7 tháng 3, 2014

Anh Mậu Đàn

Hồi học lớp 12A với tôi có 2 anh đi bộ đội về cùng tên là Đàn, chỉ khác mỗi tên lót. Một anh tên Trọng Đàn quê Nghệ An, anh còn lại tên Mậu Đàn quê Thanh Hóa. Anh tên Trọng Đàn tôi không nhắc đến nhưng anh tên Mậu Đàn thì tôi thấy quí vì tính anh hồn nhiên, nói năng tưng tửng, không ra vẻ ta đây người lớn đi bộ đội về, công thần này nọ như anh Đàn Trọng kia. Tôi nhớ có lần sinh hoạt lớp anh đứng dậy phát biểu hùng hồn như chân lí: Người Thanh Hóa chúng tôi đã không làm gì thì chỉ làm dân thôi nhưng nếu đã làm gì thì làm hẳn vua luôn. Như Lê Lợi, như Hồ Qúy Ly ấy. Nghe anh nói, cả lớp tôi, nhất là dân xứ Nghệ-Tĩnh với Quảng Bình, Quảng Trị, Ninh Bình… nhao nhao phản đối sự đề cao cực đoan dân xứ Thanh và dìm hàng dân các tỉnh khác của anh. Riêng tôi thấy thú vị và vì thế mà nhớ anh mãi.
Tháng 9 năm 72, học hết năm thứ nhất thì tôi cùng 12 bạn khác trong lớp chia tay các bạn và anh Mậu Đàn để lên đường nhập ngũ. Sau chiến tranh tôi trở lại trường học tiếp ở khóa 16 thì các bạn khóa 12 với anh Mậu Đàn đã tốt nghiệp ra trường từ hồi nào.
Hồi Đại học Vinh kỉ niệm 50 năm, hội lớp hội khoa thấy bạn bè về khá đông đủ nhưng tôi không thấy anh Mậu Đàn đâu. Hỏi thăm thì nhiều bạn cho biết anh Mậu Đàn ra trường về quê dạy ở cấp 3 Thọ Xuân 1 được mấy năm rồi cuộc đời đưa đẩy cả gia đình anh vào sinh sống và lập nghiệp ở Vũng Tàu. Tôi xin được số đt anh và chép luôn vô máy rồi công việc cứ cuốn đi làm quên mất số máy của anh.
Tuần trước vô tình lục trong thẻ nhớ điện thoại thấy có chữ DAN, đoán là anh Mậu Đàn Vũng Tàu bèn bấm thử. Vậy mà trúng. Anh nghe tôi tự giới thiệu liền ô a lên hỏi thăm chuyện trò đến nóng cả máy rồi nói: Bây giờ một là mày xuống tao ngay, hai là tao lên mày ngay, vừa nhậu vừa nói chuyện. 42 năm từ khi mày rời khóa 12 đi lính rồi chứ còn gì. Phải gặp lại nhau xem mặt mũi ra răng chứ. Tôi nói phải đến hè mới xuống anh được vì đang bận lắm. Vậy để tao lên mày. Anh hỏi han địa chỉ tôi rất cẩn thận.
Cũng tưởng anh nói chơi đưa đẩy à ơi vậy thôi ai dè cuối buổi sáng nay, đang hí hoáy công việc thì có điện thoại của Mậu Đàn: Tao đang đứng trước cổng trường mày đây. Chạy vội cầu thang xuống đón anh tôi giơ tay ra bắt nhưng anh không bắt mà ôm chầm lấy tôi: Thằng qủi, hơn nửa đời người rồi còn gì.
Tôi dẫn anh lên phòng rồi gọi điện nhờ mấy chị phục vụ giúp cho một bữa ăn trưa. Hai anh em ăn thì ít mà nói chuyện thì nhiều. Chuyện bạn bè lớp 12A ngày ấy sau khi tôi đi lính rồi mất hút ai còn ai mất thế nào, ai yêu ai, ai lấy ai, ai bỏ ai... nghe mãi không chán…
Ăn xong tôi ngả cái giường xếp cho anh ngủ trưa nhưng anh không ngủ. Nằm nói chuyện ngày xưa đứa này đứa nọ suốt. Tôi nói anh ngủ đi em làm việc chút rồi mình về nhà em chơi, sau đó lên Gò Vấp ghé nhà Đào Thủy chơi. Hôm nay cuối tuần thoải mái một chút. Anh bảo tao lên đây gặp mày chơi nói chuyện cho đã chứ đâu phải lên ngủ. Rồi anh gọi điện cho Đào Thủy (cũng là một bạn học cùng lớp 12A, cùng dân Thọ Xuân, Thanh Hóa với anh, cũng mấy chục năm nay tôi chưa gặp dù cùng ở trong một làng Sài Gòn với nhau vì tôi và Thủy không có thông tin gì về nhau) nói: kiếm gì nhậu đi, anh với thằng Tùng Sơn lên nhà em liền đây. Tôi nghe tiếng Đào Thủy trong máy rất to: Xong hết rồi, anh với lão Sơn lên đi. Hóa ra anh đã báo chuyện đi chơi SG cho Đào Thủy từ hôm qua.
Rồi tôi chở anh về nhà tôi. Rồi lên nhà Đào Thủy trên Phan Huy Ích.
Nhà Đào Thủy chồng với 2 con định cư hết bên Mĩ. Một mình Thủy ở trong một dinh cơ to đẹp thoáng mát lại thêm cả một dãy nhà bề thế có 7 phòng cho thuê trọ, hàng tháng chỉ nằm võng thu tiền trọ tha hồ ăn chơi. Cuộc sống rất sung túc. Thủy bảo khi nào anh Mậu Đàn mời hết các bạn 12A vào nhà em họp lớp, ăn ở miễn phí cả tháng cũng được.
Chuyện trò một lúc thì Thủy xuống bếp dọn ra một dĩa thịt heo hun khói với cái lẩu bò đủ các loại rau do Thủy trồng trên sân thượng. Thêm một chai vang đỏ Argentina to tướng. Chẳng còn gì tuyệt hơn nữa. 3 tên bạn học cũ cứ chuyện trò tào lao thiên đế và ăn uống tưng bừng.
Ăn uống xong thì đã tối. Đào Thủy tiễn anh và tôi ra tận ngoài đường. Tôi chở anh về nhà con trai anh bên quận 7 và không quên một lời hẹn chắc như đinh đóng cột là hè này tôi sẽ về Long Hải thăm chơi với anh. 

                                     Anh Mậu Đàn sau 42 năm gặp lại


 
Trong căn phòng làm việc của tôi ở VHU. Hồi học với nhau anh là bộ đội xuất ngũ về còn tôi là học trò phổ thông, anh già hơn tôi. Bây giờ tình hình có có vẻ như ngược lại.


                                      Đào Thủy và anh Mậu Đàn...


                                     Trong bếp nhà Đào Thủy


                             42 năm gặp lại vẫn hồn nhiên như ngày xưa
  

  

4 tháng 3, 2014

Như là cuốn sách về Tây Nguyên

(Đọc “Các bạn tôi ở trên ấy”- Nguyên Ngọc- NXB Trẻ- 2013)

                                                                                Chử Anh Đào

          Tôi mua cuốn sách này trong buổi sáng một ngày đầu tháng 9 năm 2013 ở Nhà sách ngã ba Diệp Kính. Nhưng lần khân mãi không đụng đến vì vô vàn lí do khách quan và chủ quan, tư biện: bận việc, nhà văn là chỗ quen biết, mình cũng ở Tây nguyên gần  bốn chục năm rồi, đã viết, đã đi và sống khoảng 2 phần 3 các xã đồng bào “đặc biệt khó khăn” … 

                                  Bìa sách  Các bạn tôi ở trên ấy

Mãi tới mấy ngày nay mới đọc. Đọc liền một mạch 24 bài, 324 trang như bất kì cuốn sách hấp dẫn nào. Và chợt ngộ ra rằng những gì ta đã thân quen thì thời gian sẽ làm cho chúng trở nên tầm thường, nhàm chán; những gì ta tưởng đã biết kĩ càng sâu sắc rồi thực ra là chưa biết gì cả! Ví như đơn giản một từ “bạn”. Không ít thì nhiều, từ tuổi mẫu giáo đến khi gần đất xa trời ai ai cũng có bạn.. Nhưng “bạn” của người Tây Nguyên thì ở cấp độ nhân văn và chiều kích vĩ đại hơn nhiều: “Đấy là lễ kết nghĩa giữa hai người đàn ông, thường ở hai làng khác nhau…Đối với họ,thiêng liêng nhất, trọng đại trên đời là tình bạn…có được một người bạn qua một lễ kết nghĩa thật lớn là vinh dự cao nhất, được toàn xã hội kính trọng, tạo được uy tín lớn nhất trong xã hội, có tiếng nói trọng lượng nhất…hành vi đẹp nhất trong đời một con người: lao động suốt đời, thật giàu có…để đem cho.” (tr 268,269) Nguyên Ngọc dùng từ “bạn” trong tựa đề cuốn sách cũng theo ý nghĩa đó chăng?
          Các bạn của nhà văn thường có thâm niên tình cảm cả mấy thập niên, có khi già nửa thế kỉ. Họ là những người có tuổi tên, những nghệ sĩ đích thực, những anh hùng nổi tiếng như Đinh Núp, Xu Man, Y Dơn, Hơ Ben, Hrin, A Bốc…Lại cũng có những người bạn lẫn trong dân thường áo vải như muôn vạn thường dân khác: những ông già, bà trẻ chơi đàn Krong Pút ở Kon Plong, Những người đàn ông thổi Đinh Pút trong đêm khuya thanh vắng ở Dục Nhầy,ông lão chỉnh chiêng ở Kong Chơ Ro, người tạc tượng mồ ở Kbang… Họ có những phẩm chất chung là trung thực, không háo danh, không muốn bị ràng buộc, yêu tự do, thủy chung son sắt, gắn bó máu thịt với nơi mình sinh ra cho tới khi xuôi tay nhắm mắt. Cảm động xiết bao những giọt nước mắt của những người đàn ông sau bao năm gặp lại! Họ là những CON NGƯỜI đích thực, viết hoa.

                                   Nhà văn Nguyên Ngọc (Ảnh: từ internet)

          Một người bạn lớn khác của Nguyên Ngọc là Rừng. Những cánh rừng đại ngàn, nguyên sinh giờ dù chỉ còn trong kí ức nhưng bất tử. Nhà văn có rất nhiều phát hiện, minh triết về rừng, về mối quan hệ sống còn, về văn hóa rừng. Có thể nhiều người đã biết. Riêng tôi thích thú nhất là “ ma lực rừng” ( tạm gọi thế).Rừng khiến Đinh Núp đốt lửa trong phòng ở giữa lòng Hà Nội, Hòa Bình; rừng khiến Y Dơn ói ra cái gọi là “rượu” của người Kinh chứ không phải là rượu ghè men lá quê mình do các chị các bà làm ra với lời khấn “…ỉa ra, tụt khố, tụt váy…” bên ghè rượu. Rừng gọi Y Dơn , Hơ Ben từ chối những tước hiệu cao quí “ưu tú”, “nhân dân” (mà họ xứng đáng hàng đầu) do chế độ khoác cho( đã có biết bao nhiêu người “chạy” để có) mà quay về nơi chôn nhau cắt rốn; rừng khiến Đinh Núp gượng gạo, bùng nhùng, ngượng ngập trong cái áo công danh, quyền chức, “anh hùng”, thân xác từ nghĩa trang “Mai Dịch” Plei Ku mà hồn trở về làng làm lễ bỏ mả; rừng khiến Xu Man, Đinh Núp không ở cái nhà tình nghĩa mà chế độ tưởng là thể hiện tính ưu việt cấp cho, lui về căn nhà sàn lượp tượp truyền thống “ như cái lều vịt” sau đó của nghìn vạn năm tổ tiên ông bà.Không những vậy, với bao đứa con của mình, ma lực rừng còn có sức hút ghê gớm với những cá nhân tộc người khác. Gần như ông Thịnh- nhệ sĩ violon Hà Nội; như bố con cựu chiến binh Nguyễn Văn Năm, Nguyễn Văn Nguyên quê Lâm Thao- Phú Thọ; xa như ông Goer Condominas, ông Jacques Dournas bên trời Tây đã tự nguyện dấn thân vì dân tộc hoc, tự nguyện từ bỏ đạo mình đem đi cải cho người ta để bị người ta (văn hóa Jrai) cải lại…Những gào thét, hú hét, những đóng kịch, trình diễn cồng chiêng, lễ hội mà các cơ quan gọi là “văn hóa” đang yêu cầu nhân danh “di sản” không bao giờ là của người Tây nguyên theo nghĩa nguyên thủy của khái niệm này. Với quan niệm của Nguyên Ngọc, văn hóa Tây nguyên là văn hóa rừng; sự hủy diệt hay tái sinh rừng đồng nghĩa với sự tồn tại và phát triển hay sự cáo chung của các tộc người bản địa! Đọc sau những hàng chữ kết luận của nhà văn ở cuối mỗi bài viết là sự trăn trở, đớn đau: “Ở Hà Tam bây giờ đã mua được tượng gỗ rồi. Sản xuất hàng loạt. Cuộc sống đang phát triển?” (tr 36) “ Tôi không biết. Tôi sợ” (tr 73); “Sẽ như thế nào nhỉ? Sẽ đi đến đâu?” (tr 248); “nhớ tiếc một vẻ đẹp” (tr 261) “Chỉ lo sợ. Rất lo sợ” (tr 270)…
          “Các bạn tôi ở trên ấy” không những đơn thuần là những ghi chép bạn bè, những cảm xúc, khám phá về rừng đậm chất văn chương mà còn định hướng cho những người quan tâm tới Tây nguyên về phương pháp nghiên cứu: Đừng nhìn đối tượng từ phía bên ngoài, từ trên xuống vì sự ban ơn hay tò mò mà hãy sống với nó, thực lòng!
          Nghe nói, trong buổi lĩnh giải thưởng cuối năm 2013 tại Hội văn học- nghệ thuật Hà Nội về “Các bạn tôi ở trên ấy”, Nguyên Ngọc bảo, đại ý: Đời viết văn của tôi được giải thưởng từ tiểu thuyết, rồi tới truyện ngắn và bây giờ là…bút kí. Một sự thụt lùi chăng?
          Tôi nghĩ đó là một câu đùa hồn nhiên như các bạn ở “trên ấy” từng nói với Ông miền Cao nguyên yêu dấu./.
                                                                   PK 3.3.14
                                                                       C.A.Đ


2 tháng 3, 2014

Bước tiến... lùi


Thời tôi đi học cấp 3 thi tốt nghiệp chỉ có 4 môn, nhẹ như lông hồng vậy mà do học hành thi cử nghiêm túc nên trăm đứa thi cũng có vài chục đứa rớt, phải ngồi học lại với khóa đàn em để năm sau thi lại.

Đó là chuyện của mấy chục năm trước.

Thế rồi có kẻ ngứa mồm bảo sao học thì hàng chục môn mà thi tốt nghiệp chỉ có 4 môn, như vậy là làm cho học sinh học lệch học tủ, là coi thường những môn không thi. Ở bên Tây người ta học gì thi nấy, rất công bằng. Ông Bộ Giáo dục nghe có lí liền nâng số môn thi lên thành 6. Chỉ chờ có thế, mấy nhà giáo dục chiến lược và báo chí tung hô rầm trời: Đây là một bước tiến lớn của ngành giáo dục nước nhà, rất đáng hoan nghênh.

Tuy nhiên thi 6 môn nhưng do căn bệnh thành tích thâm căn cố đế của ông Bộ nên lũ học trò vẫn đậu gần như trăm phần trăm. Vậy là những kẻ ngứa mồm lại lu loa lên rằng thi cử mà chưa thi đã biết đậu, ai cũng đậu thì thà bỏ quách. Ở bên Tây người ta đã phổ cập cấp 3, bỏ thi tốt nghiệp cấp này rồi, thi làm gì cho tốn thì giờ và tiền bạc của con dân.
Bộ GD nghe rối như canh hẹ. Bỏ thì không dám vì sợ loạn. Bởi học mà không thi thì chỉ có đứa ngu mới học. Nhưng càng tổ chức thi thì càng bị chửi rát tai. Tốt nhất là trở lại như cũ cho đỡ rách việc.

Vậy là năm nay ông Bộ GD vốn sẵn bản tính lơ ngơ như thằng đẽo cày giữa đường, trở lại thi 4 môn như thời tôi đi học cách nay đã mấy chục năm. Nghĩa là sau mấy chục năm tiến bước, giáo dục Vn đã quay về vạch xuất phát của thuở ban đầu. Vậy mà đã không thấy xấu hổ thì thôi, lại còn vênh váo mà cho rằng, đây lại là thêm một bước tiến lớn của ngành giáo dục, là thi cử của Vn đã vươn lên ngang tầm với quốc tế..

Với giáo dục Vn, tiến có nghĩa là lùi.

Cây cầu Long Biên là một biểu tượng của Thủ đô Hà Nội. Thời tôi học lớp Một  là từ năm 1961 trong sách tập đọc có một bài thơ giản dị mà đến nay sau nửa thế kỉ đi qua vẫn thuộc nằm lòng:

 Hà Nội có cầu Long Biên

 Vừa dài vừa rộng bắc trên sông Hồng… 

Cây cầu do người Pháp xây đã 115 năm qua, đến nay vẫn vững vàng cùng lịch sử (Lạ là ở trên đất nước ta, bất cứ công trình kiến trúc nào do bè lũ đế quốc thực dân từ Pháp đến Mĩ xây là đều bền vững với thời gian và đều rất đẹp).
Câu thơ trên làm bừng cháy trong tim thằng nhóc con học lớp 1 là tôi một giấc mơ lớn là mong có ngày được ra Hà Nội để thấy cây cầu Long Biên vĩ đại.

                                Tôi hồi học lớp 1
 

Sau này lớn lên, mỗi lần có dịp ra Hà Nội là tôi đều tìm cớ đi qua cầu Long Biên để thỏa cái giấc mơ thời con trẻ; để được hưởng cái cảm giác mênh mang hoài cổ của một thằng nhà quê ra tỉnh. Thấy tự hào vô cùng.

Vậy mà đùng một cái, lại có một bọn ngứa mồm ở Hà Nội đưa ra dự án tháo dỡ cây cầu lịch sử này chuyển sang một chỗ khác để bảo tồn, lấy chỗ đó xây một cây cầu mới. Nghe mà sôi máu.

Sao lại có cái lũ tham ăn đến mức bạo liệt như thế. Bởi chỉ với một dự án đó thôi nó ăn được những 3 lần: 1 lần tháo dỡ cây cầu cũ, 1 lần dịch chuyển đi chỗ khác xây lại, 1 lần xây cây cầu mới. Đúng là chúng nó làm và nghĩ theo lời câu thành ngữ: Có làm thì mới có ăn.

Tuy nhiên dân tình và công luận đọc thấy ngay tim đen của lũ tham nhũng này nên chửi cho rát tai. Ông thủ tướng Dũng chịu không thấu phải lên tiếng ngay: Không được phá cầu Long Biên.

Vậy là quả bóng được xì hơi. Ông Dũng thủ tướng lại được thiên hạ khen là sáng suốt.

Thế đấy. Cứ xây rồi phá, phá rồi xây … là đất nước tha hồ phát triển. Lạ là khi xây cũng xem là một bước tiến mà khi phá cũng xem là một bước tiến. Lúc nào cũng thấy tiến tiến tiến, chỉ có xã hội là thụt lùi.  


  

      

20 tháng 2, 2014

Lí quạ kêu

                                                            Truyện ngắn của Chử Anh Đào                                                                            

          Cơ quan chúng tôi nằm ở một trong những vị trí cao nhất thành phố về phía tây. Sau đó là nghĩa địa cũ. Xa hơn tí nữa là vạt rừng cao su mùa này trụi lá, giơ muôn vàn cánh tay khẳng khiu vào trời xanh như cầu xin một tí mưa thôi cũng được vì bị cái nắng nóng thiêu đốt tới kiệt sức. Tỏ mờ phía chân trời là dãy Chư Ó giáp quốc gia láng giềng.

          
Thường mỗi sáng thứ hai giao ban xong, tôi và Độ không sà vào rê dắt cà phê mà ngược lên con đường mòn sau cơ quan để lang thang đi về  phia có những làng đồng bào dân tộc, nơi tiếng chiêng lễ Pơ thi đêm trước còn vương đâu đó trên những ngọn cây hoặc đã hòa vào mây trắng những linh hồn bất tử. Tôi dạy âm nhạc còn Độ dạy mĩ thuật. Cả hai vừa có chân trong Hội văn học nghệ thuật của Tỉnh. Nghĩa là, nói cho oai một tí, chúng tôi vừa là thầy giáo, vừa là nghệ sĩ.Những cuộc đi bộ vặt vãnh này có thể cũng được coi là đi điền dã, đi thực tế, tìm đề tài, cảm hứng sáng tác.Có lúc thấy tôi chần chừ, Độ vừa như động viên vừa răn dạy: “Như ông bà mình nói, đi một ngày đàng… Chứ cứ ru rú ở nhà…Cơ hội không bao giờ tự đến với bất cứ ai mà chỉ đến với những người đi tìm nó.”
          Lối mòn ngược lên phía đồi lầm bụi đỏ. Bụi len lỏi vào tất cả các ngõ ngách người đi. Mới ra giêng mà trời đã hầm hập nóng để đến lúc đực cái không thiết nghĩ tới nhau trong vài ba tháng nữa thì trời mới làm những trận mưa phục sinh cho muôn loài. Từ “mùa xuân” ở Tây Nguyên nghe có vẻ như là sự mỉa mai. Xuân gì mà nắng, mà gió, mà bụi, mà khô héo, mà quay quắt…Không phải là sự bắt đầu mà như sự kết thúc. Mùa xuân chim én bay về, chim én đưa thoi đâu chả thấy, chỉ rợp trời bóng quạ. Đàn quạ như bóng mây bay qua che lấp cả mặt trời. Không gian đầy chật âm thanh ồn ã và hỗn độn tiếng quạ kêu, không lẻ loi vắng lặng và quạnh quẽ như trong “ Phong Kiều dạ bạc” của một nhà thơ Đường…
          Tiếng chiêm chiếp đứt quãng như tiếng ọ ẹ của trẻ sơ sinh bên gốc tràm cành lá rũ rượi như tóc người đàn bà sau cuộc yêu làm chúng tôi chú ý. Chúng tôi cúi xuống. Thì ra là một chú chim non to bằng con chim sẻ đã trưởng thành. Mắt nó như hai giọt mực to tròn ngơ ngác. Viền xung quanh mỏ là một màu vàng nhạt đến nao lòng, mỏng và thoảng như nắng trong chiêm bao. Lơ thơ dăm ba sợi lông măng trên đôi cánh như bàn tay con trẻ đang ra sức vẫy vẫy cầu cứu trong cơn tuyệt vọng, Loang loáng vài ba vết bầm dập vì rơi từ độ cao trên kia xuống. Chi chít gai của bãi mắc cỡ đã làm  thân mình non nớt, đỏ hon hỏn của nó rớm máu. Độ nâng nó trong lòng bàn tay. Mắt nó dường như sáng lên biểu lộ niềm vui và sự tin cậy vô cùng. Và lạ thế, chẳng thấy tanh hôi đâu mà thịt da nó thoảng lên hương thơm như đứa trẻ ba bốn tháng tuổi ngát lừng mùi sữa mẹ. Có tanh hôi là ở những năm tháng phía trước, có lẽ cũng là do hoàn cảnh. Còn thoạt kì thủy thì đúng như lời Phật dạy: Không có sự khác nhau nào trong máu cùng đỏ; không có sự phân biệt nào trong nước mắt cùng mặn! Tôi trèo lên cây tràm gỡ cả cái ổ chim rất rối xuống. Cả thảy là năm con. Kí ức tuổi thơ như những đợt sóng âm ỉ qua lặng thầm năm tháng bỗng ùa dậy, tuôn trào. Thủa ấy khi còn là cậu bé sáu bảy tuổi, cùng với chó mèo gà vịt, tôi rất thích nuôi chim. Tôi không biết leo trèo, cũng không biết cắt một ống tre cái, lấy tàu lá cọ phủ ra bên ngoài, bắc lên cây xoan, cây ổi trong vườn dụ vợ chồng chim sẻ về ở rồi sinh con đẻ cái. Tôi phải mua lại của lũ bạn ma lanh hơn. Thường một lứa chim sẻ bốn năm con. Sau dăm ba ngày chúng mở mắt là tôi xin tiền mẹ để mua. Cứ vài ba ngày con chim chết bởi sự vụng về, ngờ nghệch của con người. Tôi buồn bã mua con khác. Người bạn kia biết tôi thế nào cũng mua hết lứa chim của hắn nên hắn để dành và thản nhiên tiền trao cháo múc về những lứa chim non ấy. Công cuộc nuôi chim, trừ con sáo ngà anh Thông nhà bá tôi trên Phù Ninh cho, là thành công, còn lại là thất bại. Nhưng lớn lên tôi nghiệm ra rằng: Nhu cầu kết bạn của con người là rất lớn; rằng bất kì con vật gì mà ta thật lòng yêu thương chúng thì ắt sẽ được đáp đền trở lại, và chính đó là niềm vui, niềm an ủi vỗ về kích thích lòng ham sống. Gần đây cơ quan tôi, có bà làm trưởng một phòng chuyên môn. Mọi kế hoạch chỉ tiêu trong năm đều hoàn thành xuất sắc. Nhưng không khí trong phòng đặc quánh mùi quan liêu hách dịch, thiếu hơi thở ấm nồng của nhân tình. Các nhân viên lần lượt viết đơn xin chuyển công tác. Bà này với tôi cũng là chỗ thân quen. Trong buổi bình xét thi đua cuối năm, thấy mọi người từ xa xôi bóng gió tới huỵch toẹt ra cái gót chân A Sin của bà, tôi thầm nhớ lại một câu ngạn ngữ phương Tây: Nếu một người bảo anh là con lợn thì anh có thể đấm vỡ mõm hắn ra. Nhưng nếu trăm người nói anh là con lợn thì đúng anh là con lợn thật. Đấy có thể là văn hoa hình ảnh. Còn Khang, một chuyên viên có dáng người mập mạp phúc hậu như một bí thư xã vùng xa thì chân thành, giản dị: “ Cũng như ta nuôi gà nuôi chó thôi. Yêu thương chúng thì chúng sẽ yêu thương lại.” Đúng là có những bài học tưởng như quá đơn giản trong đời mà ta mãi vẫn không thuộc được…
          Chúng tôi đem ổ chim ấy về, cũng chưa biết để làm gì. Vào tới sân khu tập thể, ông Kiến, chủ nhiệm khoa của chúng tôi hỏi:
 - Các ông có cái gì đấy?
 - Bìm bịp.
          Mắt ông Kiến sáng lên:
 - Bìm bịp. Mấy con? Để cho tớ. Chiều tớ sẽ đãi các ông một chầu nhậu.
          Ông Kiến quê ở nơi có Bà mẹ Việt Nam anh hùng nhiều nhất nước, con một, gia đình liệt sĩ. Vợ ông làm y tá, cũng là con một của ông làm giám đốc một lâm trường mãi tận huyện K. Nói như thế để biết cái sự khát khao có lớp măng mọc cháy bỏng biết chừng nào. Cưới nhau đã năm năm, sự sốt ruột pha chút hoang mang lo sợ đã lên gần đỉnh điểm. Thôi thì vái tứ phương, đủ các loại đình chùa miếu mạo, đủ các loại thầy, đủ các loại thuốc đông tây nam bắc. Rốt cuộc thành tâm đã thấu tới trời, sự sống đã tượng hình sáu tháng. Siêu âm quí tử đích tôn, tim thai khoẻ mạnh, thai nhi phát triển bình thường. Gia đình háo hức đếm ngày đếm đêm chờ tới cái giờ khai hoa kết trái. Đứa bé trong bụng chừng như cũng đọc được sự nôn nóng của mọi người mà quẫy đạp mẹ nó mãi không thôi.
          Ông Kiến giải thích thêm:
 - Minh Mạng thang, A ma Kông, Trường xuân tửu, Dâm dương hoắc, tắc kè, cá ngựa…nhà đầy. Chỉ có bìm bịp là khó kiếm. Rượu bìm bịp non hạ thổ, ngâm ba tháng mười ngày cùng với trứng gà ta là cực tốt cho cả mẹ lẫn con: nhiều sữa, da dẻ hồng hào, xương cốt dẻo dai cứng cáp, nhỡ có té từ độ cao một mét cũng không sợ gãy…Thần dược! Thần dược!
          Tôi chợt nghĩ: Ở cái nước mình thì cây gì, con gì mà không nhậu được, ngâm rượu được. Thật là một đất nước kì quái. Toàn quân ham chết sợ sống(!) Nhưng thấy sự háo hức như bắt được vàng của ông Kiến, chúng tôi tần ngần đưa ổ chim cho chủ nhiệm khoa rồi cao chạy xa bay, “người ra đi đầu không ngoảnh lại”, tuyệt đối không dám mơ tưởng tới buổi chiều bên nồi lẩu dê thơm nức mũi ở cuối đường Trư Bát Giới mà ông Kiến hứa chiêu đãi.
          Một tháng sau, ông Kị chủ căng tin gặp chúng tôi gầm gừ. Lão này khi nghi ngờ hoặc bực tức điều gì với ai thì mắt vằn lên những tia máu và lồi ra, trông rất đáng sợ:
 - Các ông cho thằng Hướng con tôi chim gì?
          Chả là trưa hôm đó, chúng tôi ghé vào căng tin uống nước. Thằng Hướng cũng là một đứa trẻ thích chim. Nó năn nỉ các chú cho nó một con…
 - Chúng tôi cho chim bìm bịp.
 - Bìm bịp gì mà lông đen tuyền?
 - Vậy thằng Hướng nuôi nó bằng gì?
 - Bằng thịt bò.
 - Thảo nào lông nó chả đen. Bìm bịp phải cho ăn rắn thì màu lông mới chuẩn.
 - Thôi con lạy các bố. Con chim biết nói rồi đấy. Đến mà nghe nó kêu rành rẽ tên khai sinh của nó kia kìa.
          Chúng tôi tái mặt. Sợ ông Kị một còn sợ cái ông ngâm rượu kia mười!
          Đúng bảy mươi ngày sau. Bà vợ ông Kiến đã mẹ tròn con vuông, đang ở cữ. Buổi chiều, bên tô cháo gà ác tần nghi ngút khói, ông cầm li rượu thuốc, hai tay nâng ngang mày cung kính:
 - Em cố uống hết li này. Vì em, vì hoàng tử của chúng ta.
 - Em chịu thôi, tanh lắm.
 Ông Kiến năn nỉ:
 - Ráng lên mà. Càng tanh càng bổ. À hay là anh pha thêm chút mật ong rừng?
          Bà vợ phùng mang trợn mắt, lấy hết sức bình sinh nuốt cái li rượu ấy đánh ực, như vừa thoát được cửa ải mới, khó như lần vượt cạn vừa qua.
          Bỗng có con quạ cái đen trùi trũi , sải cánh như đại bàng từ phía Tây bay tới, như từ cổ tích ngàn năm trước bay về, đậu ngay lên đầu hồi dãy nhà kí túc xá kêu vang ba lần:
 - Quạ! Quạ! Quạ! Ngon gì mà ngon. Rượu ngâm con tao. Có còn xin hớp!
          Ông Kiến tái mặt, ra lấy đá ném đuổi nó đi. Nó chao về phía căng tin rồi lộn vòng trở lại: “ Quạ! Quạ!...” Ông A Veo phòng bên bảo: “ Với người Xơ Đăng chúng tôi, chim cú, chim quạ kêu báo điềm lành lắm đấy.”
          Chiều sầm sập buông như cố khép lại một cái Ác không chủ định.

                                                                             PK 20.2.14

                                                                                 C.A.Đ

8 tháng 2, 2014

Nghĩ cũng lạ



Hôm 29 Tết thằng bạn học cùng lớp ĐH là Thu Huệ (chồng Thu vợ Huệ nên gắn luôn tên vợ vô tên chồng cho khỏi lộn sang Thu khác, cả 2 tên này đều dạy ở HV Hành chính Quốc gia) gọi cho tôi chúc Tết sớm. Tôi hỏi Thu Tết này có gì vui không. Nó bảo mới lên chức ông nội từ bữa 26 Tết. Cháu đích tôn đấy, dù là đích tôn ngồi. Giọng Thu rộn ràng cứ như là vừa trúng số độc đắc. Không biết là nó gọi để chúc Tết tôi hay là chỉ để khoe là vừa có cháu nội.
Niềm vui Tết của Thu Huệ là có cháu.
Hôm 5 Tết tôi gọi ra Vinh cho Ngọc Nga (chồng Ngọc vợ Nga, cùng dạy ở VU) để chúc Tết. Nhà này mà gọi vào mùng 5 là vẫn hơi bị sớm vì Tết ngoài đó bận rộn lắm khó có thì giờ nghe điện thoại, bận nhất là phải liên tục tiếp khách đến thăm và ngược lại. Khổ thế đấy.  Khách đến thăm Tết nhiều thì kêu mệt như tra tấn, nhưng nếu không có ai đến thăm thì vợ chồng hẳn sẽ không khỏi lo lắng mà hỏi nhau sao Tết năm ni không thấy ai đến nhà mình nhỉ. Hay là có chuyện chi… Gọi cho Ngọc nghe trong điện thoại có tiếng lao xao của một đoàn khách vừa đến, câu đầu tiên tôi tranh thủ hỏi thăm nhanh để hắn còn tiếp khách là sức khỏe thế nào. Ngọc không trả lời thẳng vô câu tôi hỏi mà cho biết Tết này may mắn là cả mấy đứa cháu nội ngoại (tay này lên chức ông từ rất sớm) không đứa nào đau ốm gì.
Với Ngọc Nga sức khỏe của cháu là sức khỏe của ông bà. Cháu khỏe tức ông khỏe.
Nhớ có lần nhà Thu Huệ làm bữa cơm thân mật đãi bạn bè ở căn nhà mới trên Hạnh Thông Tây (nhà này được cái rất hiếu bạn, ai ở xa đến SG cũng đều được mời về nhà chơi và ăn cơm uống rượu, cảm động thế), chờ mãi không thấy cái Luyến, cũng là một bạn học cùng lớp nhà cũng ở Gò Vấp rất gần nhà Thu,  dù đã thông báo mời từ rất sớm. Điện thoại thì gọi 5 cuộc mới được một cuộc có người nghe. Cuối cùng nó nói là em cũng muốn sang với các anh chị lắm nhưng mắc giữ cháu ngoại không đi được.
Với con bé Luyến, cháu là trên hết.
Trên trang nguyenduyxuan chấm nét cũng của một thằng bạn học cùng lớp khác ở mãi trên Buôn Ma Thuột thường xuyên xuất hiện bài viết và hình ảnh về đứa cháu Sunny của Xuân. Nó viết về cháu cũng say sưa như viết về văn học, về văn hóa học. Ảnh cháu nó còn to đẹp rạng rỡ  hơn cả ảnh Tố Hữu.
Với Xuân, đứa cháu có cái nick name Sunny là nguồn cảm hứng vô tận để hắn làm thơ, chụp ảnh, viết bài.
Chử Anh Đào, một tay bạn học cùng lớp cao học với tôi hiện làm hiệu phó một trường cao đẳng trên Gia Lai. Tay này nhìn rất lãng tử bơ đời, sống và viết theo kiểu dọc ngang nào biết trên đầu có ai, lấy nghề dạy học làm chính viết văn làm phụ nên rất nhiều bạn bè và học trò. Vậy mà chơi với nhau đã lâu tôi cũng không nghĩ khi có cháu Đào cũng là loại ông nội đội cháu lên đầu như ngày nay. Bằng chứng là trong một bài tạp văn đã in thành sách Đào kể rằng: vào ngày Nhà giáo Vn 20 tháng 11, học trò đến thăm đông quá, thăm cả vào giữa trưa khiến không nghỉ ngơi gì được nên Đào đành phải trốn vô buồng nằm. Khi có một nhóm học trò đến thăm thì "ông cháu nội mới lên 3" mà Đào viết là "khôn như rận" đã biết chạy ra cổng nói dối với các cô chú sinh viên là "ông cháu đi vắng rồi" để ông nội được nghỉ ngơi. 
Gọi cháu bằng "ông" và phục cháu là "khôn như rận" chẳng phải đội cháu lên đầu là gì.
Trên blog của thanhthuoczvolen, một ông bạn đồng môn thời cấp 3 Đồng Hới sống ở Hà Nội cũng vậy. Chỉ có cháu, cháu và... cháu. Cháu ốm có thơ cháu ốm. Cháu khỏe có thơ cháu ... vừa hết ốm. 
Với Thanhthuoc, cháu là tất cả và cũng là nguồn thi hứng bất tận.
Có buổi tối, nhân dịp vợ chồng Khuyến Hường từ quê vô, một nhóm bạn khoảng chục tên cũng cùng học lớp cấp 3 Đồng Hới với tôi, tuổi đều đã lục tuần tụ tập nhau ăn uống chuyện trò rôm rả ở nhà hàng có tên "3 miền" trên Lý Chính Thắng quận 3. Đến lúc cao trào nhất của cuộc gặp gỡ bạn bè, khoảng một nửa tên trong số đó mở điện thoại cho bạn bè xem. Từ Nam, Tú đến Vũ... đứa thì khoe cháu nội, đứa khoe cháu ngoại. Đó là những đứa cháu có tuổi đời từ chưa đầy tháng đến đứa vừa đầy năm... đứa nào nhìn trên màn hình điện thoại cũng dễ ghét như cục bột nặn. Mặt ông bà nào khi đưa cháu ra khoe cũng rạng rỡ như bắt được vàng, khiến những  tên chưa kịp có cháu mặt buồn thiu. Tuyệt nhiên không có một ai khoe nhà khoe xe, khoe chức khoe quyền, khoe học hàm học vị, khoe công danh phú quí. Dù trong số bạn đó không ít người rất thành đạt trong cuộc sống.     
Tiếng là học cùng lớp nhưng tôi lấy vợ có con đều muộn hơn mấy nhà bạn bè trên, nên đến nay cũng chưa biết khái niệm mối quan hệ ông - cháu thực ra là như thế nào. nhưng từ thực tế của những bạn bè đã lên chức ông chức bà, tôi nghĩ cũng thấy là lạ.