26 tháng 11, 2020

May không bằng hên

Trên chuyến bay của VNA từ HCM lên Đà Lạt ngày 21/11 mới rồi, tôi ngồi cạnh một cô gái nhỏ nhắn xinh và trẻ như một SV mới tốt nghiệp ĐH. Tôi ngồi bên cửa sổ, cô gái ngồi ghế cạnh lối đi, ghế giữa bỏ trống.

Lúc mới lên mb thì tôi ngắm cảnh qua ô cửa nhỏ còn cô gái chăm chú vô đt. Máy bay vừa đạt đến độ cao thăng bằng thì chúng tôi bắt chuyện với nhau. 

Đó là một cô gái gốc ĐL, sống ở ĐL; cô gái hỏi tôi: Anh sống ở Sài Gòn hay Đà Lạt. Tôi ở SG, lên ĐL lần này là để tụ tập bạn bè cùng lớp hồi học đại học với nhau đi chơi thôi. Còn cô ở đâu. Dạ. Nhà em ở ĐL. Vợ chồng em vừa về TP HCM 2 ngày có công việc kinh doanh, nay quay lại ĐL.

Rồi như đọc thấy sự hồ nghi của tôi về “1 SV mới tốt nghiệp ĐH” và “làm công việc kinh doanh”, cô gái nói luôn: Em tốt nghiệp ĐH đã 12 năm rồi, em đã có 2 bé; ông xã em làm kinh doanh mấy dự án về điện mặt trời còn em thì làm chủ khách sạn và nuôi cá tầm. Tôi nghe mà chóng cả mặt. Một cô gái trẻ xinh như thế mà đã có cả một cơ nghiệp rất đáng kính nể.

Cô gái cho biết thêm: Chuyến về SG lần này là để mua một căn hộ chung cư mới ở khu Landmark 81 Bình Thạnh và rao bán 1 căn hộ chung cư ở đường Hậu Giang quận 6. Bọn em mua để thỉnh thoảng có việc về SG vài hôm thì có chỗ nghỉ lại khỏi phải ở khách sạn; xong lại đóng cửa để đấy thôi.

Tôi đang ngồi cạnh một nhà doanh nghiệp trẻ.

Em tên là Hạ Dzuyên, em có 2 biệt thự dùng kinh doanh khách sạn. Đó là khách sạn The K’Rin Villa nằm gọn trong lô B48-50 Khu Biệt Thự của ĐL cách trung tâm thành phố chỉ 800m. Trong đó một biệt thự em chia làm nhiều phòng cho thuê, mỗi phòng có giá thuê 500k/ngày; còn 1 biệt thự cho thuê nguyên căn giá 5,5 triệu/ngày đủ chỗ ở cho cả gia đình với tầm chục người. Khách sạn em luôn full khách nhất là dịp cuối tuần nên khách muốn ở phải đặt phòng trước.

Nghe chất giọng nhỏ nhẹ nhưng rất nét của cô chủ nhỏ tôi chỉ biết đi từ cái sự nể này sang sự nể khác.

Cô gái hỏi tôi làm nghề gì. Tôi làm nghề dạy học, làm báo, giờ thì nghỉ hưu và viết lách linh tinh, thỉnh thoảng ai kêu thì đi dạy thêm thôi.

Các anh lên đã có hợp đồng với Cty du lịch hướng dẫn vui chơi và tham quan không. Có chứ em. Đó là Cty Highland Sport Travel. Oh, em biết, Cty đó thì OK rồi, đàng hoàng và chu đáo lắm.

Anh xuống sân bay có ai đón không. Không, chắc tôi đi xe bus về TP rồi đi tiếp ta xi về khách sạn. Anh nghỉ ở KS nào. Khách sạn Hoàng Hà 203 Nguyễn Công Trứ, đó là khách sạn của gia đình một người bạn học mà trong lần họp lớp này vợ chồng bạn ấy mời cả lớp ở miễn phí.

Vậy xuống máy bay em đưa anh về khách sạn nhé. Em có ô tô để sẵn ở sân bay. Xe đâu ra mà sẵn thế. Dạ, hôm đi SG em lái xe ra rồi gửi luôn ở SB, xuống MB là có xe về ngay. Thế thì tốt quá. Nhưng tôi đi với cả team gồm 6 người, chúng tôi là bạn cùng lớp ĐH đều từ SG đi ĐL họp lớp. Họ ngồi ở mấy ghế phía trước. Em chở hết cả team anh luôn. Xe em có 7 chỗ. Thế thì may cho tôi quá. Cô gái nhoẻn cười: May cũng không bằng hên anh ạ. Em thấy sống ở đời gặp hên là thích nhất. Quá đúng. May đã thích rồi nhưng hên còn thích hơn.

Máy bay dừng lại, đi trong ống lồng cô gái nói, em ra xe trước nhé. Anh và các bạn lấy hành lí xong ra chỗ cột cờ sân bay thấy có cái xe ford 7 chỗ màu đen mang biển số 51 của SG là xe em đấy. Em đợi anh ở đấy.

Chờ lấy hành lí, tôi nói với các bạn: Có xe về Đà Lạt rồi nhé, khỏi đi xe bus nữa. Mọi người cùng ồ lên ngạc nhiên: Anh kêu grab à. Uh, rab riếc gì, miễn có xe đưa các vị về tận KS nhà Cúc Thắng là ok.

Đó là một chiếc Ford Explorer 7 chỗ đen bóng và rất to. Cả sân bay chỉ có 1 chiếc xe mang nhãn hiệu đó. Cô gái tên Dzuyên nhỏ nhắn ngồi lọt thỏm chỗ ghế lái khiến tôi phải căng mắt nhìn mới thấy.

Dzuyên lái xe đưa chúng tôi từ SB về Đà Lạt

Chất hành lí và ngồi hết lên xe xong, Dzuyên nói: Em đi nha. Rồi chiếc xe đi nhẹ như trôi về trung tâm TP. Đúng là tay lái lụa theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Nguyễn Hữu Thu bạn tôi trong team là người có ô tô và lái xe đã nhiều năm phải thán phục: Đúng là cái xe tốt thật, đi êm như ru không hề có một tiếng ồn. Mà người lái cũng ngọt nữa. Hắn hết lời và lộ liễu khen cô tài xế xinh đẹp thế mà như không biết sợ Huệ vợ hắn ngồi bên nhéo cho nhỉ.

Ford explorer 7 chỗ là một phiên bản cao cấp của dòng xe Ford. Thu hỏi xe này bao nhiêu em. Dạ, em mua 2,5 tỉ ạ. Lái nó khó không em. Dạ không khó anh. Đi xe này cũng dễ thôi.

KS The K’Rin Villa Đà Lạt

Cô gái lái xe vòng qua khu biệt thự có KS The K’Rin Villa giới thiệu cho tôi biết rồi mới đưa về KS Hoàng Hà của Thắng cách đó khoảng 1km.

Chia tay Dzuyên nói: Chỗ em có cả quán cafe cho khách. Rảnh em mời anh ghé chơi uống cafe nhé. OK, Cảm ơn em. Thế nào anh cũng tới.

Xe lửa cổ ở Đà Lạt

Sáng 24/11, trước giờ ra sân bay về lại SG, tôi và Trần Quyết Thắng chủ KS Hoàng Hà ghé The K’Rin Villa uống cafe. Làm kinh doanh KS, Thắng cũng phải thừa nhận đây là một khu biệt thự - khách sạn cao cấp. Cực kì yên tĩnh và thoáng đãng. 2 căn biệt thự dùng để kinh doanh, vợ chồng con cái Dzuyên ở riêng 1 căn Villa sát bên cạnh có cùng một lối kiến trúc. The K’Rin Villa được thiết kế và xây dựng rất sang trọng và độc đáo, cả ĐL chỉ có một biệt thự xây dựng như thế. Dzuyên nói: Khách đến chỗ em ở nhiều người đã trở thành thân thiết như người nhà. Có nhiều người lên đây ở chỉ ăn rồi ngủ, xong về; không tham quan du lịch gì hết. Họ chỉ cần hưởng cái không khí trong lành mát lạnh của Đà Lạt.

Tôi rất đồng ý với thực tế ấy. Bởi phong cảnh Đà Lạt dù hấp dẫn đến mấy cũng chỉ tham quan vài vòng là hết, là chán. Chỉ riêng không khí Đà Lạt là không bao giờ chán.

Tạm biệt cô chủ nhỏ của một cơ ngơi lớn tên Hạ Dzuyên, tôi mang theo câu nói: May không bằng hên.





Tôi đi họp lớp ĐH 16D K2 lần thứ 3 năm 2020 ở Đà Lạt; 21-24/11/2020


 

18 tháng 11, 2020

“Bước gió truyền kỳ” một đỉnh cao thơ ca của Phan Hoàng (Bài đăng trên báo Đất Việt)

 Sau mỗi chuyến tốc hành

ta ngược đường bay tìm về ngọn gió biển tuổi thơ

là hai câu thơ đầu tiên đập vào mắt tôi khi lật đọc bản trường ca Bước gió truyền kỳ của nhà thơ Phan Hoàng. Sau nửa đời người phiêu bạt, trở về quê hương, trở về với quá khứ tuổi thơ nơi vùng đất Phú Yên đầy nắng và gió với một lịch sử dựng nước và giữ nước hào hùng đã được tác giả lấy làm chủ đề chính của trường ca Bước gió truyền kỳ. Bởi ở Phú Yên cũng như trên suốt dải đất duyên hải miền Trung và suốt dọc chiều dài đất nước ta, mỗi bước chân đi hôm nay đều có thể dẫm lên những vết tích lịch sử oai hùng của một thời người Việt đi mở cõi.


Với hơn 40 trang in khổ lớn, Bước gió truyền kỳ được Phan Hoàng chia làm 3  phần. Phần I: Gió tiếp sức ước mơ, Phần II: Bước gió truyền kỳ, Phần III: Gió dựng thành lũy biên cương và kết thúc bằng phần Vĩ thanh: Những cơn vượt thoát sinh tồn vĩ đại. Như vậy có thể thấy gió trong trường ca này của Phan Hoàng đã trở thành một hình tượng văn học xuyên suốt và làm nên linh hồn của tác phẩm.

Nhà thơ Phan Hoàng từng chia sẻ: Nguồn cảm hứng của anh khi sáng tác trường ca Bước gió truyền kỳ trong 15 năm bằng một thi pháp khác biệt, khi anh lấy ngọn gió làm trung tâm để viết về hành trình mở cõi giữ nước của cha ông. Vốn sinh ra ở vùng đất Phú Yên một thời là vùng trấn biên của đất nước đã làm nên chất liệu khởi đầu cho trường ca của Phan Hoàng.

Ngay ở phần Mở đầu của trường ca, Phan Hoàng đã có lời đề từ bằng hai câu thơ rất hào sảng:

Người từ ngàn năm người quên tên tuổi

Bỗng gió theo về bỗng gió bay đi

Trong cái không gian nghệ thuật phóng khóang ấy, với Phan Hoàng nếu chỉ dừng lại ở một bài thơ là không đủ. Vì thế anh phải tìm đến với trường ca. Và Bước gió truyền kỳ đã ra đời như thế. Nhà phê bình văn học Chu Văn Sơn đã rất có lí khi viết: "Khi thơ trữ tình muốn trình bày những suy cảm về những vận động lớn lao, thậm chí, kỳ vĩ của đời sống bằng một hình thức lớn, khi ấy trường ca xuất hiện. Nói gọn hơn, khi thơ trữ tình muốn chiếm lĩnh thực tại ở cấp độ cái kỳ vĩ thì trường ca bắt đầu lên tiếng". Với Phan Hoàng, Bước gió truyền kỳ ra đời là để kể về một lịch sử hào hùng của các bậc tiền nhân thuở đi mở cõi từ những nghìn năm trước. Và phải là một người rất tự hào, rất yêu quê hương xứ sở của mình mới viết được những câu thơ như Phan Hoàng:

Tuổi thơ ta hồn nhiên bao câu hỏi

Hồn nhiên như ngọn gió hồn nhiên

Tung tăng cuốc kêu dế gáy chim ca

Cóc nhái gọi sấm gọi chớp gọi mưa

Gọi cả nỗi buồn giấc mơ lấm lem bùn đất

Giao hưởng đồng quê hòa quyện lời ru ôm lấy xóm làng

Đó là chất trữ tình đậm đặc trong thơ Phan Hoàng thể hiện rõ nhất ở trường ca này. Chất trữ tình mạnh mẽ đến mức lấn át ngay cả những khi tác giả muốn dùng chất liệu tự sự để thể hiện được nhiều hơn nội dung muốn chuyển tải của tác phẩm.

Trong sáng tạo nghệ thuật thi ca, các nhà thơ vẫn gặp trường hợp khi tự sự bất lực thì trữ tình lên tiếng, nhưng trong Bước gió truyền kỳ chất trữ tình đã giúp cho yếu tố tự sự vốn có của trường ca thêm bay bổng. Trong chương III của Phần I tác giả đã dùng thể tự sự để kể về cuộc trò chuyện giữa gió và núi:

Gió hỏi:

-      Núi đứng một mình núi có buồn không?

Núi tỏ ra sành địa lý:

-      Dưới chân núi là Vũng Rô của Biển Đông như cô gái đương thì kiêu sa và xa xa phía tây là đồng bằng Tuy Hòa châu thổ sông Ba lúc màu mỡ phù sa lúc ầm ào thác lũ.

Đó chính là điều mà trong lí luận văn học đã nói: Nhà nghệ sĩ đã lấy tự sự để trữ tình, nhưng cuối cùng trữ tình vẫn thắng thế.

Còn những câu thơ văn xuôi đã được tác giả rất gọt giũa sau đây thì hiện lên như một bức tranh về núi đồi và biển cả hùng vĩ:

Con đường xuyên sơn ngoằn ngoèo đèo Cả âm vang bước chân, vó ngựa, chiến xa vệ quốc oai hùng. Núi vui thú cây cỏ chim muông, núi mê mải ngắm các cô thiếu nữ.

Cái cách tả cảnh thiên nhiên hùng vĩ ấy chỉ có thể có ở đất và người của Phú Yên đầy nắng và gió.

Một trong những điểm nhấn của Bước gió truyền kỳ mà tác giả đã dày công vun đắp là nêu bật tấm gương của các bậc anh hùng dân tộc trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước để từ đó khuyếch trương vị thế đất nước. Đó là những cái tên đã thành huyền thoại của dân tộc như Lạc Long Quân, Âu Cơ, Lê Thánh Tôn, Huyền Trân, Nguyễn Hoàng, Lương Văn Chánh, Nguyễn Hữu Cảnh... mỗi cái tên ấy là một bước gió vĩ đại trong sự nghiệp hàng ngàn năm ông cha ta đã không ngừng mở mang bờ cõi. Hãy đọc to lên những câu thơ mang đậm hào khí Đông A trong Phần II của tác phẩm để thấy được phẩm chất vừa anh hùng vừa nghệ sĩ của những bậc vĩ nhân của lịch sử nước Việt:

Bước gió dịu dàng kiệu hoa Huyền Trân

Tay gạt nước mắt tay cầm nhan sắc

...

Bước gió vó ngựa uy phong Lê Thánh Tôn

Lưng kiếm túi thơ

...

Bước gió Nguyễn Hoàng

Bước gió Lương Văn Chánh

Bước gió Nguyễn Hữu cảnh

...

Chính những tên tuổi lừng danh đó đã làm nên những bước gió mở đường để tạo nên hình hài đất nước ngày nay. Đó là những bước gió thần kỳ và liên tục được tiếp nối hết thời đại này sang thời đại khác của lịch sử nước Việt. Và đó cũng chính là ý nghĩa làm nên tên gọi của trường ca Bước gió truyền kỳ. Có lẽ cũng vì thế mà đã có một thời gian dài thể loại trường ca được đồng nghĩa với sử thi, anh hùng ca mà Bước gió truyền kỳ có thể xem là một minh chứng.

                                               Nhà thơ Phan Hoàng

Tuy nhiên, trong lịch sử phát triển của văn học hiện đại, nghĩa của khái niệm trường ca đang ngày càng được mở rộng và tạo nên nhiều thể loại trường ca. Xét về nội dung và đề tài thì ngoài trường ca anh hùng (anh hùng ca) còn có trường ca giáo huấn, trường ca châm biếm, trường ca có cốt truyện lãng mạn, trường ca mang tính kịch - trữ tình. Với quan niệm ấy, xét trong chỉnh thể tác phẩm, Bước gió truyền kỳ là bản trường ca mang âm hưởng chủ đạo của sử thi và anh hùng ca. 

Thông thường các nhà thơ khi đã vững vàng ngọn bút, tự thấy mình đã nạp đủ năng lượng và để khẳng định một đỉnh cao trong sự nghiệp thường tìm đến với thể loại trường ca. Nước non ngàn dặm của Tố Hữu, Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm, Bài ca chim chrao của Thu Bồn, Đường tới thành phố của Hữu Thỉnh, Những người đi tới biển  và Khối vuông rubich của Thanh Thảo, Con đường của những vì sao (Trường ca Đồng Lộc) của Nguyễn Trọng Tạo, Trường ca Sư đoàn của Nguyễn Đức Mậu... là những cột mốc như thế. Vì thế mà có thể xem mỗi bản trường ca ra đời như là một tượng đài mà các nhà thơ đã dựng nên để tạo một đỉnh cao cho sự nghiệp sáng tác của mình. Đến lượt mình, Phan Hoàng cũng kịp cho ra đời cột mốc cho sự nghiệp của anh qua trường ca Bước gió truyền kỳ. Viết tác phẩm này, Phan Hoàng đã khẳng định độ chín của anh với tư cách là một nhà thơ. Độ chín ấy bao gồm kinh nghiệm sáng tác, vốn sống, cảm hứng sáng tạo và một bút lực dồi dào. Cái mà mọi người vẫn gọi là trường vốn và trường sức trong nghề nghiệp. Bởi thế mà đọc Bước gió truyền kỳ, lật bất cứ trang nào bạn đọc cũng dễ dàng tìm thấy những câu thơ hào sảng, mênh mang đủ sức lột tả và chuyển tải hết những điều tác giả muốn nói:

Gió ngược phương ta năm eo duyên hải

Gió xuôi chiều em chín khúc sông rồng

Đường gió minh mang tình tang đồng bằng

Rực đỏ vùng phù sa

Nóng chảy dòng xích đạo

Nói thật, tôi đã lấy làm ngạc nhiên khi thấy Phan Hoàng đưa được những từ như “năm eo” (cách nói nôm na chỉ vùng đất các tỉnh miền trung Trung Bộ từ Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên đến Khánh Hòa), “tình tang” vào câu thơ của mình một cách mượt mà, nhuần nhuyễn và tự nhiên như vậy.

Sự nhuần nhuyễn và tự nhiên mà rất dụng công ấy đã mang lại cho Bước gió truyền kỳ một phong cách nghệ thuật đạt đến đỉnh cao trong bút pháp của tác giả. Đọc thơ Phan Hoàng thấy lịch sử dân tộc Việt Nam trải dài suốt mấy nghìn năm là một lịch sử đầy tự hào và tương lai vẫn sẽ như thế.

Khi lịch sử gồng mình trước trước những cơn bão lớn

Mọi con đường đất nước đều thẳng hướng biên cương

Với Bước gió truyền kỳ, Phan Hoàng đã đi từ hình tượng nghệ thuật gió để tạo dựng nên hình tượng nghệ thuật đất nước. Đó là một thành công lớn của anh trong bản trường ca này.

Link XB: https://baodatviet.vn/van-hoa/goc-nhin-van-hoa/buoc-gio-truyen-ky-mot-dinh-cao-tho-ca-cua-phan-hoang-3422702/?fbclid=IwAR24GTGcVjBjimBwryKV8SXzTmTkxib16OytjYy8p1txgfz368bJf_3H9DM

11 tháng 11, 2020

Tôi từng đa đảng

Lại nói chuyện hôm qua bí thư đảng ủy phường đến nhà tặng quà. Đó là một anh chàng trẻ tuổi to cao đẹp trai, dung mạo sáng sủa đàng hoàng, nói năng chững chạc. Gọi tôi bằng chú xưng con. Cô nào làm vợ đồng chí bí thư này chắc suốt ngày lo giữ chồng.



Trong câu chuyện giữa hai chú cháu bí thư nói: Vậy là chú đã có một thời đa đảng đấy nhỉ. Tôi nghe tái cả mặt. Ở ta chỉ cần nói ai đó đa nguyên đa đảng, tự diễn biến tự chuyển hóa là có thể bị an ninh văn hóa mời lên đồn uống nước; thậm chí có 1 đến 2 chú bắc ghế canh đầu hẻm 24/24; hơn nữa thì bắt nhốt... Tôi đáp ngay: làm gì có, chú hồi nào tới giờ chỉ 1 đảng cs ni thôi cháu. Chú nói sao chứ, ít nhất chú cũng từng ở trong đảng lao động VN, sau đó mới chuyển sang đảng CS. Vậy là đa đảng chớ gì nữa.

Tôi nhẹ cả người.

Nếu vậy chú không chỉ ở trong 2 đảng mà còn ở trong 3 đảng đấy cháu. Chú từng là đảng viên của 3 đảng. Bí thư ngạc nhiên: Có chuyện đó nữa chú. Đảng thứ 3 là đảng gì.

Để chú kể cho mà nghe:

Tháng 12 năm 1975, tôi được quân đội trả lại trường cũ. Về trường, sau khi làm các thủ tục nhập học xong, tôi lên VP đảng ủy trường làm thủ tục nhập sinh hoạt đảng.

Thường trực VP đảng ủy ĐHSP Vinh khi đó là một cán bộ lớn tuổi, nghiêm nghị, nghiêm túc. Cầm xem hồ sơ đảng viên và giấy chuyển sinh hoạt đảng của Phòng Tham mưu Sư đoàn 341 Quân đoàn 4 từ Sài Gòn chuyển ra, ông nhẹ nhàng: Anh hiện đang là đảng viên đảng Nhân dân Cách mạng miền Nam. Đảng này hiện vẫn tồn tại và đang hoạt động ở miền Nam. Vì thế trước khi nhập vào sinh hoạt tại đảng bộ đảng LĐ Vn ở trường này anh cần phải chuyển từ đảng NDCM sang đảng LĐ đã.

Tôi nghe mà toát mồ hôi hột. Tôi cứ tưởng 2 đảng là 1 chứ. 1 thế nào. Anh phải ra Hà Nội chuyển thôi. Sau đó quay lại đây tôi giải quyết. Ra Hà Nội là đến chỗ nào đồng chí. Anh phải đến Cục Tổ chức của Tổng cục chính trị, nghe nói đóng ở trong thành Hoàng Diệu ấy. Tôi cũng đã đến đó bao giờ đâu mà biết.

Chết tôi rồi. Xưa nay đi lính, tôi chỉ lên đến sư đoàn bộ là cao nhất, quân đoàn cũng chưa đặt chân đến nói gì Tổng cục Chính trị. Bây giờ biết mò nó ở đâu đây. Tiền bạc trong bóp lại rất mỏng manh. Người ta ra quân còn được nhận trợ cấp 3 tháng lương thực và 3 tháng tiền lương phụ cấp, còn tôi do cướp quyết định mà về nên ra khỏi quân đội với 2 bàn tay trắng. Trong túi không có 1 xu. May có mạ tôi cho mấy chục đồng nhét túi. Giờ làm chuyến Hà Nội không biết có đủ tiêu không. Tôi nghĩ mà nhói cả lòng.

Nhét hết hồ sơ giấy tờ vô cái ba lô bộ đội còn lấm bụi đường, lấm cả đất rừng miền Đông Nam Bộ, tôi cùng 2 người bạn thân cùng quê cũng là 2 đồng đội cùng ở với nhau 1 đại đội C20 từ khi nhập ngũ đến khi xuất ngũ, cùng kết nạp đảng một ngày là

Hoàng Tấn Quả SV khoa sinh và Trần Quang Ánh cùng khoa văn với tôi nhảy tàu ra Hà Nội ngay trong đêm hôm đó. Tháng 12 miền Bắc trời rét căm căm. Ngồi trên con tàu chợ thu lu trong hai cái áo khoác mà chúng tôi vẫn nghe lạnh cóng cả trong ruột.

Sáng ra thì con tàu hú còi vào ga Hàng Cỏ. Đặt bước chân đầu tiên trên con phố Cửa Nam, 3 thằng cựu binh chúng tôi hăm hở đi bộ về thành Hoàng Diệu. Không biết đường, cứ thấy công an áo vàng là chúng tôi hỏi đường về Tổng cục Chính trị ở đâu đồng chí. Mấy anh công an nhìn bộ áo quần lính lấm lem bụi đường của 3 thằng tôi tôi rồi nhiệt tình chỉ đường. Cũng có lần tôi bị nghi ngờ nên phải trình ra cái giấy chuyển sinh hoạt đảng của đảng NDCM miền Nam ra mới được chỉ.

Cuối cùng chúng tôi cũng đến được một cái trạm mang tên 66 thuộc Tổng cục Chính trị Quân đội ND VN ở trog thành Hoàng Diệu (bây giờ là Hoàng thành Thăng Long). Đây là nơi đón tiếp cán bộ quân đội chủ yếu từ các tỉnh đội, các đơn vị và từ các mặt trận ra Hà Nội công tác.

Ông trạm trưởng 66 mang quân hàm thiếu tá xem hết các loại giấy tờ của chúng tôi trong đó có cái giấy chứng nhận tham gia chiến dịch HCM rồi nói rất thân thiện: Các đồng chí từ Sài Gòn ra chuyển sinh hoạt đảng à, cứ ở đây, khi nào xong việc thì về, chúng tôi sẽ để các đồng chí được ăn nghỉ miễn phí, mấy ngày cũng được. Chỉ suýt nữa là tôi ôm chầm lấy ông trạm trưởng 66. Người đâu mà tốt thế. Rồi ông dẫn chúng tôi vô một căn phòng khách rộng đến 30m2, trong đó kê 10 cái giường cá nhân, cái nào cũng có đầy đủ chăn chiếu mùng mền rất sạch sẽ. Tất cả 10 cái giường đều trống chỗ. Đây, các đồng chí muốn nằm ở giường nào cũng được. Ông còn tận tình chỉ đường cho chúng tôi đến Cục tổ chức cán bộ của Tổng cục.

Đặt cái ba lô xuống giường, quăng đấy mà không sợ mất vì không có gì để mất, chúng tôi cầm mớ giấy tờ tìm đến Cục tổ chức làm việc. Cứ tưởng chuyển từ đảng này sang đảng khác sẽ hết sức lằng nhằng và phức tạp, ai ngờ lại rất đơn giản. Viên sĩ quan của Cục mang quân hàm thiếu úy nhận giấy tờ xong, lại xem rất kĩ rồi nói: Đầu giờ chiều các đồng chí quay lại đây nhé. Xong ngay ấy mà. Trời, có đâu nhanh thế. Lúc đó đã gần 10 giờ sáng. Ai nói bộ máy giấy tờ của ta là quan liêu trì trệ.

Quay lại nhà khách, chúng tôi lên nhà ăn được ăn một bữa cơm trắng với thịt kho no căng rồi về ngủ một giấc ngon lành. Ở Hà Nội sướng thế, tôi nghĩ thầm trong đầu rồi lăn ra giường ngủ một giấc thật sâu. Mở mắt ra nhìn đồng hồ đã 2 giờ chiều. Lên văn phòng đã thấy anh thiếu úy ngồi ở bàn làm việc. Chúng tôi kí 1 chữ vô tờ A4 rồi nhận lại đầy đủ giấy tờ. Anh thiếu úy bắt tay chúc mừng cả 3 thằng chúng tôi được trở lại miền Bắc, tôi không quên nói lời cảm ơn anh ta.


Thấy trời vẫn còn sớm, chúng tôi dạo bước ra đường Hùng Vương rồi đi qua quảng trường Ba Đình, vừa đi vừa ngó nghiêng thăm thú, tuyệt đối không ăn uống gì vì trong túi có rất ít tiền. Ông trưởng trạm 66 thấy chúng tôi về thì hỏi: Xong chưa các đồng chí. Dạ xong rồi thủ trưởng (hồi đó các chiến sĩ và hạ sĩ quan thường gọi các vị sĩ quan là thủ trưởng). Ông bắt tay chúc mừng chúng tôi rồi ân cần nhắc lại: các đồng chí muốn ở thêm mấy ngày cũng được, vẫn được ăn nghỉ miễn phí. Khi nào chán thì về. Chắc lâu lắm rồi các đồng chí không đặt chân ra Thủ đô, tranh thủ đi chơi cho biết, khi nào về nhớ báo nhà bếp cắt cơm.

Tôi nghe muốn chảy nước mắt.

Được lời như cởi tấm lòng, cả 3 chúng tôi ở lại đi chơi Hà Nội 3 ngày. Mua mỗi tên một cái chăn bông loại 3 kí mang về Vinh dùng cho 4 năm đại học sắp tới.

Trở lại trường, lên VP đảng ủy, chỉ 5 phút sau chúng tôi đã có tên trong danh sách đảng viên đảng LĐ VN của trường.

Tôi đã từng đa đảng (ở trong 3 đảng) như thế đấy.

Tháng 12 năm 1975. Khi đó tôi vừa tròn 21 tuổi.

 

Tám phút mười chín giây hay Tình chỉ đẹp khi còn dang dở (Bài đăng trên báo Thanh niên và TC VHSG)

Ít có tập truyện ngắn nào khiến tôi phải đọc một lèo từ đầu đến cuối như Tám phút mười chín giây(*) của cây bút nữ xứ trầm hương Chế Diễm Trâm. Mười lăm truyện ngắn được in trong tập là mười lăm câu chuyện tình được kể bằng một giọng điệu nhẹ nhàng, tự nhiên mà sâu lắng. Và truyện nào cũng để lại cho bạn đọc những ngẫm nghĩ về tình người, tình đời. 

Tập truyện ngắn “Tám phút mười chín giây” của Chế Diễm Trâm, NXB Hội Nhà văn, 2020

Ngay từ truyện ngắn mở đầu, Mép nước, cứ tưởng như tác giả chỉ kể lại những kí ức tuổi thơ, một tuổi thơ không giàu có nhưng sang trọng, êm đềm và đẹp đẽ. Nhân vật chính là một cô bé con sinh ra trong một gia đình hiếu học, có ông bố giỏi tiếng Anh và rất nghiêm khắc với con cái. Nhà nghèo không có của cải để lại cho con cái nhưng ông đã truyền hết vốn liếng chữ nghĩa cho con. Đó hẳn là một tuổi thơ đẹp và không dễ có. Chuyện tưởng có thể dừng lại ở đấy cũng đã đủ để lọn nghĩa. Thế nhưng kết thúc của Mép nước lại là một câu chuyện tình dang dở. Hai người trẻ yêu nhau, sóng bước đêm trên bờ biển. Nàng chỉ chờ nghe chàng thốt vào tai mình ba tiếng “Anh yêu em” là sẽ có ngay một cuộc tình dọn sẵn. Nhưng điều đó đã không đến. Giống như hình ảnh một người hăm hở chạy ra biển chỉ thiếu nước nhảy ùm xuống biển bơi lặn cho thỏa thích nhưng rồi người đó chỉ dừng lại ở mép nước. “Có những giới hạn của số phận, của cuộc đời làm người ta phải từ bỏ hết, kể cả những giọt nước mắt dào lên mặn đắng...” Cái kết đầy chất triết lí ấy của câu chuyện đã nói lên tất cả.

Và câu chuyện mở đầu ấy của Tám phút mười chín giây đã như một định mệnh ám vào mười bốn câu chuyện tình còn lại. Chuyện nào cũng nói về tình yêu, rất đẹp, rất mộng mơ nhưng để rồi chỉ dừng lại ở cái “mép nước” của nó mà không đi đến cái gọi là hạnh phúc của hôn nhân và gia đình. Điều này khiến tôi nhớ về một bài tình ca bolero quen thuộc: Tình chỉ đẹp khi còn dang dở. Tôi đồ rằng đây là một chủ ý rất mạnh mẽ của tác giả đã viết nên những câu chuyện trong Tám phút mười chín giây.

Đó là những câu chuyện kể mà hầu như không có cốt truyện. Nhưng mỗi tình tiết, mỗi mạch truyện đều được tác giả cân nhắc rất kĩ lưỡng. Bởi thế mỗi truyện ngắn của Chế Diễm Trâm trong Tám phút mười chín giây hiện lên như một cô gái có vẻ đẹp dịu dàng và quyến rũ. Cô gái đó trang điểm rất kĩ càng và khéo léo đến mức mọi người nhìn vô cứ tưởng đó là vẻ đẹp mộc mạc tự nhiên. Trang điểm mà như không trang điểm, ấy là sự kì tài của một cô gái đẹp.

Người ta thường cho rằng mỗi câu chuyện tình dang dở thường để lại những xót xa và nuối tiếc. Nhưng những câu chuyện tình kiểu “mép nước” của Chế Diễm Trâm đã để lại cho bạn đọc một dư vị ngọt ngào và sâu lắng. Ế là một câu chuyện như vậy. Cố gái tên Ngân có một mối tình đẹp với anh chàng tên Phương. Mối tình sinh viên trong sáng vô ngần ấy đã dừng lại chỉ vì cha mẹ Phương chê chàng trai quê xa và nghèo túng. Phương trở thành một cô gái ế suốt từ thời phổ thông qua cả thời đại học. Đi làm cô lại đem lòng yêu người sếp của mình. Nhưng người đàn ông này dù đang rất cô đơn vẫn đang có đầy đủ vợ con. Người sếp biết Phương yêu mình và anh cũng rất yêu Phương. Nhưng nhân cách của một người đàn ông chân chính không cho phép anh đi quá giới hạn với Phương dù cô rất sẵn lòng. 30 tuổi, và Phương vẫn ế và chưa một lần mở lòng với bất cứ chàng trai nào. Đó là một love story nhiều kịch tính. Bạn đọc dõi theo số phận tình yêu của cô và cuối cùng đã thở phào vì cô không dấn sâu vào bi kịch tình yêu với người sếp. Thà mình ế còn hơn là trở thành tiểu tam để làm tan vỡ một gia đình. Không lấy chồng thì đã sao. Huống chi trên mạng các cô gái ế vẫn hát: Ế là một xu thế.

Và cái love story nhiều drama ấy vẫn đẹp.

Câu chuyện lấy đi nhiều nước mắt độc giả trong Tám phút mười chín giây có lẽ là Bìm bìm mãi tím. Chuyện kể về một mối tình thời sinh viên sâu đậm của một chàng trai Sài Gòn với một thiếu nữ Đà Lạt. Họ gặp nhau và đã cùng yêu nhau mà chưa kịp ngỏ lời. Rồi họ xa nhau và vô cùng tương tư nhau. Chàng trai ra nước ngoài du học để lại thiếu nữ mòn mỏi đợi chờ với những dải hoa bìm bìm tím biếc như những cái chuông nhỏ treo giữa trời Đà Lạt. Khi chàng trai (đã có gia đình) từ nước ngoài tìm đường về Đà Lạt để mong muốn được một lần nhìn lại bóng hình người yêu cũ thì cô gái đã đi rất xa vì một vụ tại nạn giao thông nghiêm trọng. Chàng trai khóc cho mối tình đầy ân hận của mình và độc giả khóc cho bi kịch của một câu chuyện tình rất đẹp.

Một lần nữa chân lí Tình chỉ đẹp khi còn dang dở lại có thêm đất sống.

Đọc Tám phút mười chín giây độc giả sẽ nhận thấy tác giả Chế Diễm Trâm chịu ảnh hưởng sâu sắc cách cách viết và lối dựng truyện của dòng văn học lãng mạn miền Nam trước 1975. Đó là những truyện ngắn tình yêu tuổi học trò và thời sinh viên thơ mộng dưới khung trời đại học với cách viết có nhiều sáng tạo, nhất là lối viết văn dựng truyện như tranh vẽ. Đây là một thành công nữa của Chế Diễm Trâm ở thể loại truyện ngắn, bởi trước Tám phút mười chín giây chị đã khá thành công với mảng viết nghiên cứu, phê bình văn học qua chuyên luận Nghệ thuật tùy bút Vũ Bằng (2015) và Những ô cửa nhìn ra vườn văn (2017).

Là một cây bút nữ cũng là một giáo viên văn lâu năm và nhiều kinh nghiệm, Tám phút mười chín giây được Chế Diễm Trâm viết theo một phong cách kể chuyện sâu lắng và đầy nữ tính. Trong kể chuyện, chị chú ý đến những tình tiết tưởng như rất nhỏ để từ đó làm bật nổi lên một ý nghĩa lớn. Truyện ngắn cuối cùng của tập truyện, Tám phút mười chín giây là một ví dụ tiêu biểu. Từ kiến thức vô tình về một bộ phim tài liệu khoa học phát trên ti vi: Ánh sáng mặt trời phải cần tám phút mười chín giây để đi đến trái đất. Vậy khi mặt trời vụt tắt thì tám phút mười chín giây sau đó trái đất sẽ ra sao? Và trong cái thời khắc rất ngắn ngủi đó, mỗi cá nhân và toàn thể nhân loại sẽ làm gì? Chỉ với ý tưởng đó, Chế Diễm Trâm đã dựng lên một truyện ngắn với nhiều tiếng cười lạc quan, yêu đời, yêu người và yêu cuộc sống. Câu chuyện kết thúc của tập truyện đã làm sáng lên một triết lí sống tích cực, một nhân sinh quan chứa đựng nhiều năng lượng sống. Nó nói lên rằng dù cuộc đời còn nhiều nỗi buồn đau nhưng không vì thế mà con người thôi yêu cuộc đời và thôi yêu nhau. Bởi con người ta không thể sống mà thiếu cơm gạo nhưng cũng không chỉ sống vì cơm gạo, mà tình yêu cũng chính là một nguồn năng lượng sống của con người. Có lẽ vì thế mà tên của truyện ngắn cuối cùng này đã được tác giả lấy làm tên chung cho cả tập truyện.  

Gấp lại trang sách cuối cùng của Tám phút mười chín giây, bạn đọc cũng có thể mường tượng ra con người tác giả, một cây bút nữ xứ trầm hương dịu dàng mà mãnh liệt, mỏng manh mà tinh tế. Người phụ nữ ấy có thể suốt đời dừng lại ở “mép nước” nhưng chị vẫn luôn khát khao được sống trọn vẹn với tình yêu.

(*) Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2020

Link xuất bản:

  https://thanhnien.vn/van-hoa/tam-phut-muoi-chin-giay-hay-tinh-chi-dep-khi-con-dang-do-1301661.html?fbclid=IwAR39soBl2HujlvFqbx4w4AAuIhZNnlXQfLxQktJyOmMlfPqhmpZFpd4RMI8


  https://vanhocsaigon.com/tam-phut-muoi-chin-giay-hay-tinh-chi-dep-khi-con-dang-do/


20 tháng 10, 2020

Chuyện giữa ngày lũ lụt

 

Tối qua gọi cho lão Sung Nguyen Xuan

ở Ba Đồn, đt kêu tút tút. Nghe lạnh cả người. Gọi cho lão Nguyễn Hữu Nhia, cũng tút tút luôn, cũng nghe lạnh cả người. Ba Đồn đang là một trong rốn lũ của bắc Quảng Bình, nhà 2 ông bạn này đều đang cắm sào ở đó, không lạnh sao được.

Sáng nay gọi lại cho Sùng. May quá, máy đổ chuông (mà thực ra là réo lên một bản nhạc gì rất khó hiểu. Nghĩ tay ni đổi gu âm nhạc rồi, chứ hồi trước máy hắn cài QB quê ta ơi nghe xúc động vô cùng).

Nghe nhạc 1 hồi chán cả tai thì giọng 1 con gái vang lên: Dạ, aloo. Có phải máy bố Sùng đấy không. Dạ máy ba đây mà ba đi mô mất rồi. Rứa nhà ba con ngập đến mô. Dạ nhà ba con ngập đến cửa sổ. Khộ rứa. Vậy con có biết nhà chú Nhia ngập đến đâu không. Dạ nhà chú Nhia mới làm 2 tầng ở trên cao e không bị ngập.

Nhẹ cả người chứ không lạnh cả người nữa.

Cũng sáng nay chát với anh

Lê Trọng Minh

đang về thăm quê Đức Thọ. Ảnh cho biết nhà ga đã trả lại vé khứ hồi và chưa biết khi nào vô lại được Ninh Chữ. Coi như là kẹt toàn tập. Chứ gì nữa. Không kẹt mới lạ. Từ Đức Thọ vô Ninh Thuận chỉ có đường bộ và tàu hỏa. Cả 2 con đường ấy đều đã bị lũ lụt phá tan hoang ngay tại Hà Tĩnh quê anh và cả ở QB quê tôi. Tôi động viên Lê Trọng Minh: Cứ coi như đây là cơ hội để anh em ta trải nghiệm lũ lụt ở quê nhà, cũng là dịp để ta ở dài ngày với quê hương.

Lão

Nguyễn Trung Ngọc

ở Vinh thì ngày nào cũng nt hỏi: Mưa còn to không, làng ông ngập đến rìa chưa; mạ răng rồi. he he, tui vẫn sống khỏe nha ông. Mạ tui 90 tuổi thì suốt ngày nằm rất yên trong mền nghe mưa to gió lớn thỉnh thoảng lại thò đầu ra nói gió mát hè. Làng tui ở trên đồi cao mà ngập thì thiên hạ có mà thành cá hết à. Nhà còn 1 thùng gạo nếp và 1 đàn gà khoảng chục con với mấy bụi sả sau nhà. Mà mưa lũ càng to càng mau đói bụng và ăn càng ngon miệng mới lạ.



Cũng tối qua từ quận 9 anh

Phu Nguyen Quang

gọi đt hỏi: Tình hình lũ lụt to thế này ta có tổ chức họp lớp nữa không HTS. Vẫn họp chứ anh, mưa lũ ở miền Trung chứ ở Đà Lạt thì đất trời vẫn thơ mộng như thường mà. Đó là chưa nói vc anh Lê Em đã cầm chắc vé máy bay khứ hồi Vinh - Đà Lạt trong tay, không họp sao được. Lúc này hãy làm theo câu nói của anh hùng Cù Chính Lan khi đánh xe tăng địch trên đường số 6 ở Mai Châu, Hòa Bình: Chết cũng mần. he he.


Tình đến hôm nay nữa là tôi rời SG được 20 ngày. Trong 20 ngày đó tôi đã tranh thủ khi đại hồng thủy chưa đến để ăn 3 đám giỗ: 1 đám ở xóm Bắc Lộc (đối diện với xóm nhà tôi là Nam Lộc); 1 đám ở Nghi Văn Nghi Lộc NA, 1 đám ở xã Quảng Đông nằm dưới chân Đèo Ngang; ăn 1 đám cưới to cũng ở ngay Thọ Lộc quê tôi; rong chơi 2 ngày với Ngọc Nga ở Nghệ An và Hà Tĩnh, thăm căn nhà Tri thức của bên nhà Đoàn Tâm vợ anh Lê Trọng Minh; rong chơi Hà Nội 4 ngày để đàm đạo chuyện SGK với 2 nhà chủ biên là Lê Phương Nga (chủ biện bộ SGK lớp 1 Vì 1 nền GD dân chủ và công bằng, may không bị ai đánh) và Đỗ Ngọc Thống (chủ biên SGK lớp 6 chưa ra mắt nên chưa bị đánh); qua tận bên Long Biên thắp hương cho bạn Khải vào đúng dịp lễ 49 ngày, Khải là chồng bạn Lê Khắc Chân Như lớp 12A K2; vân vân...

Khi tôi ngồi gõ những dòng này trời QB vẫn còn mưa chưa ngớt. Nhưng mưa đã nhỏ hơn nhiều.

Cầu mong cho bình yên trở lại.



 

13 tháng 10, 2020

Nghệ thuật bài chòi dân gian Bình Định, một bách khoa toàn thư về bài chòi

 Bài đăng trên báo Giáo dục và Thời đại

Với hơn 400 trang sách, Nghệ thuật bài chòi dân gian Bình Định(*) của tác giả Nguyễn An Pha là một công trình nghiên cứu, sưu tầm và biên khảo chứa đựng nhiều tri thức cả về lí luận và thực tiễn của một loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống ra đời từ thế kỉ thứ 15 ở các tình ven biển miền Trung từ Quảng Bình đến Bình Thuận mà trong đó, Bình Định được xem là cái nôi của sự phát tích gắn liền với tên tuổi của Đào Duy Từ, người được xem là ông tổ của nghệ thuật bài chòi.


Đánh bài chòi lâu nay vẫn được hiểu một cách nôm na là ngồi trên những cái chòi để đánh bài, là một trò chơi vui nhộn có nhiều người tham gia thường diễn ra trong các dịp lễ tết của địa phương. Tuy nhiên, từ công trình của Nguyễn An Pha, bạn đọc sẽ thấy được rằng nó là cả một loại hình nghệ thuật có quá trình ra đời, hình thành và phát triển với rất nhiều ý nghĩa mang đến cho con người trong cuộc sống suốt cả một chiều dài lịch sử hơn nửa thế kỉ nay.

Ở Phần I – Tổng quan về bài chòi dân gian Bình Định, từ những tìm hiểu và chứng lí lịch sử thấu đáo, tác giả đã cho bạn đọc thấy một điều rất thú vị: Nghệ thuật bài chòi ra đời từ hội đánh bài trong những cái chòi (lưu ý “hội” ở đây là lễ hội chứ không phải một tổ chức) nhưng không hề mang tính bài bạc, tiêu cực mà nó hoàn toàn mang tính giải trí và đại chúng. Trò chơi này càng về sau càng được nâng lên thành một nghệ thuật với tư cách là một nghệ thuật văn hóa dân gian.

Ngay trong phần mở đầu cuốn sách cũng đã cho thấy một chân lí: Nghệ thuật ra đời từ cuộc sống lao động của con người. Từ thuở xa xưa ở Bình Định, nhiều thú dữ trên rừng thường về phá hoại mùa màng, quấy nhiễu cuộc sống của người dân. Để chống lại thú dữ, người dân trong làng đã dựng những chiếc chòi rất cao ở ven rừng và bìa làng. Trên mỗi cái chòi cắt cử một vài thanh niên nông dân trai tráng canh gác, nếu thấy thú dữ về phá hoa màu thì đánh trống, hô to để đuổi chúng… Trong quá trình canh gác ấy, để đỡ buồn chán, họ đã nghĩ ra cách giao lưu với nhau bằng những câu hát, câu hò. Hình thức ban đầu là người trên các chòi đã ngồi trên chòi để hát - hô đối đáp nhau giữa chòi này với chòi khác. Rồi không chỉ có vậy, người dân còn sáng tạo ra cách ngồi trên chòi chơi bài tam cúc (tương tự như chơi bài tổ tôm ở ngoài Bắc). Hình thức vừa chơi bài, vừa hô (hát) giữa các chòi với nhau để giải trí này đã được dân gian gọi là hô bài chòi, khởi nguồn của nghệ thuật bài chòi tồn tại đến ngày nay. Thời gian càng phát triển, để nhiều người cùng biết cách chơi này, những cuộc giải trí dần dần được nâng lên thành hội đánh bài chòi.

Có thể nói, bằng những tìm kiếm không mệt mỏi với tư cách là một nghệ nhân, một nhà sưu tầm và nghiên cứu, công trình của Nguyễn An Pha đã làm sáng tỏ nhiều ngóc ngách, khía cạnh của một nghệ thuật dân gian quen thuộc với nhiều người nhưng không phải ai cũng có thể hiểu biết về bài chòi và nguồn gốc của nghệ thuật dân gian bài chòi, nâng bài chòi từ chỗ chỉ là một trò chơi khi tết đến xuân về ở các vùng quê nông thôn Bình Định và các tỉnh Trung Trung Bộ thành một nghệ thuật dân gian mang đậm tính folklore. Đó là đóng góp đáng kể từ Nghệ thuật bài chòi dân gian Bình Định.

Cái hay của công trình này không chỉ là mang đến một cái nhìn tổng thể nhất, chi tiết nhất về bài chòi dân gian Bình Định mà từ những đánh giá, kết luận về ý nghĩa và tác dụng to lớn của loại hình văn hóa dân gian mang đậm bản sắc vùng miền này, tác giả đã cho ta thấy sức sống mãnh liệt và sự trường tồn của nghệ thuật bài chòi dân gian Bình Định. Ngày nay, cứ vào mỗi dịp Tết Nguyên đán, chúng ta dễ dàng bắt gặp ở những vùng quê Bình Định từ An Nhơn đến Hoài Nhơn, Tuy Phước… những hội đánh bài chòi râm ran người chơi có khi kéo dài hàng chục ngày từ mùng một Tết cho đến hết mùng mười tháng giêng âm lịch. Bởi với người Bình Định, hội đánh bài chòi có một sức cuốn hút kì lạ. Cuốn hút đến mức:

Rủ nhau đi đánh bài chòi

Để con nó khóc cho lòi rún ra

(Ca dao Bình Định)

Theo Nguyễn An Pha, người Bình Định mê bài chòi vì họ tìm thấy trong đó những bài học về triết lí nhân sinh, về lẽ ứng xử ở đời, về tình yêu vợ chồng, gái trai, đôi lứa. Chẳng thế mà câu hát:

Vợ chồng âu yếm mặn nồng

Hai đầu một gối mới hòng yên vui

không chỉ là câu thai con bài Chín gối trong hô bài chòi mà còn là tình yêu của một đôi vợ chồng trẻ đang thì say đắm nhau không thể tách rời.

Hoặc:

Thấy anh em cũng muốn theo

Chỉ sợ anh nghèo anh bán em đi

thì đâu chỉ là nói về con nhì nghèo mà đó còn là tình yêu và lòng chung thủy, nghĩa phu thê...

Cứ thế, hội bài chòi sống mãi sau những rặng tre làng, tưng bừng mãi giữa những sân đình hoặc đơn giản trên một khu ruộng bỏ không của làng quê yên ả.

Nghệ thuật bài chòi dân gian Bình Định còn cho bạn đọc gần xa thấy ở Bình Định, cùng với sự giúp sức và đầu tư nhiều mặt của chính quyền địa phương, từ hội đánh bài chòi được phát triển một bước hình thành sân khấu bài chòi dân gian Bình Định. Có lẽ không ở đâu trên dải đất hình chữ S này, nghệ thuật dân gian bài chòi lại được trân trọng, nâng niu và phát triển như ở Bình Định. Do vậy, ở Bình Định bài chòi không chỉ là cái nôi mà còn là nguồn cảm hứng vô tận cho các nhà văn nghệ sĩ địa phương trong sáng tạo nghệ thuật. Bằng chứng là ở những nơi mà hội bài chòi phát triển ở Bình Định, đã xuất hiện nhiều nhà văn, nhà thơ, nhiều nghệ sĩ kịch hát rất nổi tiếng.

Điều đó chỉ có ở Bình Định. Và người Bình Định lấy đó làm niềm tự hào chính đáng của mình.

Ngoài những tri thức vừa tổng quan vừa rất cụ thể, Công trình Nghệ thuật bài chòi dân gian Bình Định còn mang đến cho bạn đọc những gương mặt nghệ nhân bài chòi tiêu biểu ở vùng đất giàu thơ văn nhạc họa Bình Định từ Nghệ nhân Nhân dân Lê Thị Đào, Nghệ nhân Nhân dân Minh Đức, NSƯT Nguyễn Kiểm cho đến các Nghệ nhân nổi tiếng Trần Văn Tới, NNƯT Minh Lưỡng, NN ƯT Minh Liễu, Nguyễn Văn Quý, Phạm Lau, Nguyễn Thị Kiều My... tất cả đã làm nên một không gian nghệ thuật bài chòi sống động và hấp dẫn.

Điều quý nhất từ Nghệ thuật bài chòi dân gian Bình Định đọng lại với người đọc chính là sự hiểu biết, nhận thức thấu đáo của con người Bình Định từ những người thuộc tầng lớp bình dân đến quan chức chính quyền các cấp về một giá trị quý báu của nghệ thuật bài chòi, một loại  hình văn hóa phi vật thể mà ở những vùng đất khác không dễ gì có được. Chính họ đã đầu tư không ít trí tuệ, tiền của và công sức để giữ gìn và phát triển các hội bài chòi, và sân khấu bài chòi dân gian trên đất Bình Định sống mãi và phát triển như ngày nay.

Cũng vì thế mà có thể nói, Nghệ thuật bài chòi dân gian Bình Định có giá trị như là một cuốn bách khoa toàn thư về bài chòi không chỉ riêng cho bài chòi Bình Định.

Chẳng thế mà người Bình Định cũng như những ai yêu mến, quan tâm đến nghệ thuật hô - hát bài chòi đã rất vui mừng và tự hào khi vào ngày 7 tháng 12 năm 2017, tại Phiên họp Uỷ ban Liên Chính phủ Công ước 2003 về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể lần thứ 12 của UNESCO diễn ra tại TP Jeju, Hàn Quốc, hồ sơ Nghệ thuật Bài chòi Trung Bộ của Việt Nam đã được ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

Thực hiện công trình Nghệ thuật bài chòi dân gian Bình Định rất dày hơi này, Nguyễn An Pha đã bỏ ra rất nhiều tâm huyết và công sức. Trong nhiều năm trời, anh đã lặn lội đến rất nhiều vùng quê, gặp gỡ rất nhiều nghệ nhân dân gian để sưu tầm những câu thai hô bài chòi đang sống trong lòng dân gian, đang được các nghệ nhân dân gian lưu giữ. Đó là cái công phu vô cùng lớn của tác giả công trình. Bởi với Nguyễn An Pha, chính anh cũng là một nghệ nhân dân gian mà mỗi câu dân ca, mỗi câu hô bài chòi Bình Định luôn chảy trong huyết quản của anh, làm nên ở anh một nghệ sĩ, một nhà nghiên cứu, một nhà quản lý văn hóa trong đó có nghệ thuật bài chòi dân gian Bình Định. Vì thế Nghệ thuật bài chòi dân gian Bình Định xứng đáng là công trình để đời của Nguyễn An Pha và khi thực hiện xong công trình này, anh cũng đã trả xong món nợ ân tình với quê hương Bình Định. 

Chẳng thế mà năm 2019, công trình Nghệ thuật bài chòi dân gian Bình Định đã vinh dự nhận giải Nhì B (không có giải A) giải thưởng của Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam. Đó là một sự trưởng thưởng xứng đáng cho Nguyễn An Pha khi thực hiện công trình nghiên cứu, sưu tầm, biên soạn này.

                                                                                                         

(*) Nguyễn An Pha, Nghệ thuật bài chòi dân gian Bình Định, NXB Văn hóa – Văn nghệ, 2019


 Link xuất bản: https://giaoducthoidai.vn/van-hoa/nghe-thuat-bai-choi-dan-gian-binh-dinh-mot-bach-khoa-toan-thu-ve-bai-choi-oByANp5Mg.html?fbclid=IwAR24nTAewb8qrY1ylGDH-2fD31pLUiFJ2UvHGogrAB41t5DPq5fmaENwO4M