ta, những con người giữa đời thường, những con người không một lần xuất hiện trong những màn tung hô màu mè trên tivi, không một lần lấp lánh ánh huân chương trên ngực áo, không một danh hiệu thi đua hình thức vớ vẩn… nhưng với tri thức, kiến thức và nhân cách đáng kính nể, thiết nghĩ họ thực sự xứng đáng là những tấm gương sáng cho chúng ta học tập và làm theo, cứ gì phải hô hào học hỏi những hư ảo ở đâu đâu.  Đó là một thành công của Chử Anh Đào trong Hồn cây cỏ.
 Ở phần hai: Tạp văn có thể xem là thể tài sở trường của Chử Anh Đào khi cầm bút. Với 23 bài viết, tác giả đã đề cập đến sự đời với đủ các cung bậc hỉ, nộ, ái, ố. Từ những Lòng trắc ẩn, Trái tim nhân hậu, Những điều tưởng như nhỏ nhặt… đến Những cái nhất, Mỹ học âm thanh, Mại dâm, đồi trụy, Tôi làm sách, anh làm sách, nó làm sách… ngòi bút của Chử Anh Đào đã tung tẩy để bạch hóa bản chất và phê phán một cách nhẹ nhàng nhưng chua cay và rất trào lộng của đủ các loại người trong cuộc sống. Kẻ tham chức quyền, người háo danh vọng; kẻ dằn vặt khổ ải, người phởn phơ sung sướng. Có thể xem Tạp văn là phần viết thành công nhất của Chử Anh Đào trong Hồn cây cỏ.
Là một giảng viên văn học lâu năm, gần như dành cả sự nghiệp cho giảng dạy văn học, vì thế trong cuốn cách dày dặn của mình Chử Anh Đào đã dành dung lượng lớn cho hai thể tài văn học là Truyện và Thơ và lời bình. Độc giả sẽ gặp ở đây những truyện ngắn nói về tính thực dụng của con người thời hiện đại. Từ kẻ tham ăn tục uống uống như ông trưởng khoa Kiến trong Lí quạ kêu, đến kẻ tham tiền và xảo trá rắng trợn vô liêm sỉ như lão Bạng trong Người bán hàng tết… Tất cả đều hiển hiện một căn bệnh nan y của xã hội chúng ta đang sống, cái xã hội của thời gọi là hiện đại: Sự giàu có của đồng tiền và đi liền đó là sự xuống cấp của nhân cách và đạo đức. Tuy nhiên, đó đây trong những câu chuyện kể của Chử Anh Đào vẫn lấp lánh những nhân vật đáng yêu và đáng trân trọng như ông M. trong Một người bệnh, nhân vật ông giáo trong Hoa trạng nguyên cuối mùa… đọc những trang sách hồn hậu ấy của tác giả, ta thấy cuộc đời này vẫn đẹp lắm và con người ngày nay vẫn đáng yêu lắm. Thêm một điểm sáng nữa của Chử Anh Đào trong Hồn cây cỏ.
Tuy nhiên, có thể do đãng trí nên trong sắp xếp bài viết vào các phần của sách, Chử Anh Đào vẫn có sự chưa hợp lí. Rõ nhất là khi anh đưa bài Nguyễn Du và “Những điều trông thấy” và bài Thái độ Nguyễn Du với phong kiến Trung Hoa vào phần Những gương mặt  trong lúc lẽ ra nó phải được xếp vào phần bốn: Thơ và lời bình. Có lẽ ý của Chử Anh Đào là muốn nói đến con người Nguyễn Du với tư cách là một gương mặt nhưng thực ra ở đây là hình ảnh con người Nguyễn Du toát lên từ tác phẩm của ông.
Người ta vẫn nói mỗi con người sống trên cõi đời này đều có thể viết được một cuốn sách về chính cuộc đời mình. Người ta cũng nói mỗi con người sinh ra cần phải làm được ba việc lớn trước khi lìa bỏ cõi đời: làm được một ngôi nhà, trồng được một cây xanh và viết được một cuốn sách. Xét theo quan niệm ấy, với sự ra đời của cuốn Hồn cây cỏ, Chử Anh Đào có thể lấy làm mãn nguyện lắm bởi đây đã là cuốn sách thứ tám của đời anh, đời một ông giáo dạy văn và viết văn.

  (*) Hồn cây cỏ, Chử Anh Đào, NXB Hội Nhà văn, H. 2015.





9 tháng 11, 2015

Chuyện không tào lao

Như thường lệ, mỗi lần anh Huỳnh Hiến và tôi gặp nhau đều có rất nhiều điều để kể và hỏi về đủ thứ đề tài phương diện trong cuộc sống. Dù kém anh đến gần 2 chục tuổi nhưng tôi lại rất được anh tín nhiệm để hỏi từ những điều to tát như trái núi đến những điều nhỏ như cọng cỏ.
Mới rồi, sau khi nói về cách sống và lối ứng xử với thời cuộc của người dân Sài Gòn từ xưa đến nay,  anh hỏi tôi: Theo ông thì vì sao Mĩ nó thua VN.
Trước khi trả lời câu hỏi của anh, tôi đã kể cho anh nghe về câu chuyện bên mâm cơm mới đây tại nhà tôi với hai ông khách là bạn học thời cấp 3 của vợ tôi đến chơi nhà. Cả hai ông đều từ Hà Nội vô SG định cư sau khi đã nghỉ hưu. Vì thế mà rất thích nói chuyện chính trị, thứ chuyện mà tôi đã chán ngoét và ngán tận cổ. Trong câu chuyện, khi nói về sự suy thoái của xh ngày nay, chúng tôi đều thấy chua chát và bi quan vô cùng. Một ông rút ra kết luận: Chúng ta có một sai lầm lớn nhất là đã phế bỏ xh văn minh để dựng lên một xh lạc hậu. Đó là một bi kịch mang tính thời đại.
Anh Huỳnh Hiến nghe ra chiều suy nghĩ lắm.
Tiếp nối mạch tư duy logic trên, tôi trả lời câu hỏi của anh, thì  Mĩ không hề thua VN. Mĩ chỉ rút quân để bảo toàn tính mạng cho những người lính của họ. Bởi với người Mĩ, sinh mạng con người là trên hết. Họ không trả giá đắt là đổi mạng sống của những người lính để lấy chiến thắng với đối phương.  Đó là thứ triết lí của con người văn minh trong một xã hội có tính nhân bản. Nó không theo kiểu thà hi sinh tất cả...
Đã hi sinh hết, nghĩa là đã chết hết thì những thứ còn lại để làm gì, cho ai hưởng. Với cái chết và sau cái chết của con người tất cả đều vô nghĩa.
Với một đối phương đánh chết bỏ, liều mình như chẳng có như thế, người Mĩ đã rút lui để bảo toàn tính mạng dù mang tiếng thất bại. Đó là thất bại của con người văn minh để giữ lấy văn minh.  
Cũng vì thế mà trong chiến tranh, khi bị quân đối phương bắt, những sĩ quan và binh lính phương Tây nói chung và quân đội Mĩ nói riêng được phép đầu hàng, khai báo để bảo toàn tính mạng. Họ không bị khép vào tội phản bội tổ quốc và khi được đối phương trao trả vẫn được trọng dụng, không ít người Mĩ từng bị giam giữ ở nhà tù Hỏa Lò Hà Nội nay đã thành tổng thống, thượng nghị sĩ, bộ trưởng. Đương kim bộ trưởng ngoại giao Mỹ John Kerry là một người như thế. 
Ông anh Huỳnh Hiến tâm đắc gật gù. Mái tóc bạc trắng như cước rung rung.

      Với bạn già Huỳnh Hiến - nhà báo - đạo diễn truyền hình (bên phải)



4 tháng 11, 2015

Mùa này trên Vĩnh Sơn và chè vối

Hôm nay có bác Huỳnh Hiến từ Qui Nhơn vô chơi. Tôi sang Nhà Bè chở bác về Bà Quẹo, mời bác ngủ lại nói chuyện cho vui. 
Cơm tối xong hai anh em hãm ấm chè lá vối tươi (ấm chè vối tươi thứ 2 trong đời hái từ cây vối tí hon mới trồng được 3 ngày trên sân thượng, lần trước để tự sướng, lần này để đãi bạn) rồi vô mạng mở bài hát Mùa này trên Vĩnh Sơn nhạc Vũ Trung lời thơ Huỳnh Hiến cho anh nghe.
Anh Hiến nói: Đời mình thế này là sướng hung rồi.

Cũng anh Hiến hồi đọc mấy bài tôi viết sau khi đi họp lớp đại học ở Vinh về đã nói: Cuộc sống là thế chứ còn gì nữa nhỉ.
Tôi thấy đúng lắm.


Bạn vong niên Huỳnh Hiến (anh lớn hơn tôi 19 tuổi) bên li chè lá vối tươi và nghe Mùa này trên Vĩnh Sơn tải về từ trên mạng. Ảnh vừa chụp xong tức thì.



2 tháng 11, 2015

Lai Tân, bài thơ châm biếm tiêu biểu của Nhật kí trong tù

                                                 Phan Thị Nga
                                             
                                                       Lai Tân
                                    Giam phòng ban trưởng thiên thiên đổ
                                    Cảnh trưởng tham thôn giải phạm tiền
                                    Huyện trưởng thiêu đăng biện công sự
                                    Lai Tân y cựu thái bình thiên

Dịch thơ:                                            Lai Tân
                                    Ban trưởng nhà lao chuyên đánh bạc
                                    Giải người cảnh trưởng kiếm ăn quanh
                                    Chong đèn huyện trưởng lo công việc
                                    Trời đất Lai Tân vẫn thái bình
                                                                                    Nam Trân
           
Trong những bài thơ phản ánh, phê phán chế độ nhà tù Tưởng Giới Thạch của tập Nhật kí trong tù, Lai Tân được xem là bài thơ tiêu biểu cho bút pháp châm biếm, trào lộng của Hồ Chí Minh. Lai Tân là bài thơ số 97 trong số 134 bài thơ của Nhật kí trong tù, được viết vào tháng 12- 1942. Lai Tân cũng là một địa danh Hồ Chí Minh bị giải đến trong suốt chặng đường từ Thiên Giang đến Liễu Châu thuộc tỉnh Quảng Tây Trung Quốc.
Đối tượng trực tiếp mà Hồ Chí Minh châm biếm trong bài thơ là ba con người Bác đã gặp, đã thấu hiểu ở chặng dừng chân Lai Tân và Bác đã chẳng ngại ngần gì khi chỉ đích danh ba đối tượng ấy là ban trưởng, cảnh trưởng, huyện trưởng. Ba đối tượng đều giữ chức “trưởng”, chức vụ cao nhất, người đứng đầu một đơn vị, tổ chức nào đó. Cụ thể ban trưởng là người đứng đầu, phụ trách việc quản lí nhà giam; cảnh trưởng là người chịu trách nhiệm cao nhất trong việc áp giải phạm nhân; huyện trưởng là người có địa vị cao nhất huyện, trông coi, lo toan công việc huyện Lai Tân. Những đối tượng này được xem là danh giá nhất, tiêu biểu nhất cho chính quyền và bộ máy luật pháp dưới chế độ Tưởng Giới Thạch.
       Tiếng cười, sự châm biếm được toát ra từ chính sự mâu thuẫn giữa cái bề ngoài (hình thức) với cái bên trong (nội dung) ở ba con người được gọi đích danh trong ba câu thơ đầu:
Bề ngoài – hình thức                                Bên trong – nội dung
                  Ban trưởng                      > <                thiên thiên đổ
                 Cảnh trưởng                     > <                tham thôn giải phạm tiền
                 Huyện trưởng                   > <                thiêu đăng biện công sự
           Sự lố bịch, hài hước, đáng giễu cợt nằm ngay trong những mâu thuẫn này.
Ở câu một, người quản lý trật tự trại giam thật ra chỉ là một tên bài bạc. Hành vi đánh bạc của y diễn ra một cách thường xuyên “thiên thiên” (ngày ngày). Điệp từ thiên được dùng nhằm lột tả rõ cái bên trong, cái nực cười của công việc mà ông “ban trưởng” đảm trách. Đâu phải ông làm ban trưởng để quản lý trại giam. Ông làm ban trưởng để đánh bạc đấy chứ! Và “ban trưởng” làm gì có đủ tư cách để làm ban trưởng bởi bản thân ông cùng với những phạm nhân bị “quan bắt tội” vì “đánh bạc ở ngoài” là những kẻ cùng hội cùng thuyền.
      Trong câu 2: cảnh sát trưởng, người lo việc dẫn giải phạm nhân, kẻ thực thi pháp luật, có chức phận tương tự ban trưởng phòng giam, oai phong – uy nghiêm về chức tước như thế song thực chất là một kẻ tham lam, vòi vĩnh tiền phạm nhân. Điều này chúng ta đã gặp ở những bài thơ khác trong Nhật kí trong tù với các khoản thu phí vô lí từ việc thổi cơm, nấu nước (Công kim) đến phí thắp sáng (Đăng quang phí)…Người thực thi pháp luật hóa ra lại là kẻ lèo lá, đê hèn, xấu xa, chẳng coi luật pháp ra gì.
        Đặt “ban trưởng” bên cạnh “cảnh trưởng”, hai câu thơ đầu đối nhau trong sự tương xứng, gần gũi về ý nghĩa cùng góp phần tô đậm hiện thực xấu xa, thối nát của các vị quan chức nhà tù. Từ những mâu thuẫn giữa bề ngoài với bên trong, hình thức với nội dung, Hồ Chí Minh gửi gắm vào đấy thái độ phê phán qua tiếng cười toát ra từ sự đối lập về chuẩn mực đạo đức cần phải có với sự thực sa đọa về đạo đức ở các kẻ quan chức trên.
         Khác với hai câu đầu, cái nhìn của tác giả tập trung vào chốn trại giam, câu thơ thứ ba thể hiện sự mở rộng không gian quan sát: từ không gian chốn trại giam hướng đến không gian rộng lớn bên ngoài xã hội: huyện Lai Tân. Và cũng bằng điều tai nghe mắt thấy về vị huyện trưởng, tác giả gửi một tiếng cười hóm hỉnh, thâm thúy: “Huyện trưởng thiêu đăng biện công sự”. Đây là câu thơ giữ vai trò chuyển ý đã được triển khai ở hai câu trên, chuẩn bị cho sự xuất hiện của câu kết. Câu 3 đã đem lại nhiều cách hiểu khác nhau trong độc giả và giới nghiên cứu. Cách hiểu khá phổ biến là huyện trưởng đốt đèn hút thuốc phiện. Ngài huyện trưởng chong đèn ban đêm đâu phải để giải quyết công việc, đâu phải vì mẫn cán, tận tâm  mà chỉ là ngài đang “biện” “tư sự” đấy thôi! Thực ra là ngài làm việc riêng, ngài hút thuốc phiện - “các quan huyện hồi ấy bên đó khi làm việc quan có bao giờ phải đốt đèn (thiêu đăng) đâu. Ngài đốt đèn hút thuốc phiện đấy thôi! Đó là sự thật trong các huyện đường Quảng Tây dưới thời Tưởng” (Đặng Thai Mai, tr 192, Nghiên cứu học tập thơ văn Hồ Chí Minh, Nxb Khoa học xã hội, 1979); cũng có người cho rằng ngài huyện trưởng chong đèn ngoài hút thuốc phiện ra còn để làm những việc “tư” mờ ám, khuất tất khác không thể làm vào ban ngày. Cách hiểu này làm nên sự lôgic, sự liền mạch với ý mà câu 1, câu 2 đã triển khai và làm hoàn chỉnh thêm thực chất về thói sa đoạ, thối nát trong giới quan chức của chính quyền Tưởng Giới Thạch.
        Một cách hiểu khác về câu 3 không dừng lại  ở công việc cụ thể viên huyện trưởng làm mà chỉ dừng lại ở hình ảnh ông ta đốt đèn làm việc. Hình ảnh ấy, bề ngoài đã gợi lên sự mẫn cán lo toan công việc cho dân và trong chừng mực nào đấy “để tạo một hình ảnh thái bình vô sự bề ngoài” (Trần Đình Sử - Đôi lời nói lại về bài thơ Lai Tân của Hồ Chí Minh trong sách giáo khoa Ngữ văn 11 – phongdiep.net). Song dù huyện trưởng có mẫn cán đến đâu, dù có lo toan công việc cả ngày lẫn đêm thì cái hiện thực đầy xấu xa trong địa hạt ông ta cai trị vẫn ngang nhiên tồn tại. Những kẻ giúp việc cho ông như ban trưởng, cảnh trưởng còn thối nát thế, nói gì đến kẻ khác! Và cái mẫn cán của huyện trưởng không thể che dấu được cái thối nát, mục ruỗng bên trong của ban trưởng, cảnh trưởng.
          Dù được hiểu theo cách nào thì câu thơ thứ 3 cùng với 2 câu thơ đầu đã ghi lại những điều mắt thấy tai nghe trong những ngày Bác bị giam cầm tại Lai Tân, miêu tả một cách khách quan, trung thực hình ảnh các đối tượng quan chức ở Lai Tân với tinh thần phê phán mạnh mẽ. Tiếng cười châm biếm, phê phán trong bài thơ vì vậy không chỉ toát ra từ những mẫu thuẫn đã nói ở trên mà còn toát ra từ thái độ khinh bỉ, chế giễu đối tượng.
           Lai Tân không chỉ dừng lại ở việc mỉa mai, châm chọc vào các đối tượng ban trưởng, cảnh trưởng, huyện trưởng, cũng không đơn thuần chỉ là sự phê phán chế độ nhà tù thối nát của Tưởng Giới Thạch. Sức phê phán của bài thơ đã vượt ra những đối tượng cụ thể mà nhằm vào cả thể chế chính trị thối nát đương thời. Độc giả có quyền liên tưởng đến bộ máy pháp luật, cơ cấu chính trị mục ruỗng, thối nát hiện tồn ở Trung Hoa. Năm 1942, năm bài thơ ra đời là thời điểm Trung Quốc đang bị phát xít Nhật xâm lược, vận mệnh dân tộc đang ngàn cân treo sợi tóc nhưng hàng ngũ quan lại Trung Quốc vẫn bình chân như vại, ung dung hưởng lạc. Sự thực ấy thật đáng băn khoăn, đáng phê phán.
Mang thân phận là một phạm nhân, lại là người ngoại quốc nhưng là một nhà chính trị nên Hồ Chí Minh rất có ý thức khi quan niệm văn thơ là sự nghiệp chính trị, hành vi chính trị. Vì vậy, những nỗi niềm, tình cảm của Người dồn cả vào câu kết-câu 4:
Lai Tân y cựu thái bình thiên
            Học tập tứ thơ trong Đường thi, cụ thể từ Đề đô thành Nam trang của Thôi Hộ nhưng Hồ Chí Minh không bày tỏ nỗi hoài cổ, nhớ tiếc về quá khứ đẹp đẽ như Thôi Hộ mà lại gửi gắm vào câu thơ sự giễu nhại đầy thâm thúy. Câu thơ, trên bề mặt câu chữ là một lời nhận xét khen ngợi, khẳng định về cảnh thái bình ở Lai Tân nhưng đằng sau sự khẳng định ấy là thái độ chỉ trích, phê phán kín đáo nhưng vô cùng sâu cay của Bác: (thế mà) trời đất Lai Tân vẫn thái bình như cũ. Chữ “thế mà” không xuất hiện nhưng độc giả có quyền hiểu Bác đã lược bỏ nó để gửi ý rằng sự thái bình kia chỉ là thái bình giả tạo. Thực chất bên trong của cái gọi là thái bình ấy là những ung nhọt, thói sa đọa, phi đạo đức của hàng ngũ quan lại. Hiện thực vừa miêu tả ở ba câu thơ trên đối lập triệt để với hiện thực ở câu cuối tưởng chừng tạo nên một sự phi lí, không nhất quán trong lập luận, trên thực tế đã xé toang bức bình phong thái bình dối trá nhưng sự thực đang đại loạn bên trong, trực tiếp là của huyện Lai Tân, rộng lớn hơn là của chế độ Tưởng Giới Thạch. Chốt bài thơ bằng hình ảnh xã hội thái bình, bằng sự bất biến “y cựu” nhưng xâu chuỗi, liên kết toàn bộ các đối tượng quan lại thối nát về đạo đức trong xã hội với nhau lại làm nên một bức tranh thối nát muôn thuở không chỉ của giai cấp thống trị Trung Hoa mà còn là của xã hội Trung Quốc.
Tiếng cười giễu nhại ở câu cuối đã lật tẩy bản chất của thể chế chính trị ở Lai Tân, như một dự báo về sự cáo chung của chế độ Quốc dân đảng do Tưởng Giới Thạch cầm đầu bởi vì cái gọi là “thái bình thiên” vốn đã thối nát như thế từ bao giờ.
Với thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật, thể thơ cổ điển của Trung Quốc thường được người xưa sử dụng để ngâm vịnh hoài bão lý tưởng hoặc ca ngợi thiên nhiên, Lai Tân đã vượt khỏi khuôn phép truyền thống bằng cách hướng đến miêu tả - phản ánh hiện thực khách quan và đạt được những thành công đáng kể. Lai Tân đã đạt đến trình độ “đưa thời sự vào thơ”, tiếp thu tinh thần phản ánh hiện thực từ Đỗ Phủ, nhà thơ hiện thực xuất sắc đời Đường Bác vẫn ngưỡng mộ. Thông qua việc ghi chép những điều bản thân đã mục sở thị, Hồ Chí Minh đã vẽ một bức tranh hiện thực sáng rõ về lũ quan lại thối nát ở chốn lao tù và cả trong guồng máy chính trị đương thời.
Giọng điệu chủ đạo trong Lai Tân là giọng điệu châm biếm. Sự vận dụng và kết hợp nhuần nhuyễn các cấp độ của giọng châm biếm đã góp phần gia tăng hiệu quả phê phán, tố cáo của bài thơ. Ba câu thơ đầu là ba câu thơ tự sự có giọng châm biếm mạnh mẽ, trực tiếp, không né tránh quanh co, được biểu hiện ở việc nêu đích danh đối tượng, kể từng tội trạng của đối tượng. Câu thơ kết là câu thơ trữ tình gợi nhiều hơn tả, giọng giễu nhại, trào lộng nhẹ nhàng mà thâm thúy. Song sự giễu nhại nhẹ nhàng, thâm thúy ấy lại gợi lên bao suy nghĩ về chế độ nhà tù Tưởng Giới Thạch, về bản chất của hàng ngũ quan lại đương thời, về thực trạng của xã hội Trung Hoa.
Vấn đề mà Hồ Chí Minh đề cập trong Lai Tân không chỉ là vấn đề của thực tại mà còn là vấn đề của mọi thời đại, mọi quốc gia. Đạo đức, tư cách của những người làm quan, làm quản lí nhà nước mãi mãi là điều cần được quan tâm. Những người đảm trách công việc quản lý sẽ tự nhìn lại mình qua việc làm của ban trưởng, cảnh trưởng, huyện trưởng để tự sửa mình và làm cho đất nước thái bình thực sự.
Hơn 70 năm đã trôi qua, Nhật ký trong tù nói chung, Lai Tân nói riêng vẫn cuốn hút độc giả vì sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa yếu tố cổ điển và hiện đại, vì tinh thần “thép” trong thái độ châm biếm, tố cáo thẳng thắn, mạnh mẽ của Hồ Chủ tịch.
PTN

Tác giả bài viết Phan Thị Nga (thứ hai phải sang) trong dịp gặp gỡ bạn bè tại TP. Thanh Hóa, tháng 4 năm 2015




"Đạo khả đạo..."

                               
(Trao đổi với tác giả Inrasara- bài "Văn chương đạo và không đạo", báo Tiền phong ngày 25/10/2015, đọc lại trên Zing.vn 30/10/2015)

                                                                        Chử Anh Đào

   Mong giữ mình cho sạch, tôi không muốn dây vào những xấu xa của người đời, tỉ như lừa đảo, trộm cắp.Nhưng khi đọc bài "Văn chương, đạo và không đạo" của tác giả Inrasara với quan niệm muốn "cần một cái nhìn rộng hơn, sâu hơn về chuyên môn" nên ngứa nghề, mạo muội luận bàn thêm.
   Đầu đề của tôi trích từ câu nói của Lão Tử- ông tổ của Đạo giáo. Nguyên văn:"Đạo khả đạo phi thường đạo, danh khả danh phi thường danh". Tạm dịch: Đạo là đạo mà cũng không phải là đạo, tên là tên mà cũng không phải là tên. Thoạt nghe thì từ "đạo" chỉ là đồng âm giữa một bên là ăn cắp và một bên là những điều người ta tôn thờ và làm theo suốt đời. Nhưng đây là tiếng nói tiêu cực của tầng lớp quí tộc phong kiến thời mạt vận, phản đối và chủ trương làm ngược lại những điều được coi là chính thống hàng nghìn năm Nho giáo. Cả hai chữ "đạo" giống nhau ở một điểm: nảy nở và sinh sôi trong một điều kiện xã hội không ra gì! Vì vậy "đạo" thường gắn với "tặc" (giặc).
   Chuyện "cầm nhầm" của nhau thì đã rõ rồi, đã xin lỗi và được tha thứ rồi. Tôi chỉ có một băn khoăn về tác phẩm trong tập thơ được giải (đã bị thu hồi) ở hai vấn đề. Thứ nhất là tên bài thơ. Đành rằng đặt tên con cái như thế nào là quyền của bố mẹ chúng. "Bạch lộ" nếu là "cò trắng" thì không ăn nhập gì với nội dung; còn với nghĩa là cái chén uống rượu lớn và "lộ" thì lại càng tối nghĩa. Thứ hai, tác giả đề từ:"Độc ẩm với Lã Bất Vi". "Độc" là một mình, "ẩm" là uống. Muốn uống với người khác thì phải là "đối ẩm" chứ. Ông bà ta đã có câu: dốt đặc mà lại nói chữ lỏng để chê cười những trường hợp như trên!
    Trở lại bài viết của Irasara, tác giả đánh số lần lượt 6 ý kiến. Xin trao đổi từng mục một:
    1.Tác giả cho rằng chuyện ăn cắp "gần như là thuộc tính của văn chương ở mọi nơi và mọi thời", kèm theo một số lời "thú nhận" của các tác giả tên tuổi. Lời kết tội này miễn bàn. Chỉ lưu ý tác gỉa xem lại nghĩa của từ "thuộc tính" và ngữ cảnh phát ngôn của các vị tên tuổi trên.
    2. Tác giả đã nhầm lẫn khi cho rằng Nguyễn Du đã "đạo" thơ Đường khi viết câu:"Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông". Nhầm lẫn cái gì ở đây? Xin thưa: Việc lấy các điển tích, điển cố và văn liệu Trung Hoa là một trong những nguyên tắc mĩ học trong sáng tác của các nhà văn nhà thơ trung đại Việt Nam. Càng tầm chương trích cú nhiều càng được người đọc khâm phục vì mức độ uyên thâm của người viết. "Cung oán ngâm khúc", "Chinh phụ ngâm"...là những ví dụ gần gũi, thân thuộc. Cứ như ý của tác giả thì trong "Truyện Kiều", Nguyễn Du còn nhiều lần mắc tội này. Ví dụ những câu thơ sau đều có nguồn gốc Trung Hoa: "Một hai nghiêng nước nghiêng thành; Khi về hỏi liễu Chương Đài; Liều đem tấc cỏ quyết đền ba xuân; Sân Lai cách mấy nắng mưa; Mắt xanh chẳng để ai vào có không..." Người ta đã làm cả cuốn "Từ điển Truyện Kiều" vì lẽ ấy.
     Gần gũi, đương đại, Inrasara cho rằng việc dùng lại một số từ ngữ trong ca dao, việc mượn một số điệu thức dân ca trong sáng tác ca khúc cũng là "đạo". Như vậy thì từ Đỗ Nhuận đến An Thuyên, Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Văn Tí, Nguyễn Tài Tuệ, Trần Long Ẩn...đều mắc tội này.
     3. Tác giả có vẻ nhẹ tay, cảm thông cho những trường hợp "nhỏ lẻ, vô danh". Nhưng theo tôi, không phân biệt già trẻ gái trai, dân tộc tôn giáo, vùng miền, hữu danh hay vô danh, lẻ tẻ hay hệ thống... Hễ lấy của người khác làm của mình mà chưa được phép thì phải gọi là ăn cắp. Không phải tác phẩm được giải bị phát hiện mới thành vấn đề.
      4. Đâu là nguyên do? Tác giả đặt vấn đề nhưng không trả lời mà chỉ dẫn ra hai trường hợp bị tố là PQM và PHT. Theo tôi, có chuyện đạo văn trước hết là do nhân cách, văn hóa và lòng tự trọng của người viết. Cần "tiên trách kỉ" trước rồi mới đến "hậu trách nhân" là do biên tập viên, quản lí xuất bản và việc thi hành luật sở hữu trí tuệ...
      5. Cách xử lí của những người có trách nhiệm và liên quan. Tác giả đưa ra ba ý kiến của ba nhà quản lí (kèm theo ảnh chân dung hoành tráng) là H.T, N.Q.T, N.V.C. Nhưng đây vẫn là những ý kiến cá nhân có vẻ vuốt đuôi của người có trách nhiệm từ đầu mà không phát hiện ra, chỉ thấy "ngờ ngợ, không ổn" hoặc của bậc trưởng lão cho hành động ăn cắp là "nghịch dại". Trẻ con mà nghịch dại thì có thể thể tất.
     6. Cuối cùng, một lần nữa, Inrasara lại nhầm lẫn giữa "đạo" và các thủ pháp nghệ thuật khác như "giễu nhại" (mà tác giả cho là chỉ có ở những người"hậu hiện đại"), "tập". Kiểu:"Trăm năm trong cõi người ta/Đời người ai cũng thở ra hít vào", "Bắt phanh trần phải phanh trần/ Cho may ô mới được phần may ô". Nếu vậy hãy kết luận tác giả của bài thơ làm sau người trước hơn ba trăm năm xem có phải là "đạo" không?
      Bài thứ nhất: Thanh minh
                        Thanh minh thời tiết vũ phân phân
                        Lộ thượng hành nhân dục đoạn hồn
                        Tá vấn tửu gia hà xứ hữu?
                        Mục đồng dao chỉ Hạnh Hoa thôn
      Bài thứ hai: Thanh minh
                        Thanh minh thời tiết vũ phân phân
                        Lung lí tù nhân dục đoạn hồn
                        Tá vấn tự do hà xứ hữu?
                        Vệ binh dao chỉ biện công môn.
             
               PK. 2/11/15
              C.A.Đ

                       Tác giả bài viết Chử Anh Đào (Ảnh: pleikucafe.com)


1 tháng 11, 2015

Chè vối

Hôm bữa xuống nhà anh Mậu Đàn ở Long Hải (Bà Rịa), ảnh rót cho một li nước nóng màu xanh bốc khói tỏa hương thơm ngát mùi ngai ngái. Hỏi nước gì thế anh. Mày cứ uống rồi tao nói cho biết. Tôi nhấp từng ngụm nhỏ thì nghe có mùi thơm như tinh dầu gì đó rất lạ, lại rất dễ chịu.
Lão cựu chiến binh dân Thọ Xuân, Thanh Hóa Nguyễn Mậu Đàn hấp háy con mắt ra chiều hãnh diện lắm: Chè lá vối tươi đó chú. Nể không.
Nể quá đi chứ. Đã nghe nói nhiều về cây vối với chè vối nhưng hồi ở miền Bắc nơi sản sinh ra cây vối tôi chưa được uống bao giờ. Đó cũng là một thiệt thòi. Tuy nhiên hơn năm nay, phát hiện có một cửa hàng ở đường Độc Lập (quận Tân Phú) gần nhà tôi chuyên bán đủ các loại đặc sản miền Bắc, trong đó có cả nụ vối khô với giá 150 ngàn đồng/kí. Từ đó cũng hơn một năm nay tôi chủ yếu uống chè nụ vối mua từ cửa hàng này. Thấy thích thú lắm vì chè nụ vối không những thơm ngon mà còn có nhiều ích lợi khác như một loại thảo dược nhiều tác dụng: Ổn định đường huyết, điều hòa huyết áp, thanh nhiệt, tiêu độc, tiêu thực và cả phòng chống được bệnh ung thư nữa… Tuyệt vời. Rất hợp với tôi.
Vậy mà nay ở tận xứ đất đỏ Bà Rịa quê hương chị Võ Thị Sáu lão bạn học cùng lớp đại học là Nguyễn Mậu Đàn lại có cả lá vối tươi nấu nước uống, không nể sao được. Tôi hỏi cây vối ở đâu mà anh có lá uống vậy. Lão không nói không rằng hăm hở dắt tôi ra đầu hồi nhà nơi có vài chục chậu kiểng đủ loại, chỉ vô một chậu cây lá xanh to như lá xoài, cao chưa tới một mét: Nó đây mày. Lần đầu tiên tôi thấy tận mắt cây vối. Tôi lấy làm ngạc nhiên bởi từng đọc trên mạng thấy nói vối là loại cây thân gỗ cao cả chục mét, trong lúc vối của ông Mậu Đàn đang ở tuổi nhi đồng lại trồng trong chậu như bon sai vậy mà lão ta đã vặt nấu nước uống. Dã man.  
Tuy nhiên khi nghe anh Mậu Đàn nói tao quý chú mày, nhất là mày lại từ Sài Gòn cất công xuống đây chơi với tao nên mới trẩy chục lá già dưới gốc hãm sẵn cho mày xuống uống, thì tôi lấy làm cảm động, mắt thấy cay cay.
Hỏi anh kiếm đâu ra. Thằng con tao mua trên Sài Gòn về chứ đâu. Nó bảo trên đó bán đầy.
Vậy là tôi nghĩ bụng về lại Thành phố thế nào cũng tìm mua một cây trồng lấy lá uống chơi. Đang tính bữa nào rảnh chạy xe lên mấy vựa cây cảnh trên Gò Vấp xem có không thì hôm qua đang đi dọc đường Âu Cơ, tôi tia được một cây vối tí hon trên xe cây bán dạo của anh chàng mặc áo bộ đội lưng đẫm mồ hôi đang đẩy bộ bên đường. Hỏi ngay: Cây vối bao nhiêu vậy. Trăm rưỡi đó, chú mua mở hàng cho cháu nhen. Nghe cái giá đó là tôi đã thấy dễ chịu rồi nhưng rút kinh nghiệm lần mua cây cóc Thái, nó mới nói trăm hai chưa chi tôi đã trả 8 chục, bị bán cho ngay nên biết là bị hớ ít nhất cũng hai chục ngàn. Tôi trả giá: 7 chục nhé. Không được đâu chú, bán vậy lỗ chết. Chú trả thêm đi. Thôi, tui đi đây. Đúng 7 chục thì lấy. Nói xong tôi tăng ga bỏ đi một cách… chầm chậm. Bụng nghĩ nếu nó mà vẫn không bán 7 chục thì quay lại trả 100 cũng được. Chợt nghe tiếng gọi từ phía sau rất rõ: Chú, 7 chục lấy đi, cháu bán lấy vốn cho nhẹ xe.
Có thế chứ.
Vậy là tôi bốc cây vối con con cao chừng hơn nửa mét đem về lên thẳng sân thượng trồng vô cái chậu xi măng còn bỏ không. Trồng xong ngắm nghía không chán mắt rồi chợt nhớ đến li nước vối nhi đồng của anh Mậu Đàn hôm ở Long Hải. Bắt chước anh tôi cũng vặt đúng chục lá, những cái lá chưa già lắm ở dưới gốc, rửa sạch rồi vò sơ cho vô ấm tích. Cắm ấm điện cho sôi rồi châm vô giỏ tích ủ chừng 20 phút. Rót ra li chè lá vối tươi đầu tiên tự mình làm nên trong đời mà thấy thú vị làm sao. Li nước xanh tươi, bốc khói thơm lừng. Vẫn đúng cái mùi tinh dầu là lạ ngai ngái y hệt lần được uống ở nhà anh Mậu Đàn. Sướng.
Chợt nghĩ: Vối là loại cây đặc sản của miền Bắc vậy mà bây giờ lại sống vui sống khỏe ở khắp Sài Gòn, khắp miền Nam, chỉ cần là có. Cây của miền Bắc cũng có thể sống tốt ở miền Nam. Nhưng ngược lại thì tôi chưa thấy. Chưa thấy cây xoài, cây sầu riêng, cây chôm chôm, cây măng cụt, cây vú sữa… của miền Nam ra sống ở miền Bắc.  Không lẽ cây cũng như người. Xưa nay chỉ có người Bắc vô Nam sống chư chưa thấy ngược lại, người Nam chả ai ngu gì mà ra Bắc sinh sống lập nghiệp bởi đất Bắc là đất dữ. Chẳng thế mà mấy bữa nay một số tờ báo mạng cứ khai thác mãi giọng đọc của 3 MC từ Sài gòn ra làm việc trên thời sự VTV, trong lúc trên đài HTV, VTV9, BTV và nhiều đài truyền hình địa phương khác, có rất nhiều các MC giọng chuẩn Hà Nội đang hành nghề thì không thấy ai nhắc tới. Đúng là người Nam sống và lập nghiệp ở miền Bắc hiếm như lá mùa thu.
Mở máy tra trên google thì thấy cây vối có hai loại. Một loại lá lớn hơn bàn tay có hình thoi màu xanh thẫm gọi là vối tẻ hay vối trâu. Một loại lá nhỏ hơn có hình thoi màu xanh dương gọi là vối nếp hay vối quế. Đối chiếu hình ảnh thì thấy cây của tôi là vối nếp hay còn gọi là vối quế. Vậy là cây quí rồi bởi nếp thì quí hơn tẻ là cái chắc.
Nhấp ngụm nước vối tươi thơm lừng ngắm cây vối quý rung rinh trong gió thấy thơ thới lạ thường.  

Một cây vối nếp cao chừng nửa mét. Hôm qua mới trồng xong nên để trong mát cho khỏi héo. Dưới gốc đã được thu hoạch mất chục lá. 


 Hôm nay thấy nó vẫn tươi xanh như đã quen thuộc lâu rồi nên cho ra nắng luôn


Tôi để cây vối miền Bắc cạnh chậu cây lá cách đặc sản của Nam Bộ. Sẽ có lúc viết một bài về cây lá cách này.


Li chè lá vối tươi đầu tiên trong đời. Màu rất bắt mắt. Thơm ngào ngạt. Chỉ uống một lần là nhớ mãi.