12 tháng 6, 2014

Môn sử, vì sao...?



                                                                            Chử Anh Đào

          Chất lượng dạy-học, thi cử ở các cấp trong những năm gần đây và số lượng thí sinh đăng kí dự thi môn Lịch sử ở kì thi tốt nghiệp THPT vừa qua đã gióng lên hồi chuông báo động về chất lượng đào tạo của ngành giáo dục nước ta hiện nay.
          Là một người trong ngành, lại phụ trách bộ môn mà từ xa xưa có cùng nguồn cội (Văn-Sử-Triết bất phân), người viết bài này không thể không có ý kiến. Tất nhiên không có tham vọng và cũng không thể trông đợi chỉ một bài viết nhỏ, phiến diện mà thay đổi được đại cục.
          Xin được bắt đầu với những kỉ niệm thời thơ ấu, dù đấy là truyền thuyết, dã sử hay chính sử, nhưng các bậc cha mẹ, ông bà, các thầy cô giáo đã gieo những hạt mầm đầu tiên vào tâm hồn thơ trẻ, non nớt về niềm tự hào về nòi giống Tiên- Rồng, về sức mạnh quật khởi chống giặc ngoại xâm và ý chí ngăn sông dời núi của tổ tiên ta…Những sự tích trăm trứng, Thánh Gióng, Sơn tinh- Thủy tinh đã góp những viên đá tảng đầu tiên cho nhân cách làm người sau này. Chúng là những dấu son trọn vẹn trong tâm hồn mãi cho đến khi con người ấy trở về với đất. Lớn lên chút nữa, ở bậc trung học cơ sở là những cọc gỗ nhọn trên sông Bạch Đằng Ngô Quyền đánh quân Nam Hán, Trần Hưng Đạo đánh quân Nguyên; là “Gươm mài đá, đá núi phải mòn/ Voi uống nước, nước sông phải cạn/ Đánh một trận sạch không kình ngạc/ Đánh hai trận tan tác chim muông” của “Bình Ngô đại cáo”, là Quang Trung Nguyễn Huệ cưỡi voi vào cửa Bắc, chiến bào sạm khói súng, chiến thắng mấy mươi vạn quân Thanh vào ngày mùng năm tết “Mùng năm ết trận thắng to/ Gió reo còn vẳng tiếng hò ba quân”… Đó còn là những con người bằng xương bằng thịt được bao phủ bằng lấp lánh hào quang huyền thoại. Bà Trưng cưỡi voi ra trận nhưng khi Mã Viện bắt quân lính cởi truồng để đánh nhau thì Hai Bà với nữ tính của giới mình đã xấu hổ mà vỡ thế trận.Nhưng hình ảnh “Hồng quần nhẹ bước chinh yên/ Đuổi ngay Tô Định dẹp yên biên thành” của Hai Bà còn phấp phới bay mãi trên đầu các đấng bậc nam nhi đại trượng phu. Bà Triệu khi cưỡi voi đánh giặc phải dắt vú vào cạp váy cho khỏi vướng. Người đan sọt làng Phù Ủng Phạm Ngũ Lão mải suy ngẫm về vận nước mà quân lính đâm giáo vào đùi, máu đầm đìa chảy mà không hay. Yết Kiêu – môn khách của Trần Hưng Đạo là vị thần Rái cá hóa thân giúp nhà Trần. Trần Bình Trọng thà “làm ma nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc”… Rồi đến chuyện kể Điện Biên Phủ với con đường ngầm trên đồi A1, lá cờ chuẩn đỏ thắm, những Phan Đình Giót, Bế Văn Đàn, Tô Vĩnh Diện… Tất cả, tất cả đều hiện lên rất sống động. Vì sao vậy? Là vì sự háo hức được hiểu biết về ông cha mình của người nghe, người học. Và quan trọng hơn, cách dẫn dắt câu chuyện, giọng kể của thầy, của các bậc trưởng lão cứ y như là người trong cuộc đã tham gia các cuộc chiến đấu lừng danh ấy. Người kể bằng cả cảm xúc chân thành và nồng cháy đã hóa thân vào nhân vật, sự kiện mà truyền đạt lại. Vì vậy sức hấp dẫn và sự thuyết phục được nhân lên tới cả hàng trăm lần so với (ví dụ) một giọng điệu dửng dưng ngoài cuộc, bất đắc dĩ phải nói; nói mà không tin điều mình đang nói.
          Như thế, điều có thể khẳng định vị trí đầu tiên ở đây là người thầy. Nếu là một thầy giáo giỏi giang về chuyên môn và tràn đầy lòng nhiệt huyết thì không phải chỉ là Văn, là Sử mà dạy bất cứ môn nào học sinh cũng đều kính trọng, hứng thú học tập. “Chỉ mong đến giờ của thầy” là tâm trạng chung của nhiều thế hệ học sinh dành cho thầy giáo yêu kính của mình. Thầy giỏi ắt có nhiều trò giỏi và ngược lại. Đó là chân lí phổ quát, không có ngoại lệ.

          Thứ đến, đành rằng tất cả các môn học, nhất là các môn khoa học xã hội đều không nằm ngoài chính trị và phục vụ chính trị. Nhưng mỗi môn khoa học lại có đặc trưng riêng của nó. Khoa học, khách quan, trung thực là một trong những đặc trưng của môn Lịch sử. Sử sách phong kiến đã đáp ứng yêu cầu này. Nhà vua cũng không có quyền can thiệp. Khí tiết viết sử của các nhà sử học thời Xuân Thu còn vằng vặc mãi đến ngày nay. Vua thông dâm với vợ quan đại thần Thôi Trữ, bị người chồng giết chết. Các sử quan dù người trước bị mất đầu nhưng người sau vẫn chép như thế (chứ không phải “đau tim”,  “đột quị” theo yêu cầu của triều đình). Ở một nước khác, có nghĩa trang chung cho những người đã ngã xuống khi tham gia nội chiến nồi da nấu thịt. Tất cả không một ai bị lãng quên vì họ cùng góp phần cho lịch sử đất nước sang trang mới. Họ còn làm một bộ phim hoành tráng về trận đại bại của họ trong thế chiến thứ 2 nhằm phản ánh trung thực lịch sử và rút ra bài học để những sai lầm không lặp lại. Lịch sử Việt Nam hiện đại thì lại khác. Có lẽ vì muốn động viên khích lệ nhằm đảm bảo cho thắng lợi cuối cùng mà sách giáo khoa và các phương tiện thông tin đại chúng đều một bài một giọng: thế giới chia làm hai phe, miền Bắc được mùa, miền Nam thắng lớn; quân ta thông minh, kiên cường, nhân đạo; quân giặc ngu dốt, hèn nhát, dã man…Thật là “Mất vệ sinh, bội thực tự hào” (Nguyễn Duy- Nhìn từ xa, Tổ quốc). Chưa kể, chưa học đã biết trước là ta nhất định thắng, địch nhất định thua thì còn học làm gì nữa. Nhàm chán, vô vị là kẻ thù của nhận thức, khám phá. Chưa kể đến một lúc nào đấy người ta nhận được thông tin tất cả không hoàn toàn như vậy. Người ta mới ngã ngửa người ra , có cảm giác như bị lừa, hoang mang không biết tin vào đâu nữa. Đến bây giờ, trong một thế giới phẳng, những phát ngôn kiểu “dân chủ gấp vạn lần”, “là hai anh em canh hòa bình cho thế giới” đã mang lại sự mỉa mai không mong muốn. Sử thi Ấn Độ Mahabharrata đã rất chí lí khi thông qua một câu chuyện cụ thể để rút ra kết luận là: Đức hạnh được giáo dục trong sự một chiều, bưng bít thì rất bấp bênh! Có cảm giác ở ta, môn sử đã không được tách riêng, độc lập mà bị gộp, bị chi phối trực tiếp với các môn khoa học xã hội khác thuộc kiến trúc thượng tầng. Đây là lí do thứ hai khiến ít có thầy giỏi và học sinh, sinh viên chán học môn sử. Đã chán học sử nhà, cộng với sự xâm lăng, tiếm ngôi của các phương tiện thông tin giải trí khác, người ta đâm ra thuộc sử Tàu, y phục, trang điểm theo Hàn quốc. Sự khủng hoảng của môn sử góp phần làm lung lay tận gốc rễ văn hóa truyền thống Viêt mà hành động một thanh niên hôn chỗ ngồi của “ngôi sao” Hàn quốc là một vết nhục tầm quốc thể khó rửa sạch. Định hướng tương lai cho cá nhân, cho cả dân tộc là một trong những nhiệm vụ của môn sử. Buồn thay, trên thực tế, nó đã không làm được.
          Chắc chắn còn những lí do, những phương cách khác như tâm lí thương mại, thực dụng của xã hội; chương trình, sách giáo khoa; phương pháp ra đề kiểm ta, đánh giá, phương pháp giảng dạy bộ môn…Nhưng những điều đó ngoài tầm hiểu biết của người viết bài này./.
                                                                    PK. 12.6.14
                                                                   C.A.Đ


10 tháng 6, 2014

Sài Gòn chán


Chiều muộn, chưa kịp dắt xe ra khỏi cổng trường thì có điện thoại. Là của một ông bạn đồng nghiệp cũ dạy với nhau thời ở QNU. Ông này chơi với tôi khá thân đã vài chục năm nay, chuyện gì cũng nói với nhau được mà không sợ bị lật kèo. Vậy mà cũng cả năm nay không gọi cho nhau cú nào dù vẫn rất nhớ nhau. Bạn bè thường vẫn thế. Vẫn thân, vẫn nhớ nhau nhưng có khi cả mấy năm, thậm chí cả chục năm không gặp, không liên lạc với nhau. Mà vẫn cứ là bạn bè. Còn hơn có đứa ngày nào cũng chạm mặt, ngày nào cũng mấy cú điện thoại tràng giang, meo chát công việc suốt ngày nhưng dửng dưng thì vẫn là người dưng.

Gọi cho tôi giờ này chắc lão đang có mặt ở Sài Gòn. Mừng quá liền hỏi ông đang ở Sài Gòn đấy à. Ừ, tớ đang ở ga Sài Gòn. Mới xuống tàu à. Không, sắp lên tàu về lại Diêu Trì. Sao vậy, vào lúc nào, không gặp tui đã rồi về. Không gặp được rồi, thông cảm nhé. Nghĩ bụng là lão này lại lên cơn hâm rồi. Ông kể lí do tui nghe nào.

Có gì đâu. Tui đi tour du hí Mã Lai với Singapore 5 ngày về. Bữa vô thì vội vội vàng vàng để lo vụ xuất ngoại. Bữa nay về thì vừa xuống Tân Sơn Nhất lúc nãy là đi thẳng luôn ra ga cho kịp tàu. Ngồi chờ tàu chạy nhớ ông mới gọi cho ông đây.

Sao không ở lại chơi đã mai hẵng về.

Ở lại gặp ông cũng muốn lắm nhưng sống thêm một ngày nữa ở Sài Gòn chán chết. Thôi tui về đây. Hè này ông ra Qui Nhơn chơi nhé.

Thằng cha đến lạ. Hắn rõ ràng là đang ở Sài Gòn thì bỏ chạy về Quy Nhơn như ma đuổi. Trong lúc lại rủ rê mình ra Quy Nhơn chơi. Đi mua đường à. Hắn ở thêm đây một ngày, thậm chí chỉ một đêm ở Sài Gòn rồi mai về thì có chết ai. Rõ là hâm.

Dù vậy tôi vẫn néo thêm. Ông nói Sài Gòn chán là chán cách sao. Thành phố cả chục triệu con người đang hăm hở sống chả lẽ họ ngu ráo trọi. Chỉ có ông là khôn thôi à.

Thôi. Tui xin ông. Tp gì ồn ào như ong vỡ tổ. Xe cộ chạy như ăn cướp. Phố phường chằng chịt như mắc cửi đứng ở đâu cũng mất hết phương hướng. Qua đường thót cả tim. Quán sá với khách sạn toàn máy chém. Xin cho tui hai chữ bình yên. Tui dzìa.  

Hắn đã tố đến nước đó thì biết làm sao được. Thôi, ông về đi cho khỏe. Có dịp gặp nhau sau.

Vậy là tôi đứng giữa sân trường mà bần thần.

Đây không phải lần đầu tiên có ông bạn đi đâu đó phải transit ở Sài Gòn rồi gọi tôi nói lời chào từ biệt.

Năm kia cũng có một ông từ Bình Định vô công tác. Sáng sớm tôi đang đứng trước cổng văn phòng 2 Bộ Giáo dục ở Hồ Con Rùa chờ xe rước đi dạy cả ngày ở BDU thì ổng ngồi sau xe ôm chạy từ Phạm Ngọc Thạch vòng qua thấy tôi, liền nhảy phắt xuống. Tay bắt mặt mừng, tôi hẹn hắn chiều 6 giờ tui sẽ từ Thủ Dầu Một về lại chỗ này, anh em mình kiếm chỗ nào hay hay ngồi lai rai nhé. Hắn ừ ừ gật gật rối rít nói giờ tui về khách sạn bên quận Nhất họp, chiều thế nào cũng gặp lại nhau. Rồi đường ai nấy đi. Vậy mà chiều đó, trong lúc tôi đang trên xe về lại Sài Gòn gần tới Hồ Con Rùa thì hắn điện thoại nói tui họp xong ra ga luôn rồi. Giờ đang chờ tàu đêm về lại Bình Định đây. 
Thế không chưng hửng mới lạ. Có đời thuở nào cất công nằm tàu hỏa cả đêm, vô Sài Gòn họp buổi sáng chiều ra luôn tàu về lại ngay. Không tiếc cái công đi lại à.


                                                            Hồ Con Rùa


Hầu như ai đến Sài Gòn dù với bất cứ lí do gì, cũng chỉ mong cho xong việc để về. Họ không muốn có thêm một ngày vô vị, mệt mỏi lại tốn kém ở Sài Gòn. 
Đã có hàng chục người bạn khác, kể cả anh em bà con, dù rất có cơ hội nhưng kiên quyết không ở thêm lại Sài Gòn để gặp gỡ bạn bè, bà con nếu không có việc gì thật cần thiết. Sài Gòn đối với họ chỉ là nơi đến cho một chuyến công tác, hay làm một việc gì đó, họp hành, hội thảo, thăm con cháu, khám chữa bệnh, đi tham quan miền Tây, miền Đông đâu đó tạt qua… xong là…về ngay. Dứt khoát không ở thêm một ngày, một buổi nào. Nói như dân miền Tây là về cho… khỏe.

Chỉ có người ở lại là lấy làm chưng hửng. Tại sao cái nơi mình sinh sống lại chán chường với mọi người thế nhỉ.  

Và tôi nghiệm ra rằng, với khách vãng lai, Sài Gòn là nơi rất chán, rất đáng chán.  

     

   

Mao vốn là...



  Chuyện vui ngôn ngữ
                    
                                             A.   Đa

Cũng như các thi sĩ thuở xưa, Mao có đủ tên khai sinh, tên chữ (tự) và hiệu. Tên khai sinh là Lò Thị Tôn Mao, tự là Thu Đạm, hiệu Tư Tốt nhưng mọi người thường gọi Mao là Bốn Lành. Mao ở nhà bốn lầu, đường Lò Đại Tôn gần Ngã ba sung sướng. Phố dốc như đèo đứng. Mao năm nay 28 tuổi, phong nhũ phì đồn (vú nở mông to), riêng vòng 2 thì là eo đứng. Gương mặt Mao nhàu nhàu, không ra trắng, chẳng ra đen, thành ra khó mà vận được câu trông mặt mà bắt hình dong của các cụ: “ Cái mặt nó đen thì cái lèn nó đôn; cái mặt nó trắng thì cái lằn nó trốn” Mao hình như già trước tuổi vì sương gió với đời. Mao ruột để ngoài da, theo đạo Dụ nhưng tu chưa đặng.Mao yêu thương tất cả mọi người và muôn loài, riêng chỉ có đêm ngày sôi sục thù kem- cái thứ mà khi mới ra lò thì cứng ngắc, rồi sau lại mềm nhũn như con chi chi. Trưa nay nắng cực, kèm theo những cơn gió đổi chiều bất trắc. (Người ta gọi là gió trái hay gió tai. Những nơi sông nước, gặp phải thứ gió này thuyền bè dễ bị lộn lèo lắm) Gió giật tung bổn lề cửa sổ trên tầng bốn. Mặc! Trời đầy gió bụi, có kính nhưng Mao không đeo.Mao rất nôn lòng, hăng hái ra khỏi nhà vì có anh Tú đợi đi ăn ở nhà hàng đặc sản Du Kệ. Anh Tú có chuỗi ngọc tì vết mà vẫn cố đeo ở cổ. Phải gió cái nhà anh này. Anh thì thích món thì là ăn với hột vịt lộn, mực xào ngò bằng cồn Lào được xếp ra đĩa giống hình con rồng lộn, uống rượu Giôn làng. Còn Mao lại chỉ thích chim cu xào cải gíá, nhím cheo, uống rượu nào cũng được, miễn là có màu nho… Sau tráng miệng bằng táo dai của người Mèo. Mao thực sự là vĩ đại phải không?

                                     

4 tháng 6, 2014

Nguyễn Du và "những điều trông thấy..."



                                                                           Chử Anh Đào

          Ở một trong những câu thơ mở đầu “Truyện Kiều”, Nguyễn Du viết: “Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”. Trong thơ chữ Hán, tác giả cũng đã thốt lên: “Không thể không rơi lệ vì những điều trông thấy”.
          Một trong “Những điều trông thấy” ấy của Ông là thái độ của nhà thơ với quần chúng lao động và với giai cấp phong kiến thống trị.
          Đối với những nạn nhân đau khổ nhất trong xã hội, với những kiếp người hèn yếu nhất, bị đày đọa nhất, những kiếp sống lao khổ nhất trong quần chúng, lòng xót thương của Nguyễn Du thật vô hạn, không chút ẩn ý nào. Trong xã hội cũ, bị khinh rẻ nhất là những người đàn bà bán thân nuôi miệng, những ca nhi, kí nữ “vô loài”. Khác hẳn với cách nghĩ của nhiều nhà Nho đương thời và cả một số học giả sau này nữa, giải thích những người buôn nguyệt bán hoa là do bản tính của họ, Nguyễn Du hiểu cảnh ngộ lỡ làng đã xô đẩy những người con gái xấu số sa chân vào nghề ô nhục mà đành bỏ phí hạnh phúc của tuổi thanh xuân. Nhà thơ thông cảm sâu sắc với nỗi bàng hoàng ngơ ngác của người gái giang hồ khi trở về già sống trong cảnh tồi tàn không nơi nương tựa, với những cái chết “vùi nông một nấm” không hương khói của họ và cái tiếng vô nhân của xã hội dành cho họ:
                   Nghiệp chướng phấn son lúc sống đã không rửa sạch
                   Sau khi chết chỉ để lại tiếng gió trăng
                                                (Điếu La Thành ca giả)

                         Người ca nữ đất La Thành (nay là Tp. Vinh)
          Tình thương mến của Nguyễn Du rộng mở đối với tất cả mọi hạng người bị chà đạp. Nhà thơ dành lòng ưu ái đặc biệt đối với quần chúng lao động. Vấn đề cơm ăn, vấn đề đói rét, vấn đề lao động vất vả luôn là những vấn đề trung tâm của quần chúng lao động. Trong “ Truyện Kiều” hầu như không có thì ở “Thơ chữ Hán” thành chủ đề lớn. Trong thơ chữ Hán, chỉ hai lần Nguyễn Du dùng từ “tương” (相 –cùng, với ) thì là để gắn kết nhà thơ với những người lao động vất vả. Đó là người đốn củi trong đêm giữa đồng quê:
-         Đêm trọ giữa đồng quê gặp bác tiều
Thương nhau không cứ ở chỗ giống nhau
                        (Phượng Hoàng lộ thượng tảo hành)
          Là người phu xe giữa trưa nắng lửa trên đường đi Hồ Nam:
-         Anh đẩy xe kia ở đâu ta nhỉ
Nhìn nhau thấy vất vả như nhau
                        (Hà Nam đạo trung khốc thử)
          Trong “Thái Bình mại ca giả”, Nguyễn Du kể lại chuyện một ông già mù đi hát rong để xin ăn. Hôm ấy nhà thơ đi thuyền. Có thuyền bên cạnh gọi ông già xuống hát. Từ bên này nhìn sang, nhà thơ chăm chú theo dõi từ chiếc áo mặc bằng thứ vải thô, từ cử chỉ cảm kích của ông lão khi được người nhận cho nghe hát đến cái vẻ mệt mỏi đuối sức của một người già phải vừa đàn vừa hát suốt một trống canh chưa nghỉ. Đàn hát mệt tới mức “miệng sùi bọt mép, tay mỏi rã rời”. Mệt nhọc như vậy, rốt cuộc chỉ được dăm sáu đồng tiền. Số tiền thù lao tuy thật bạc bẽo nhưng ông lão vẫn không ngớt lời cảm tạ.
          Dọc đường đi sứ, Nguyễn Du gặp một người mẹ dắt con đi ăn xin. Đứa bé được người mẹ ẵm trong lòng; đứa lớn xách giỏ tre. Nhà thơ nhìn vào bên trong chiếc giỏ: “Trong giỏ đựng những gì?/ Rau cỏ lẫn tấm cám”. Người đàn bà đi xin ăn từ sáng đến trưa mà vẫn không được gì. Nước mắt đầm đìa vạt áo. Nhưng đau xót hơn là cảnh mấy đứa trẻ còn thơ dại không hiểu được nỗi lo lắng đang vò xé lòng mẹ, cứ thản nhiên vui cười như không. Nhà thơ cảm thông sâu sắc tâm tình của người mẹ khi này:
                   Cảnh chết ngòi rãnh trông thấy trước rồi
                   Máu thịt nuôi sài lang
-         Mẹ chết không đáng tiếc
Vỗ về con mà càng đứt ruột
Lòng đau xót vô cùng
(Trông lên) Trời, mặt trời vàng úa
                             (Sở kiến hành)
          Ngòi bút hiện thực của Nguyễn Du thật xót xa khi ghi lại những cảnh sống cơ cực “dân ăn nửa tấm cám”; cảnh chết vạ vật đầu đường xó chợ, chết nơi ngòi rãnh, chết mà chỉ còn “một hạt táo lăn ra cạnh người”. Những cảnh này hẳn sẽ là những ấn tượng sâu sắc của nhà thơ để rồi Ông viết thành “Văn tế thập loại chúng sinh”- bức tranh khái quát về những cô hồn nhan nhản trên cõi dương của cuộc đời thực bấy giờ.
          Tất cả những buồn thương căm giận, những cảm nghĩ cổ kim dồn lại thành bài thơ kiệt tác “Phản chiêu hồn”. Bài thơ bộc lộ tập trung và cao nhất con người Nguyễn Du. Bài thơ là lời từ chối  cương quyết cái cõi người sống này. Theo thông lệ, ngày 5 tháng 5 tết Đoan Ngọ, người dân đem đồ cúng ra sông Mịch La nơi Khuất Nguyên trẫm mình để gọi hồn Ông về. Trái với lệ thường, Nguyễn Du bảo hồn đừng trở về cõi đời này nữa. Cõi đời không còn chỗ nào là chỗ có thể dung thân cho những người lương thiện, trong sạch. Sống lương thiện trong sạch đã là chuyện từ thời Tam Hoàng lâu lắm rồi. Còn bây giờ thì “đông tây nam bắc không có nơi nào nương tựa cả/ Lên trời xuống đất đều không được.” Lời từ chồi cương quyết đó là nhận thức khái quát về lịch sử xã hội: Lịch sử có áp bức là lịch sử ăn thịt người. Nguyễn Du nhận rõ cuộc đời sở dĩ ghê tởm vì thời nào cũng thế, có một bọn người giả nhân giả nghĩa mà độc ác vô cùng được phép ngự trị cuộc sống. Chính bọn này là nguyên nhân của tình cảnh “ dân hàng mấy trăm châu đều xơ xác gầy còm, không một ai béo tốt” Nguyễn Du đã phản ánh cái nhìn bi đát và phẫn uất với toàn bộ cuộc đời: “Đời sau ai ai cũng là Thượng Quan/ Mặt đất đâu đâu cũng là sông Mịch La/ Cá rồng không ăn, hùm sói cũng ăn/ Hồn ơi, hồn ơi/ Hồn làm thế nào?”
          Như thế, “những điều trông thấy” là những rung động của Nguyễn Du trước hiện thực. Nó sâu sắc và phản ánh rõ con người Nguyễn Du với những phẩm chất tâm hồn nghệ sĩ rõ ràng hơn nhiều, đầy đủ và phong phú hơn nhiều so với những lần nhà thơ trực tiếp hay gián tiếp thổ lộ tâm sự riêng, thổ lộ “tấc lòng” của mình. Chính ở đây Ông mới trở thành “nhà thơ” theo nghĩa chân chính của từ này.
                                                                   C.A.Đ

-