20 tháng 4, 2014

Viết nhân ngày đọc sách


Hôm nay chủ nhật, nằm võng đung đưa và đọc một lèo cuốn Chắp nối Trường Sơn của Nguyễn Xuân Sùng.

Cầm cuốn sách do Sùng kí tặng gửi từ Ba Đồn vô, lúc đầu thì cũng như với những cuốn sách được tặng khác, tôi cũng chỉ định đọc xem ông bạn học cùng lớp 16D này viết cái chi và viết ra răng thôi. Nhưng rồi tôi đã bị hút vào ngay từ những trang đầu tiên và cứ thế, đọc mải mê cho đến hết. Hóa ra tay Xuân Sùng này lâu nay mình nghĩ hắn chỉ hay có mỗi vụ thỉnh thoảng làm mấy bài thơ tình có đủ anh anh em em để đọc cho tụi con gái lanh chanh trong lớp 16D hâm mộ và tranh nhau chép vô sổ tay. Ai dè với văn xuôi Sùng mới là thế mạnh. Và làm sao mà Sùng lại viết hay thế.  Rất tự hào vì có ông bạn học viết văn hay. 
Vừa đọc vừa dự định sẽ viết một bài về cuốn sách này của bạn. Có thể trong tuần này sẽ xong. (Bạn đọc muốn mua cuốn sách trên của Nguyễn Xuân Sùng liên hệ theo địa chỉ: 99 Chu Văn An, Ba Đồn, Quảng Bình; ĐT: 0916763575; giá sách 85.000đ. Tác giả sẽ gửi sách qua bưu điện) 

Tối nay xem Tv thấy chính phủ vừa ra quyết định để nước ta có thêm một ngày hội mới trong năm, Ngày hội sách Việt Nam. Thảo nào mà hôm nay tôi chúi mũi vào sách cả một ngày.

Nhưng nhớ lại thì riêng về vụ ra cái ngày hội sách Vn này, chính phủ đã đi sau Tp. HCM một bước khá dài. Bởi cách đây 4 năm, vào tháng 4 năm 2010, do có gửi tham luận nên tôi đã được BTC mời tham dự một hội thảo về ngày Tết sách Vn ngay tại công viên Lê Văn Tám nhân Hội chợ sách Thành phố HCM lần thứ nhất.

Bản Tham luận này đã được đăng ở mấy nơi, nhân ngày này đăng lại để chào mừng Vn ta chính thức từ nay có ngày hội sách và cũng là để chào mừng cuốn sách hay của Nguyễn Xuân Sùng vừa được NXB Văn học ấn hành.

Đăng tạm cái bìa sách của Sùng. Bài viết sẽ đăng sau


Đọc sách là biểu tượng của văn hóa và văn minh


Thứ Bảy, 10/04/2010, 14:16
 

Từ xa xưa, khi kĩ nghệ làm giấy chưa ra đời, loài người đã biết dùng tre làm thẻ để viết sách, mặc dù sách viết trên thẻ tre vô cùng phiền toái và phức tạp. Điều đó nói lên vai trò không thể thiếu của sách và đọc sách trong lịch sử tiến hoá của xã hội loài người. Trong một xã hội phát triển, không thể thiếu sự đồng hành của sách và đọc sách. Nói cách khác, đọc sách là biểu tượng của văn hoá và văn minh.

Trên thực tế cuộc sống, có một bộ phận người không cần đọc sách, ngoài những cuốn sách giáo khoa mà họ buộc phải đọc khi đi học. Và họ vẫn sống bình thường, vẫn đi lại bình thường, có khi vẫn giàu có, sang trọng. Nhưng chắc chắn họ không phải là những người thực sự có văn hoá, ít nhất là với văn hoá đọc. Trong trường hợp này, văn hoá đọc với những người này là một thứ vô nghĩa.

Nói như vậy cũng là để nói rằng, muốn xây dựng một xã hội văn minh, trước hết con người sống trong xã hội đó phải có văn hoá, có tri thức. Một xã hội không thể trở nên văn minh khi trong xã hội đó, văn hoá và tri thức của nhân loại có hằng hà sa số trong những cuốn sách bị coi rẻ. Con người muốn có văn hoá để trở thành người văn minh trong một xã hội văn minh không thể không đọc sách. Vì thế mà nói sách là công cụ, là phương tiện và cũng là biểu tượng của  một xã hội văn minh.

Trong sự phát triển đến chóng mặt của công nghệ thông tin điện tử ngày nay, các phương tiện nghe nhìn như truyền hình, báo điện tử, mạng internet với lượng thông tin vô cùng phong phú và đa dạng đã và đang ngày càng trở thành  nỗi đam mê của số đông người dân Việt Nam, tưởng có lúc và sẽ đến lúc sách và thú đọc sách sẽ bị ném ra rìa cuộc sống.  Nhưng thực tế, sách đã trở thành một thị trường  văn hoá đầy tiềm năng và ngày càng có chỗ đứng vững vàng trong một xã hội đang phát triển. Theo đó số người đọc sách  ở nước ta vẫn chiếm số đông. Có được thực tế đáng mừng đó là do lượng người có học ngày càng tăng cả về số lượng lẫn chất lượng. Muốn tăng được học vấn thì phải không ngừng bổ sung tri thức với một trong những con đường có hiệu quả nhanh nhất và kinh tế nhất là đọc sách.

Từ rất lâu, những ai đã đến với thú đọc sách đều nhận ra rằng, sách là người bạn tri âm, là người thầy dễ chịu nhất. Từ những trang sách, người  đọc sẽ đến với một thế giới muôn màu muôn vẻ, có đủ tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Sách bổ trợ cho chúng ta những kiến thức cần thiết trong cuộc sống, dạy cho chúng ta những bài học ứng xử mang đậm tính nhân văn và văn hoá để chúng ta trở nên hoàn thiện hơn,  văn minh hơn.

Từ những cuốn sách ngỡ như vô tri vô giác, người đọc sách dù ở trình độ học vấn nào, cũng có thể tìm thấy cho mình một chân trời mới của kiến thức và nhất là những bài học bổ ích cho cuộc sống; thậm chí đã có không ít những cuốn sách có sức mạnh làm thay đổi cả cuộc đời người đọc theo chiều hướng tốt đẹp hơn. Chẳng hạn đó là những cuốn sách trong Tủ sách hạt giống tâm hồn. Những cuốn sách như thế đã làm thay đổi cả những quan niệm, quan điểm sống tưởng như đã trở thành cố hữu trong tâm trí người đọc. Trong lúc đó, để thay đổi được cả một quan điểm sống là điều không dễ chút nào. Vậy mà sách đã làm được. Đó chính là sức mạnh tiềm tàng của sách và hiệu quả vô cùng to lớn từ việc đọc sách. 

Vì thế mà nói, đọc sách là biểu tượng của con người có văn hoá và văn minh. Một xã hội chưa trọng thị sách là một xã hội chưa văn minh; một con người chưa có thú đọc sách thì con người đó đã khuyết đi một mảng lớn về văn hoá. Việt Nam ta đang hướng đến việc xây dựng một xã hội văn minh, có một Tết đọc sách hàng năm để tôn vinh sách và việc đọc sách là đúng lắm rồi.


Hà Tùng Sơn - Nhà báo, Đài Phát thanh & Truyền hình Bình Định

Bạn đọc có thể download bài tham luận tại đây









18 tháng 4, 2014

Buổi sáng có thật hay "Buồn tênh lại cười"

A.Đa
 Trong lúc ăn sáng với hai người bạn cùng là hội viên chuyên ngành văn học của Hội VHNT tỉnh (một người còn là hội viên cao hơn kia), tôi thông báo: “Hôm qua có một người vĩ đại vừa ra đi”. Họ hỏi: Ở đâu? Tôi bảo ở Côlombia. Cả hai cùng cười phá lên: “Mãi bên Tây bán cầu. Ông chỉ thích đùa”. Tôi bảo: “ Nếu một người bình thường ở quanh ta nằm xuống, ta gặp, cũng ngả mũ cúi đầu dù không biết tên họ. Đằng này lại là người đoạt giải Nobel văn học, tác giả “Trăm năm cô đơn”…Sự chế giễu kèm theo tiếng cười vụt tắt. Thay vào đó là nuối tiếc trong niềm kính phục ông Marquez.
            Về đọc “Việt Nam nét” thấy bài: “Người Việt đủ năng lực tài chính sẽ được vào casino”. Theo bài này, sáng 17-4, UBTVQH họp, lần thứ 2 bàn đến chuyện mở casino. Chủ nhiệm UB Tư pháp nói: “Trong thực tế, người Việt Nam không vào chơi casino ở nước mình thì ra nước ngoài như Hồng KÔng, Cam Pu Chia, Trung Quốc…cần qui định chặt chẽ về nhân thân, tài sản, việc chưa có tiền án tiền sự về các tội liên quan đến cờ bạc…thì sẽ quản lí được.” Bộ trưởng Bộ Tài chính nói: “(Đề án gồm) những điều kiện chặt chẽ nhất, phù hợp,có lộ trình cụ thể. Một số điều kiện cần đảm bảo là người chơi phải có đủ năng lực tài chính, năng lực hành vi, điểm chơi phải kiểm soát được các đối tượng ra vào.” Đọc thấy tức cười quá. Thử hỏi các vị:
 - “Casino” tiếng Anh, tiếng Pháp đều có nghĩa là “sòng bạc”; sao không dùng tiếng Việt cho trong sáng và dễ hiểu? Còn ngần ngại hay dùng tiếng nước ngoài cho uyên thâm, bác học?
 - “Chặt chẽ, phù hợp, có lộ trình”- những từ nghe quen quen, hay là bê từ giải trình xả lũ về đây?
 - “Đủ năng lực tài chính” diễn nôm ra là có tiền bạc để chơi, không cần biết xuất xứ của nó: bán lợn gà, ngô thóc, vay mượn, lừa đảo, trộm cướp…mà có?
 - “sẽ được vào”- như là sự ban ơn cho người có công?
 - Nói: “Điểm chơi phải kiểm soát được các đối tượng ra vào” khác nào dạy đĩ vén váy?
 - “Chưa có tiền án, tiền sự về các tội liên quan tới cờ bạc”. Vào đánh bạc (cũng như vào phố đèn đỏ, bia ôm, karaoke tay vịn…) là để hoàn lương chắc?
            Chợt nhớ tới bài thơ của Ông Cụ trong “Ngục trung nhật kí”:
                                    Đánh bạc ở ngoài quan bắt tội
                                    Trong tù đánh bạc được công khai
                                    Bị tù con bạc ăn năn mãi
                                    Sao trước không vô quách chốn này.
            Lại chợt nhớ tới câu thơ của Thanh Thảo: “Tôi chào Đất Nước tôi, buồn quá.”      
                                                                                    PK 18.4.14

                                                                                          A.Đ





Một nhà văn vĩ đại vừa qua đời


A.Đa

Nhà văn vĩ đại người Côlombia Gabriel Garxia Marquez, giải thưởng Nobel năm 1982 vừa mất ở Mexico (nơi được coi là quê hương thứ 2 mà Ông sống 30 năm cuối đời) ngày 17 tháng 4 năm 2014, thọ 87 tuổi.

                            Gabriel Garxia Marquez (1927-2014)

Marquez là tác giả của 23 tác phẩm văn học. Những tiểu thuyết và các tập truyện ngắn nổi tiếng đã được dịch ra tiếng Việt và được bạn đọc yêu thích: “Trăm năm cô đơn”, “Ngài đại tá chờ thư”, “Những cô điếm buồn của tôi”, “Sống để kể lại”…Phong cách nghệ thuật của Ông rất đặc trưng cho chủ nghĩa hiện thực huyền ảo Mĩ- La tinh.
Từ nhỏ, Ông sống trong tình thương yêu và một thế giới cổ tích đầy ma quỉ của ông bà ngoại.
Nhà văn Mĩ William Faulkner (1897- 1962) là người có ảnh hưởng sâu đậm nhất tới Marquez.






9 tháng 4, 2014

Bài thơ lưu lạc

Hôm qua giờ nghỉ trưa tranh thủ chợp mắt 15 phút, đang thiu thiu thì cái điện thoại để trên bàn rung bần bật. Nhìn vô màn hình thấy tên người gọi là Võ Vĩnh Khuyến, ông bạn học, bạn chiến đấu một thời. Quái, lão này lại rảnh rỗi sinh nông nổi rồi. Việc gì quan trọng mà gọi ngằn ngặt giữa trưa thế.
Vừa bấm máy nghe lão hỏi: Ông có bài thơ nào tên là Có một thời như thế không? Tôi nói nước đôi: Hình như là có. Lão bảo tui đọc ông nghe thử có không nhé: Thời sinh viên chúng tôi không hoa sói hoa hòe/ Áo quần một màu xanh không mốt này mốt nọ… Tôi nghe thấy quen quen. Thôi, ông dừng để tui đọc tiếp xem đúng không: Hai mươi tuổi chưa nếm mùi đau khổ/ Nỗi đau đời là đất nước chia đôi. Khuyến ngắt lời, thế thì đích thị thơ ông rồi. 
Mà ông thấy nó ở đâu vậy? Đăng trên số Xuân năm 2000 của tập san Đại học SP Vinh chứ đâu. Thằng Duệ là bạn tui làm trưởng phòng Công tác chính trị ngoài đó, số nào ra nó cũng gửi cho một cuốn. 
Nhớ lại đó là bài thơ tôi làm đã lâu, đã đăng trên tạp chí Đại học và Trung học Chuyên nghiệp từ năm 1987, hình như là vào dịp kỉ niệm 30 tháng 4 gì đó;  khi còn dạy ở QNU, thời bác Tạ Quang Bửu còn làm Bộ trưởng (cuốn tạp chí này đã thất lạc sau mấy lần chuyển nhà). Vụ này chắc bạn bè  ở trường Vinh thấy thơ học trò cũ của trường nên lượm lặt đưa đăng vào số Tết năm 2000 cho xôm tụ (dân trường Vinh vốn máu chuyện thơ văn). Sao hồi đó họ không gửi cho tôi báo biếu nhỉ.
Khuyến kể  qua điện thoại: Trưa nay tui không ngủ được bèn quét bụi bặm cho cái giá sách. Thấy lòi ra cuốn tập san của trường Vinh, chợt nỗi nhớ trường xưa bạn cũ ùa về nên lật lật coi thì thấy tên ông. Khi nào ông đến tui cho cầm về mà kỉ niệm. OK, chiều hết giờ làm tui ghé xin. Chỗ trường tôi lại nhà Khuyến ở chung cư Nguyễn Thị Nhỏ ngay vòng xoay Lê Đại Hành cũng rất gần. Vậy là hết giờ tôi tấp vô nhà Khuyến để bây giờ có lại trong tay một bài thơ lưu lạc đã lâu.
Hôm nay được nghỉ làm, ở nhà ăn giỗ vua Hùng. Cũng là do rảnh rỗi quá  nên mở cuốn tập san giản dị của Đại học Vinh ra đọc lại bài thơ và đưa lên đây như là một kỉ niệm. Tuyệt nhiên không có ý khoe khoang gì và cũng không dám đề tặng ai (dù trong lòng rất muốn đề tặng những người bạn của tôi và cả những người từng có một đoạn đời như tôi). Bởi tuần trước cũng từ Đại học Vinh, một ông  bạn khác tên là Nguyễn Trung Ngọc đọc qua điện thoại cho nghe câu thơ tưởng như đùa mà rất nghiêm túc của anh Lê Em (cùng học lớp 16D với tôi và Ngọc):

Gặp nhau tay bắt mặt mừng
Tặng gì thì tặng xin đừng tặng thơ

Ông Lê Em này đúng là tẩm ngẩm tầm ngầm mà đấm chết voi. Hóm phết.
Câu lục bát tưởng như tếu táo ấy của Lê Em đã chết luôn trong lòng tôi. Và tôi thề từ nay có làm thơ thì chỉ nhét vô ngăn kéo, sẽ không đề tặng ai nữa. Tệ lắm thì đưa lên bờ lốc này chơi vu vơ vậy thôi. Ai đọc thì đọc. Tuy nhiên, điều này không nằm ở chiều ngược lại. Bạn bè tặng thơ cho tôi thì tôi vẫn quí như vàng. Bởi đó là tấc lòng, là cả tấm lòng của bạn.

Nó đây (*):


                 Câu thứ 2 của khổ thứ 3 từ trên xuống nguyên văn là: 
                 Bao bè bạn tôi mình trong lửa đạn ("tôi" = động từ, không phải là đại từ)


       (*)Trang này in sai 2 chỗ: huy hoàng thành huy hàng; Bè bạn thành Bạn bè.





  

8 tháng 4, 2014

Cỏ may trên sân thượng



Sổ tay thơ
                   CỎ MAY TRÊN SÂN THƯỢNG”
                             của Nguyễn Trọng Tạo

                                                   Chử Anh Đào

          Tác giả  của “Đi tìm thời gian đã mất” M. Prut đã từng nói: “Thế giới không phải chỉ được tạo lập một lần, mà có bao lần các nghệ sĩ độc đáo xuất hiện thì bấy nhiêu lần nó được tạo lập”. Chỉ với cỏ may thôi, trong thi ca Việt Nam hiện đại, đã có một ví von dân dã của Nguyễn Bính: “Tình anh như hoa cỏ may/ Một chiều cả gió bám đầy áo em”;  một Hữu Thỉnh “không thể nào quay lại, dù con đường chỉ có cỏ may thôi”; một Phạm Công Trứ bỗng cô đơn nuối tiếc: “Trăng vàng đêm ấy, bờ đê/ Có người ngồi gỡ lời thề cỏ may”. Cũng trong một cảm xúc tương tự, Nguyễn Trọng Tạo viết “Cỏ may trên sân thượng”:
                             Cỏ may khâu áo làng quê
                   Cớ chi gió thổi bay về trời cao
                             Ta lên sân thượng chạm vào
                   Cỏ may. Ta cúi xuống chào…cỏ may

                             Đời phiêu bạt sáu tầng mây
                   Từ trên chót đỉnh nhìn ngây phố nhà
                             Nào ngờ cỏ đã đơm hoa
                   Găm vào ta nỗi xót xa tận lòng
                             Người như con tốt sang sông
                   Chìm trong phố thị còn trông quê nhà
                             Áo quần chẳng rách như xưa
                   Trái tim rạn vỡ vẫn chưa vá lành
                             Cỏ may không hẹn mà xanh
                   Tìm ta khâu vá cho lành vết thương
                             Ngang trời hoa cỏ đẫm sương
                   Loanh quanh sân thượng mà thương cánh đồng.
                                      ( Rút từ tập “Thế giới không còn trăng”)

                                           Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo

          Quê hương, trong tâm tình người tha hương luôn hôi hổi một nỗi niềm nhức nhối, cháy bỏng. Thơ ca xưa nay đã ghi lại điều này. Lí Bạch “Ngửng đầu ngó bóng trăng vàng/ Cúi đầu lại nhớ mơ màng non quê”; Thôi Hiệu nhìn khói sóng trên sông mà nhớ về quê nhà “Quê hương khuất bóng hoàng hôn/ Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai”. Vũ Bằng nâng nỗi nhớ quê xưa thành tinh hoa nghệ thuật trong “Thương nhớ mười hai”…
          Quê hương, không chỉ là mẹ ta với “Đường xuống sông có mười sáu bậc/ Mẹ nhớ thương đã bạc mái đầu” (Hữu Thỉnh). Quê hương cũng không chỉ là cây đa, bến nước, sân đình, với đêm trăng vàng tát nước, với “Mấy trăm năm ước hẹn tình duyên/ Tiếng trống hội làng giục giã” (HC), với “Trưa nắng hè gọi nhau râm ran chè xanh” (NTT)…Quê hương còn là những cái nhỏ nhặt nhất mà thường ngày ta dễ bỏ qua để đến lúc xa rồi nó bỗng trở nên thiêng liêng, vỗ về an ủi người xa xứ. “Cỏ may” là trường hợp như thế!
          Bốn câu thơ đầu hay nhất toàn bài, thậm chí có thể tách riêng thành tác phẩm độc lập, mang tính khái quát cao. Những câu thơ còn lại, dù vẫn nhức nhối, tài hoa nhưng chỉ là sự diễn giải cảm xúc của những câu đầu mà thôi.
          Trở lại, tác giả gặp lại cỏ may trong một hoàn cảnh, một không gian đặc biệt: trên sân thượng nơi phố thị. Con người “như con tốt sang sông”. Còn cỏ may vốn “khâu áo làng quê” căn cớ chi cũng phiêu dạt tới tận chốn này? Nhớ lại, hồi nhỏ, tôi đã hơn một lần rùng mình với câu ca mà bà hàng xóm ru cháu (Đứa cháu bé bỏng có bố đi bộ đội, mẹ ở nhà chửa hoang, phải bế bụng về bên ngoại, không dám nhìn mặt xóm làng): “Gió đưa cây cải về trời/ Rau răm ở lại chịu lời đắng cay”(*). Tôi chỉ biết trời là trời, gió là gió, rau răm và rau cải thân quen nhưng linh cảm có cái gì đấy như là sự chia lìa, đau khổ, bất trắc và đắng cay trong hai câu lục bát. Thành thử, mãi tận tới giờ, lại vẫn cứ thảng thốt khi ai nói tới “gió thổi” với “trời cao”!
          Khác với từ “găm” rất mạnh ở câu thơ sau, từ “chạm vào” ý nhị, như vô tình, như sợ làm đau nhau. Thử hình dung đó là hai người bạn tri âm, cùng ở quê nhà ra đi, biền biệt và xa cách nghìn trùng sông núi, không mong gì ngày gặp lại, chỉ còn lại trong nhau, hay ít ra là với tác giả, vết thương “Trái tim rạn vỡ vẫn chưa vá lành” mà lại tình cờ gặp nhau y như trong mộng. Mừng rỡ, vui sướng biết chừng nào. Cỏ may đã được nhân hóa để: “Cỏ may không hẹn mà xanh/ Tìm ta khâu vá cho lành vết thương” Hành động “Ta cúi xuống chào” thể hiện cái tư cách, phẩm hạnh của người con xa quê, lang bạt kì hồ, những tưởng đã bị gió bụi, đời sống thị thành cuốn theo đi những gì chân thật, tốt đẹp nhất vốn là hành trang mang theo từ quê kiểng nhưng mãi còn lấp lánh trong hành động cúi chào này. Thủa trước cũng từng có người “Nhất sinh đê thủ bái mai hoa” (Cả đời ta chỉ cúi đầu bái lạy hoa mai”. Kiều nói với Thúy Vân: “Cậy em em có chịu lời/ Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”. Tất cả các động tác “cúi chào”, “cúi đầu bái lạy”,  “lạy rồi sẽ thưa” tưởng như một sự hạ mình hèn kém nhưng thực chất là nâng cao phẩm giá, trước hết của chủ thể trữ tình và ngay sau đó là đối tượng trữ tình.
          Nhân đây, đã có rất nhiều định nghĩa về khái niệm “nghệ sĩ”. Tôi cũng đã bày tỏ cách hiểu của mình với sinh viên khi họ học môn “Mĩ học đại cương”: Nghệ sĩ là người nhặt một cọng cỏ lên và làm cho nó trở thành bất tử./.
                                                                             PK 7.4.14
                                                                                C.A.Đ

(*) Câu này còn có một dị bản là: Rau răm ở lại chịu đời đắng cay