10 tháng 9, 2014

Hay hớm gì mà khoe ra




Bảo tàng Lịch sử Quốc gia ở Hà Nội vừa khai trương hôm 8/9 một triển lãm về cải cách ruộng đất, mang tên "Cải cách ruộng đất 1946-1957".

Cuộc triển lãm về một sự kiện lịch sử đã gây tranh cãi dữ dội trên các loại báo mạng.

Người Việt ta có câu thành ngữ Tốt khoe xấu che. Có lẽ trong mắt các nhà làm triển lãm thì cuộc CCRĐ là hoàn toàn tốt đẹp nên cần phải khoe ra. Trong lúc đây thực chất là một trang lịch sử mà nội dung của nó chiếm đến nửa sự đen tối bên cạnh mặt được là “ruộng đất về tay nông dân”, “người cày có ruộng”.

Mặt đen tối ấy có ngay trong lịch sử của gia đình tôi vào cái khi mà tôi mới sinh ra (1954).

Ba mạ tôi từng kể đi kể lại rất nhiều lần cho tôi nghe về những bi kịch của gia đình tôi vào cái thời đen tối đó:

Ông nội tôi là địa chủ. Nông dân cả làng tôi khi đó hầu hết đều sống bằng làm thuê cho nhà ông nội tôi. Ông bà sinh được hai người con trai là bác tôi (đã mất vì bom Mĩ năm 1966) và ba tôi. Cả hai đang đi học thì trốn nhà thoát li theo Việt Minh đánh Pháp và vào đảng từ những năm trước 1945 (Vì thế mà nay ba tôi là cán bộ lão thành cách mạng, gần 70 năm tuổi đảng). Năm 1950, bọn Pháp ở đồn Thọ Lộc bắt ông bà nội tôi lên đồn tra khảo, đánh đập, bắt phải đi gọi hai thằng con là Việt Minh về. Ông nội tôi bảo, nếu được tui nhờ các quan gọi 2 thằng nớ về dùm, vợ chồng tui cũng mong bắt chúng nó về lắm mà không biết chúng nó ở đâu. Thằng đồn trưởng người Tây căm tức lắm đã sai lính đánh ông nội tôi đến chết ở ngay cái đồn Thọ Lộc ấy. Cách đây 10 năm, Nhà nước đã truy tặng ông nội tôi là Liệt sĩ, trong nhà ba tôi hiện treo trang trọng tấm bằng Tổ quốc ghi công ông nội tôi.

Vậy mà năm 1955, khi CCRĐ xảy ra, dù ông nội tôi đã mất, trong nhà lại có hai người con đều là cán bộ đảng viên, nhà ông bà nội tôi vẫn bị đấu tố là địa chủ. Cả cánh đồng của ông bà nội phía trước làng rộng hàng chục mẫu bị CCRĐ tịch thu đem chia hết cho dân làng; toàn bộ mâm thau nồi đồng chén bát …và đồ nội thất trong nhà cũng bị tịch thu hết chia cho bần cố nông.

Tòa án nhân dân do đội cải cách lập nên đã cử những người cố nông vốn làm thuê cho nhà ông bà tôi đứng lên đấu tố ông bà tôi như những kẻ bóc lột tàn ác, có nợ máu với nhân dân…

Rồi ba tôi khi đó đang làm PCT ủy ban hành chánh huyện, bác tôi đang làm cán bộ công an huyện cũng bị bắt giam ở ga Thọ Lộc vì bị qui chụp vừa là con địa chủ vừa là tay sai của Quốc dân đảng… Đến nỗi ba tôi bị kết án tử hình. May nhờ có sửa sai của chính phủ nên đêm trước ngày ba tôi bị xử bắn thì có lệnh hỏa tốc từ Vinh vào hủy án tử hình (trước đó có không ít đồng chí của bác tôi và ba tôi, đều là những cán bộ đảng viên đi theo cách mạng từ hồi trứng nước đã bị xử bắn cũng vì cái tội đã bị qui chụp như bác tôi và ba tôi). Sau đó thì hai người được thả về rồi một năm sau thì  được phục chức như cũ; không lâu sau thì cả hai anh em cùng rời huyện chuyển vào cơ quan cấp tỉnh ở Đồng Hới.

Sau này khi đang học phổ thông, mỗi lần tôi từ Đồng Hới về thăm làng, nhiều nông dân trong làng vẫn kể những câu chuyện ân tình về những ngày họ còn đi làm thuê cho ông bà nội tôi. Họ kể rằng làm địa chủ mà như ông mệ thì có giàu nhưng cũng chẳng sướng sung gì. Địa chủ gì mà sáng tinh mơ, trời rét căm căm trong lúc tá điền đang ngủ thì đã vác cày đập bò ra ruộng cày sớm để tá điền theo đó mà cũng dậy đi cày bừa sớm. Ngày tết đến tá điền nào cũng có phần quà ăn tết, đến mức mỗi con trâu bò giao cho tá điền nuôi cũng được chia một đòn bánh tét ăn tết.v.v. Tôi không thấy ai nói gì xấu hoặc ác về ông bà nội tôi.

CCRĐ thế, triển lãm chỉ nói cái mặt sáng, còn cái mặt tối như tội ác thì lờ tịt đi. Một nửa cái bánh mì vẫn là bánh mì nhưng sự thật chỉ một nửa thì không còn là sự thật nữa. Đã nói thì phải nói cho hết ý để từ đó có thể xoa dịu nỗi đau của những số phận con người đã trở thành nạn nhân của CCRĐ và lớn hơn, từ đó rút ra những bài học xương máu để không phải lặp lại những bi kịch lịch sử trong lãnh đạo và xây dựng đất nước.

Vậy mà bày ra cái triển lãm nửa vời này làm gì để khoét thêm vào nỗi đau của dân ta.
Hình ảnh tại triển lãm (đã bị dẹp tiệm sau 4 ngày mở cửa):


                                              Áo gấm của địa chủ


                                    Áo đụp của bần cố nông


 Và hình ảnh giả dối nhất thế giới - Bữa cơm của người nông dân sau CCRĐ - một vở diễn tồi (Đũa nhựa, chén muỗng nhựa, nồi nấu cơm bằng nhôm trắng tinh như nấu bằng bếp gas ngày nay... với những diễn viên nông dân béo múp từ vợ chồng đến con cái).





7 tháng 9, 2014

Tâm trạng



Hôm qua thứ 7 nhưng tôi phải đi làm bù vì dịp lễ 2-9 đã nghỉ  liền một lèo 4 ngày. Hơn 4h chiều thấy trời nặng trĩu như sắp sập, mưa bắt đầu nặng hạt. Kiểu này là mưa to rồi đây. Liền dắt xe ra về. Đến nhà chưa kịp cởi áo mưa thì cái đt trong túi quần rung lên. Ngọc Nga SG gọi. Mày đang ở đâu? Tao vừa đi làm về tới nhà nè.  Chờ đó tao tới liền đi kiếm chỗ nào làm vài li. Rồi hắn cúp máy. Vậy nghĩa là hắn đã tới đầu Bà Quẹo rồi.
Trời đất này mà hắn lặn lội từ Bình Thạnh xuống nhà tôi đi nhậu hẳn là đang có tâm trạng.
Nói Ngọc Nga SG là vì hắn tên Ngọc, có vợ tên Nga, nhà trên Bình Thạnh. Tôi phải lưu tên hắn trong đt vậy là vì còn có một thằng bạn khác cũng tên Ngọc có vợ cũng tên Nga ở Vinh, gọi là Ngọc Nga ĐH Vinh cho khỏi lộn.  
Ngọc Nga SG làm ở báo Nông nghiêp VN, mới về hưu năm nay. Hắn cũng là SV ĐH Vinh đi lính cùng đợt cùng đại đội C20 với tôi. Do rất có máu làm giàu và biết cách làm giàu nên Ngọc rất giàu. Hiện Ngọc sở hữu một đồn điền cao su rộng 30ha trên Bình Phước. Mỗi ha cao su đang cho mủ của Ngọc năm ngoái có giá 900 triệu đồng. 30ha vị chi có 27 tỉ nếu bán đứt đi.  Nếu vào tay tôi bán hết rồi gửi tất cả vô ngân hàng, lấy tiền lãi đi chu du vòng quanh thế giới cho sướng. Nhưng với Ngọc thì không thế, 27 tỉ không phải là cái đích đến của nó để mà phải dừng lại. Tôi đã lên đồn điền cao su đó nhiều lần, chỉ để đổi gió và nướng cá sông Bé ăn nhậu.  Thời cao su được giá, hàng năm hắn thu tiền tỉ dễ như trở bàn tay.
10 phút thì đã thấy cái mazda 7 chỗ màu xám trắng của Ngọc dừng đầu hẻm. Tôi xách theo nửa chai rượu ngâm sâm Ngọc Linh, căng dù chạy ù ra. Sập cửa lại. Mày chạy tới  lẩu dê Minh Tuấn ở ngã tư Tân Sơn Nhì-Gò Dầu đi.
Cái xe đưa hai thằng tôi đi trong trận mưa lớn nhất Sài Gòn của năm nay. Mưa như có ai ở trên trời cầm phi nước mà dốc ngược xuống. Cái gạt nước không làm được việc gì. Đường Tân Sơn Nhì đã bắt đầu ngập…  


Chúng tôi ngồi trong quán. Chiều cuối tuần lại mưa to, quán vẫn đông nghịt khách. Quán này được cái ngon bổ rẻ nên hút khách cả chục năm nay. Tiếng mưa xối xuống mái tôn nghe ầm ầm như súng bắn. Hai thằng tôi phải gào lên nói chuyện với nhau. Đã mấy tháng nay tôi và hắn không gặp nhau.

Mấy bữa nay mày đi đâu không. Bữa hè tao mới đi ra Vinh rồi về Đồng Hới họp lớp cấp 3. Sao mày lại phải vòng ra Vinh. Thì tao ra Vinh chơi với cũng một thằng tên là Ngọc Nga, nhân thể ghé thăm anh Tế ở Trung tâm điều dưỡng thương binh nặng. Ngọc nói hồi ở C20 thì anh Tế là trung đội trưởng của hắn, còn tôi lại ở một tiểu đội trực thuộc khác. Rồi hắn bắt tôi kể cụ thể từ đầu chí cuối cho hắn nghe về anh Tế. Hắn nghe hết và xúc động mạnh.
Rồi tôi hỏi hắn về vụ cao su, hồi này bán được giá không. Bết lắm mày ơi. Tất cả cũng là do cái dàn khoan 891 của thằng Tàu mà ra cả. Giá cao su hiện chỉ bằng 1/3 năm ngoái thôi. Tao đang cố để cầm cự, chỉ trông cho không bị lỗ. Dân Bình Phước nhiều người đang chặt cao su trồng cây khác đấy.

Một góc cánh rừng cao su rộng 30ha của Nguyễn Quang Ngọc ở Bình Phước

Rồi nó tính: Trước vụ giàn khoan, mỗi tháng bán được 150 triệu tiền mủ trừ chi phí lương bổng cho công nhân hết 50 triệu, còn lãi 100tr. Vậy mà từ khi có vụ giàn khoan đến nay, tụi Tàu nó không nhập khẩu mủ cao su nữa nên giá hạ thê thảm. Cũng với lượng mủ ấy nay chỉ bán được 50 triệu/tháng. Vừa đủ chi phí các loại và trả lương cho công nhân, còn lại ông chủ Ngọc chỉ được đúng 0 đồng. Nó hỏi tôi: Mày nghĩ có đau không.

..(còn tiếp).............................



4 tháng 9, 2014

Hạch toán kinh tế



      Truyện vui của Chử Anh Đào
                            
                                         
                                      Dọn tí phân rơi, nhặt từng ngọn lá
                                      Mỗi hòn than, mẩu sắt, cân ngô
                                      Ta nâng niu gom góp dựng cơ đồ
                                                                   ( T.H)
          Còn nhớ cách đây gần hai chục năm, ông “nam tiến” lần thứ hai (mà có kẻ độc mồm độc miệng là “chiêu hồi”). Lần đầu là năm bảy sáu, ông là cán bộ tăng cường. Hết thời hạn, ông về quê. Nhưng đó là những năm mà “giáo viên là nông dân, có nghề tay trái là dạy học”. Đất chật người đông, lương chậm, có khi trả bằng phân bón…Chật vật cơ khổ lắm. Ông bàn với vợ con bán nhà, trở lại nơi mình từng công tác. Lại mua đất, lại làm nhà, lại dạy học. Môn ông dạy chẳng có ma nào học thêm thành ra không có đồng ra đồng vào. Được cái là bà vợ lam làm, tảo tần khuya sớm. Đất Tây Nguyên tốt bời bời như mấy mụ mắn đẻ, đi qua đầu giường đã chửa, cắm cây gì xuống lập tức vổng lên, đơm hoa kết trái. Tiền thu nhập từ rau lang, bầu bí, lợn gà ngan thỏ nhiều gấp đôi lương giảng viên của ông. Cuộc sống coi như là tạm ổn. Nhưng từ quê nghèo một tỉnh miền Trung cỗi cằn chỉ có bão lũ là đặc sản, “không ai gieo mọc trắng mặt người” thì những phương tiện tối thiểu của đời sống như bàn ủi, máy quạt, tivi, tủ lạnh, máy giặt, nồi cơm điện…là những thứ như thuộc về thế giới khác, quá xa xỉ với gia đình ông, thậm chí phát âm để gọi tên chúng còn chưa đặng.
          Nhưng bạn bè đã xúm lại giúp ông. Đơn giản là họ có điều kiện hơn một chút. Khoa học kĩ thuật tiến bộ vù vù. Họ “lên đời” và những đồ cũ, bán đồng nát cũng chẳng được mấy xu, họ bàn giao cho ông. Ai dám bảo đấy không phải là thiện ý, là lòng tốt? Hẳn thế rồi. Vậy là nhà ông cũng có quạt bàn, nồi cơm điện, ti vi Sam Sung đen trắng…Ấn tượng nhất là một thứ. Lần đó đến nhà ông, tôi chả cần dỏng tai cũng nghe cái gì ầm ầm dưới bếp. “Bác đang xát gạo hay xay bột?”- Tôi hỏi. Ông trợn mắt: “Xay xát gì ở đây” Rồi chống nạnh, hất hàm: “Tủ lạnh đấy. Ông Núi mới cho.” Núi là tên ông kĩ sư đang làm ở thủy điện YaLi. Ông cầm tay tôi lôi sềnh sệch xuống bếp để mục sở thị . Đấy là cái tủ lạnh đời Liên Xô mà ông bạn có dịp du học ki cóp rinh về. Nghe kể đời nó cũng truân chuyên lưu lạc lắm. Ki ep về Hà Nội, Hà Nội lên Điện Biên, Điện Biên vào Nha Trang rồi từ phố biển leo lên núi Plei Ku. Ở Plei Ku thì từ Cách mạng tháng Tám qua Lí Tự Trọng, Phan Đình Phùng ngược lên Lê Thánh Tôn…Trông nó kềnh càng, thô lậu như cỗ xe tăng gầm gừ, như chực chồm lên nghiền nát quân phát xít trong đại chiến thế giới thứ hai. Tôi quả quyết nếu những nút bấm xanh đỏ tím vàng kia là mắt và cái tay cầm là miệng thì nó sẽ gầm lên bởi ánh mắt không thân thiện của tôi: “Mày dám coi thường ông hả. Cái quân cả nền công nghiệp không làm nổi cái vỏ điện thoại mà còn tinh tướng.” Tôi bất giác cúi đầu tủi hổ và đi lên nhà trên.
          Hai tháng sau, y như Lão Hạc nói với Ông giáo trong truyện của Nam Cao, ông bảo tôi: “Tôi bán cái tủ lạnh rồi ông ạ. Bán cho người đồng hương đi kinh tế mới ở Đức Cơ.” Tôi thắc mắc: “Đồ kỉ niệm, sao ông nỡ bán?” Ông bảo: “Cho, người ta nhất quyết không nhận. Họ bảo: cái máy to thế,nặng thế, hiện đại thế, nếu bác không cầm tiền, nhà chúng em nhất quyết không dám khiêng về…Thì ông còn lạ gì mấy ông nông dân nhà ta. Thật thà tốt bụng thật đấy, sẵn lòng giúp nhau thật đấy nhưng cho ai vay mượn thì rất khó, mượn của ai cũng chẳng dễ gì.” Ông như nói một mình: “Mà “gả” nó đi cũng đúng thôi. Máy móc gì cái của nợ ấy. Càng về đêm càng kêu to(!) Tiền điện hàng tháng tăng gấp đôi. Lại cái tội đóng tuyết. Muốn lấy thứ gì trong đó ra phải lấy rựa gồng hết sức bình sinh mà cạy; nhỡ tuột tay là sứt đầu mẻ trán…
          Bây giờ thì mọi thứ trong nhà ông đầy đủ cả. Thiên hạ có gì ông cũng có cái đó. Riêng về món đồ gỗ thì có thể nói là vô địch, không có đối thủ.Ngoài sập gụ, tủ chè đóng theo lối cổ còn là những phản, những ngựa, tủ đứng tủ ngồi, ông thiên ông địa ông thần tài, các ông Tam đa Phúc Lộc Thọ, các con long li qui phượng, rồng cuộn hổ ngồi còn là những bộ độc bình làm bằng đủ loại gỗ quí với đủ kiểu dáng, kích cỡ. Khách phải nghiêng người lách qua trùng điệp những thứ ấy rồi mới đến chỗ ngồi. Dãy Trường Sơn đã bị đốt cháy, không hoàn toàn vì tự do độc lập mà vì những cánh rừng đã bị lâm tặc tàn phá, biến thành đủ thứ hình hài để hiện diện trong những ngôi nhà có chủ nhân khát khao đồ gỗ như ông.
          Thường mỗi buổi chiều, sau giờ làm việc là chúng tôi lại tụ tập ở Gốc Nhãn - một địa chỉ văn hóa để “cà phê chai”. Nhưng hôm nay, mới hơn ba giờ ông đã điện thoại nói chiều xuống nhà có việc gấp. Tôi hỏi việc gì? Ông lấp lửng: có khách Huế và Bắc Ninh. Ông thì bà con nội ngoại ở Nghệ, bạn bè ông thì tôi nhẵn cả? Ông nói thêm: “Đây là những nghệ nhân từng trùng tu Điện Thái Hòa và phục dựng rồng cung điện đời Lí.(Ý ông nói họ là những thợ mộc cao tay)
          Đúng hẹn, tôi tới nhà ông. Đúng cũng có hai người đang lui cui bên những máy khoan, cưa cưa đo đo đục đục kì cạch. Nhưng là hai chú lính bên kí túc xá vào vai thợ bất đắc dĩ. Ông giải thích: hôm kia nhà Hòa mua tủ mới Đài Loan mười hai triệu. Nó cho lại tôi cái tủ này. Bỏ thì tiếc. Tôi nhờ anh em mông má dùng lại.
          “Bỏ thì tiếc!” Đấy là suy nghĩ phổ biến của những người nghèo khó hoặc đã từng trải qua nghèo khó. Chẳng có gì đáng chê cười. Thì trong “Tình yêu cuộc sống”, J.Lơn đơn đã chẳng từng cho nhân vật sắp chết đói ở đảo hoang, khi được cứu lên tàu cả một tuần sau hắn vẫn lấy đồ ăn chất đầy dưới gầm giường đó sao? Tôi có ít nhất ba người quen thân cũng đã làm như vậy. Có việc phải đi đâu đấy, khi đi hai bàn tay trắng, khi về là nhễ nhại một bao tải từ túi nilon tới mẩu gỗ, cái đinh, vài sợi cao su, dăm ba miếng xốp… “Để làm gì?” “Sẽ có lúc cần đến chúng”- họ trả lời. Nghe mà thấy thương thương, tội tội.
          Cái tủ bằng gỗ dán hay bột mùn cưa nội địa, không biết chủ cũ dùng đã bao năm. Chỉ biết chỗ đặt các  các bản lề đã lở lói, mủn ra hoàn toàn. Rồi với những nẹp nhôm nẹp gỗ và hơn một kí đinh ba mà nó vẫn oặt ẹo, phải tạm chống bốn thanh gỗ bốn góc mà nó vẫn chực đổ. Theo cánh thợ thì phải mất một buổi chiều nữa (hắn nhấn mạnh cái “buổi chiều” ý nhị) thì công nghiệp mới hoàn thành. Nhưng giờ thì… nhậu đã.
          Mọi người nhẩm tính sơ sơ: vật liệu (gỗ dán, bản lề, bù loong ốc vít…) 600.000 đồng. Bia, mồi lần thứ nhất là chiều nay là 400.000 đồng…Ông con đố bố tìm được chỗ nào nữa để chiều mai kê tủ…Tất cả lặng đi một phút, bối rối, ngượng ngùng. Lão Bạch ngứa miệng, thông báo: “Cái tủ này, mới toanh, ở tiệm nội thất đường Hai Bà Trưng là một triệu năm trăm ngàn đồng chẵn. Ai mua, họ cho người chở đến tận nhà.”
                                                                   PK 4/9/14
                                                                       C.A.Đ