28 tháng 5, 2014

Quê hương nếu ai không nhớ...



Đã sinh ra làm người trên thế gian này, con người ta sẽ có rất nhiều sự lựa chọn, nhưng chắc chắn không ai có thể chọn được nơi mình sinh ra để làm quê hương. Dĩ nhiên ai chẳng muốn được sinh ra ở một xứ sở giàu đẹp văn minh để có thể tự hào khoe với mọi người khi có dịp nhắc đến hai tiếng quê hương. Nhưng không vì thế mà những con người chân chính lại có thể lấy làm xấu hổ khi phải sinh ra ở một vùng quê nghèo khó, lam lũ. Ngược lại, số đông con người ta thường tự hào và đặc biệt yêu thương về vùng quê của mình, nơi mình đã sinh ra. Và ta gọi đó là quê hương. 
Từ lâu tôi vẫn có một quan niệm không biết có cực đoan không là nếu có ai đó sinh ra mà chối bỏ quê hương của mình thì kẻ đó không đáng làm người. Nói như trong câu thơ của nhà thơ Đỗ Trung Quân: Quê hương nếu ai không nhớ; Sẽ không lớn nổi thành người.

Phải dài dòng một cách không cần thiết như trên bởi tôi đã biết, đã gặp một vài người mà trong câu chuyện, dù đã thành ca sĩ nổi danh ở Sài Gòn,  cảm thấy xấu hổ khi phải nhắc về nơi họ đã sinh ra; thậm chí họ đã không ngượng mồm khi chọn một thành phố cha vơ chú váo nào đó và gọi đó là quê hương của họ. Tương tự, tôi cũng đã gặp một vài kẻ, dù đã lên đến chức vụ trưởng, cảm thấy xấu hổ khi phải nhắc về ngôi trường đại học ở một tỉnh lẻ, nơi đã nuôi dạy họ lớn khôn trong suốt 4 năm trời. Để tránh mặc cảm, họ đã nhận vơ là mình tốt nghiệp đại học từ một ngôi trường lớn ở thủ đô. Những kẻ chối bỏ quê hương, chối bỏ cả ngôi trường mình đã học ấy, thật đáng thương thay. 

Tôi xem những người đó là khuyết tật bẩm sinh.

Những cảm nghĩ trên chợt đến khi tôi tình cờ đọc thấy trên một trang mạng từ châu Âu xa xôi một bài viết của Nguyễn Duy Xuân, người bạn học cùng lớp đại học với tôi ở khoa văn ĐHSP Vinh. Đọc xong và tôi nghĩ có lẽ trong những người yêu và tự hào về quê hương mình nhất trên thế gian này, có tên Nguyễn Duy Xuân.

Đó là bài viết của Nguyễn Duy Xuân dự thi "Xứ Nghệ quê mình" được đăng trên trang Nhịp cầu quê hương của website nguoixunghekiev.vn:

                    Trời nước sông Lam nhìn từ núi Quyết
  
Vài năm trước, trong một lần lang thang trên mạng kiếm tìm thông tin về quê hương xứ sở làm nguồn tư liệu cho trang web cá nhân, tôi gặp trang mạng Văn hóa Nghệ An. Nhấp chuột mở trang báo ra đọc qua một lượt, tôi thầm reo lên: 
  Quê hương đây sao ta không biết

  Cứ mải trong kí ức, kiếm tìm ?
Thế là từ đó, Văn hóa Nghệ An trở thành người bạn thân thiết hàng ngày của tôi.

*

Tôi là một người con xa xứ đã hơn ba mươi năm nay. Ngày tôi rời quê hương ra đi lập nghiệp khi vừa bước sang tuổi 22. Dù đã đến tuổi trưởng thành nhưng quê hương với tôi chỉ là những gì thật gần gụi theo đúng nghĩa của từ này. Nào tôi có biết gì hơn khi những năm tháng học phổ thông chỉ quanh quẩn ở trường làng; lên cấp 3 thì cũng không thoát ra khỏi chu vi của cái tam giác: Nam Lâm quê tôi – Rú Dồi nơi trường tôi học và Kim Liên quê Bác. Đến khi vào Đại học Vinh, suốt bốn năm học vẫn là anh sinh viên quê mùa, tầm nhìn chưa dài hơn đoạn đường 20 cây số từ trường đại học về nhà mỗi chiều thứ bảy.

Bởi thế, quê hương in đậm trong tôi là hình ảnh về một vùng quê bên dòng sông Lam nằm lọt thỏm giữa hai dãy núi, bên phải là dãy Đại Huệ, bên trái là dãy Thiên Nhẫn. Tuổi thơ của tôi đi qua những năm tháng chiến tranh nên những hình ảnh đó cũng gắn liền với tiếng bom rền, đạn rú. Quên sao được ngọn núi Tréc bên bờ sông Lam nơi có con đường chiến lược đi qua, sườn núi phía ấy chịu biết bao nhiêu là bom đạn quân thù; thằng Mỹ nào đi ném bom ở đâu về dư vài quả cũng ghé qua đó mà trút xuống, cho đến bây giờ hơn 40 năm sau vẫn chưa lành vết thương. Quên sao được những buổi bình minh hay chiều tà đứng cạnh gốc cây mưng bên bờ ao sau nhà nhìn lên phía thị trấn huyện, máy bay giặc Mỹ bổ nhào trút bom trong lưới lửa đạn pháo phòng không của bộ đội ta giăng đỏ một góc trời…

*

Bây giờ đã đi qua một nửa cuộc đời, bỏ lại đằng sau hết thảy những lo toan, tính toán, bỗng thấy lòng nhẹ nhõm. Nhưng nhẹ được gánh đời thì lại nặng gánh tình, là cái tình đối với quê hương xứ sở. Nó thiêng liêng, nó da diết làm sao. Cái tình ấy tưởng đã gửi lại miền kí ức bởi những năm tháng bộn bề lo toan, bỗng ùa về trong mỗi chiều hoàng hôn theo con gió se lạnh. Đó là qui luật tâm lí của đời người chăng ? Vâng, có lẽ thế. Nhiều lúc tôi cứ ngẩn ngơ nhớ về những năm tháng đã xa lắc xa lơ mà ngỡ như mới hôm qua. Tôi lục trong kí ức, tìm qua sách vở, và cả ngoài cuộc đời. Đôi khi thèm lắm một chút giọng quê hương, một món ăn xứ sở. Nhưng mong ước không phải lúc nào cũng được toại nguyện.

Mỗi lần về thăm quê ngắn ngủi, và có lẽ theo tuổi tác rồi nó sẽ thưa dần. Lại ra đi, lại biền biệt. Chỉ còn mỗi cách, về với quê hương trong thế giới ảo của internet, ảo mà lại rất thực. Và Văn hóa Nghệ An đã giúp tôi thỏa mãn được khát khao ấy của mình.

Tôi không nhớ rõ thời gian mình gặp tờ báo trên mạng cụ thể là lúc nào, ý chừng cách nay cũng vài năm rồi, lí do như tôi đã nói ở trên. Tờ báo có hình thức trình bày đẹp, màu sắc hài hòa bắt mắt. Nhưng điều quan trọng hơn, nó đã chuyển tải đến bạn đọc những thông tin bổ ích, những hiểu biết về văn hóa xứ sở. Các thông tin đó lại được các nhà nghiên cứu văn hóa, văn học có uy tín viết ra nên sức hấp dẫn của tờ báo có thể nói là rất lớn. Tôi tâm đắc với nhận xét của anh Hà Tùng Sơn, bạn tôi và cũng là một độc giả, trên blog của mình: “Văn hóa Nghệ An với nội dung vô cùng phong phú và bài vở rất có chất lượng lại mang tính học thuật cao…Tôi đã tìm thấy trong đó những bài viết về những bậc thầy của thầy tôi, không ít tác giả các bài viết cũng là bậc thầy của tôi. Cái phông văn hóa của nó thật cao.

Tôi yêu tờ báo, nói thế có vẻ như khách sáo nhưng đó là thực lòng. Gần đây, tờ báo thay đổi măng sét và định dạng, tự nhiên tôi thấy hẫng mất một thời gian, có lẽ bởi đã quá quen với hình ảnh của nó lâu nay. Thế mới biết, cái gì đã ăn sâu vào tâm thức thì đâu dễ đổi thay.

Vì lòng yêu tờ báo mà tôi mạnh dạn viết bài gửi Ban Biên tập. Tự xác định mình chỉ là một nhà giáo nơi vùng sâu vùng xa nhưng vì nặng lòng với cuộc sống nên chỉ có thể viết những gì mắt thấy tai nghe ở đời. Còn những vấn đề mang tính học thuật thì, xin được làm học trò của các bậc thầy mà tên tuổi đã rạng rỡ và in đậm trên trang báo. Tôi vui biết bao khi bài viết đầu tiên của mình có tựa đề Chị Nông Dân, Tôi và Chúng Ta, xuất hiện trên Văn hóa Nghệ An ngày 3-8-2012 (Thật trùng hợp, tôi viết những dòng này lại đúng một năm bài báo được đăng). Thế là đứa con xa đã góp thêm được tiếng nói nhỏ trên trang báo quê nhà.

Văn hóa Nghệ An từ đó trở thành bạn tâm giao, thành nhịp cầu nối để những người con xa xứ như tôi có điều kiện gắn kết với quê hương. Tôi hi vọng, một ngày nào đó, tờ báo sẽ dành cho người xứ Nghệ xa quê một góc nho nhỏ để tâm tình, để chia sẻ những thành công mà họ đã có được trong cuộc sống nơi đất khách quê người. Để ân tình xứ Nghệ mãi mãi không phai trong tim mình và lan tỏa khắp mọi miền đất nước.

Buôn Ma Thuột ngày 3-8-2013
Nguyễn Duy Xuân






26 tháng 5, 2014

Thái độ của Nguyễn Du với phong kiến Trung Hoa



                                                                          Ths. Chử Anh Đào

          “Bắc hành tạp lục” là tập thơ chữ Hán của Nguyễn Du khi đi sứ nhà Thanh năm 1812- 1813.
          Có thể coi việc đi sứ là một dịp đi thực tế của Nguyễn Du. Trên hành trình thiên lí này, tầm mắt nghệ sĩ của Ông sẽ rộng mở thêm. Nguyễn Du sẽ có dịp phát biểu được nhiều điều mà ở trong nước không tiện nói, không thể nói. Tâm sự riêng của nhà thơ vẫn rải rác suốt “Bắc hành tạp lục” nhưng nó không phải là nộ dung chính như trong “Thanh Hiên thi tập” và “Nam trung tạp ngâm” với đầy rẫy ẩn dụ ở quê nhà.
          Trên đường đi sứ có rất nhiều thực tế. Gạt bỏ mọi thông lệ thù tạc, tống tiễn và công việc hẳn là bộn bề của đoàn sứ bộ, gạt bỏ những cái lạ nơi xứ người có thể làm thỏa mãn tính hiếu kì của người mới biết lần đầu, Nguyễn Du chú ý tới một thực tế khác. Sự chú ý này của nhà thơ hẳn sẽ làm không ít người thời bấy giờ ngạc nhiên. Nhưng đấy chính lại là phần tâm hồn rưng rưng nhất của Nguyễn, nó làm nên giá trị của “Bắc hành tạp lục.”
          Cùng với sự bày tỏ lòng ngưỡng mộ, ngợi ca với những danh nhân văn hóa, anh hùng dân tộc như Khuất Nguyên, Đỗ Phủ, Lí Bạch, Văn Thiên Tường, Nhạc Phi, Dự Nhượng… những “người hiếu tu sống cách đây hai nghìn năm/ Mà nay đất này còn thơm mùi hoa lan, hoa chỉ” (Tương Đàm điếu Tam lư đại phu I),cùng với lòng cảm thương vô hạn với những kiếp người lầm than, đói rét là thái độ dứt khoát của nhà thơ với các triều đại phong kiến Trung Hoa và những đứa con của nó.
          Thói thường, đến nhà người ta thì điều kị nhất là làm mất lòng gia chủ.. Nhưng ngay khi tới cái “cửa” của hai nước- cái cửa mà nhiều thế hệ những tên xâm lược phương Bắc truyền nhau run sợ “thập nhân khứ, nhất nhân hoàn” (mười người đi, một người trở về) Nguyễn Du đã mỉa mai Mã Viện:
                   - Từ xưa gió lạnh thổi xương trắng
                   Kì công của tướng quân nhà Hán có gì đáng khen?
                                                          (Quỉ môn quan)
          Cột đồng và lời nguyền ngu xuẩn của viên tướng nhà Hán này (đồng trụ chiết, Giao chỉ diệt) “chỉ lừa được đàn bà con gái đất Việt”. Những của cải cướp được bằng tội ác của hắn rốt cuộc “chỉ để lụy cho con cái trong nhà.”
          Qua nhan nhản những đền, những miếu, những bia, những tượng, những đài của cái dân tộc thích sùng bái cực đoan, Nguyễn Du đã có cái nhìn độc đáo, bất ngờ, khác với thông lệ ngâm vịnh, hoài cổ thường thấy. Qua Hứa Đô cũ- bằng chứng của sự tiếm đoạt, phản trắc, Nguyễn Du hỏi Tào Tháo:
                   - Từ xưa lập quốc phải lấy đạo chính
                   Sao lại khinh nhờn gái góa, lừa dối trẻ mồ côi?
                                                                   (Cựu Hứa Đô)
          Qua Đài Đồng Tước, nhà thơ lại hỏi hắn:
                   - Khổ tâm dặn dò chuyện chia hương bán dép
                   Bậc trượng phu lỗi lạc sao lại làm như thế?
                                                                   (Đồng Tước đài)
          Những câu hỏi chính là những lời buộc tội!
          Nguyễn Du vẫn không buông tha mà truy kích đến cùng viên tướng đa nghi, gian hùng này. Ông giết hắn lần thứ hai:
                   - Tiếng thối đầy săng, giấu kĩ mà làm gì
                   Nắm xương một tên giặc ngàn đời chửi mắng cũng không biết.
                                                                   (Thất thập nhị nghi trủng)
          Đối với vợ chồng tên gian thần phản bội Tần Cối, Nguyễn Du đã làm tới bốn bài để đả chúng.Nếu như trái tim tên chồng chứa đầy nọc độc (Nhất thế tử tâm hoài hại độc) thì cái lưỡi ba tấc của mụ vợ cũng ghê gớm không kém. Thị là hạng “gà mái gáy sớm”. Chốn buồng the không phải là để ân ái vợ chồng mà là nơi hai tâm địa độc ác này mưu toan trù tính những việc phản dân hại nước. Mọi cái đều sợ thời gian nhưng ở đây thời gian phải sợ cái xấu xa của chúng: “Nghìn năm hình hài thị làm nhục nữ giới”

                            Đại thi hào Nguyễn Du

          Ở thời nào cũng thế, đáng khinh nhất là bọn cơ hội, xu thời, hãnh tiến. Chúng không từ một dã tâm nào, một thủ đoạn nào để mưu bằng được lợi cho bản thân. Nguyễn Du hẳn biết rõ hạng người này. Qua đình Tô Tần, Ông có dịp lên tiếng:
                   - “Trước sao khinh bỉ, nay sao kính trọng”- Câu nói thật bỉ ổi
          Mưu Hợp tung không phải để đánh lui quân Tần tàn bạo
                   Mà để được phú quí rồi lên mặt với người thân
                   Đâm dùi vào vế chỉ để mưu danh lợi
                   Ôi khí cục người ấy sao mà nhỏ nhen thế.
                                                          (Tô Tần đình II)
          Với các đấng “Con trời”, ngòi bút của Nguyễn Du chưa bao giờ mạnh dạn tới mức dũng cảm như ở đây. Những đấng bậc này chẳng phải tài cao đức dày gì mà trái lại, rất tầm thường, rất ngu dốt. Nhà thơ đã chỉ thẳng:
                   - Tấm lòng trung khác thường phá được cái ngu của người hỏi chuyện ễnh ương (chỉ Tấn Huệ đế)
                                                          (Kê thị Trung từ)
                   - Thuyết Hợp tung- Liên hoành( của Tô Tần) chỉ lừa bịp được bọn vua chúa tầm thường.
                                                          (Tô Tần đình I)
          Khác với nhiều sử gia phong kiến Trung Quốc, cũng như Nguyễn Trãi, Nguyên Du biết rất rõ tội ác của tên bạo chúa Minh Thành tổ (1403- 1434):
                   - Cướp ngôi của cháu, hắn không phải là bậc nhân quân
                   Khi cơn giận nổi lên, hắn giết mười họ người ta
                   Đánh trượng và nấu vạc dầu người trung thần
                   Chỉ trong năm năm hắn giết hơn trăm vạn nhân mạng
                   Xương trắng chất thành núi, máu thấm đỏ đất.
                                                          (Kì lân mộ)
          Nguyễn Du khái quát lịch sử kế tiếp các triều đại của các “Con trời” Trung Quốc là lịch sử của kẻ cướp, lịch sử của tranh giành chém giết, lịch sử “ăn thịt người” như nhận xét của Lỗ Tấn sau này:
                   - Nhà Ngụy cướp ngôi nhà Hán, nhà Tấn lại cướp ngôi nhà Ngụy
                   Trước sau đều theo một kiểu ấy
                                                          (Cựu Hứa Đô)
          Ngôi báu đối với chúng không phải là nơi “thế thiên hành đạo” mà chỉ là miếng mồi để thỏa sức cướp bóc, trụy lạc. Bọn này một mặt xâu xé tranh giành nhau, mặt khác lại tùy thuộc vào địa vị và quyền lực của mình để ăn cướp của nhân dân lao động: “Họ xơi hầu hết đàn gia súc không sót một con”. Và, mỉa mai thay, khi đất nước có nguy biến trước họa ngoại xâm thì cả triều đình ấy chỉ biết “ ngây như phỗng đứng” (Dương Phi cố lí) Phải nói rằng Nguyễn Du nếu không căm ghét những đứa gian ác trong cuộc đời thực bấy giờ thì không thể có giọng mỉa mai về những chuyện nước người từ mấy trăm năm trước. Thái độ của Nguyễn Du với chúng không phải là thái độ đạo lí sách vở. Nguyễn Du căm ghét nhiều và mạnh mẽ chính vì nhà thơ yêu thương sâu sắc những con người trong cuộc đời thực.
          Trong tình hình đất nước như thế, không thể có được một nhân dân no ấm, thái bình. Nguyễn Du ghi lại hình ảnh một nhân dân Trung Quốc đói khát cơ hàn: “Mấy trăm hộ chết đói và xiêu tán”, “Mấy trăm châu ở Hồ Nam chỉ có những người gầy gò, không ai béo tốt”..Những người ăn mày, những người hát rong, những xác người chết nơi ngòi rãnh mà thi thể đáng thương của họ làm mồi nuôi sài lang. Đi ngược lại ông thầy đạo đức của mình, Nguyễn Du thông cảm với những kiếp người lưu lạc, cơ khổ. Về mặt tình cảm, chủ yếu nhà thơ đã đồng tình với khởi nghĩa nông dân. Nhà thơ đã gián tiếp phủ nhận đất nước Trung Hoa của những tên bạo chúa bằng biện pháp nghệ thuật đối lập và những câu hỏi tu từ:
                   - Ai cũng bảo Trung Hoa đường bằng phẳng
                   Nào ngờ Trung Hoa đường như thế này
                   Sâu thẳm quanh co như lòng người
                                                          (Ninh Minh giang chu hành)
                   - Thường nghe nói Trung Hoa ai cũng no ấm
                   (Không ngờ) Trung Hoa cũng có người như thế này (hát rong)
                                                          (Thái Bình mại ca giả)
                   - Ai cũng nói nước Trung Hoa trọng tiết nghĩa
                   Sao ở đây hương khói vắng tanh thế này?
                                                          (Quế Lâm cù các bộ)
          Đó là đất nước của nhân dân đói khổ, lầm than; của lòng người quanh co, nham hiểm, bạc bẽo và phản trắc. Cái nhìn và thái độ của Nguyễn Du với lịch sử phong kiến Trung Hoa và hiện thực bấy giờ về căn bản là thái độ của quần chúng nhân dân lao động.
          Không ngờ những khái quát của Nguyễn Du về phong kiến Trung Hoa đến nay còn nguyên tính thời sự như thế!
                                                                   PK.26.5.14
                                                                         C.A.Đ


          CT: Tất cả các câu thơ trong bài viết được dẫn theo “Thơ chữ Hán- Nguyễn Du”-  NXB Văn học- Hà Nội 1965.
                  

23 tháng 5, 2014

Câu nói hay nhất của năm




Dù từ nay đến hết năm 2014 còn hơn nửa năm nữa nhưng tôi xin được bầu chọn và khẳng định câu nói của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khi ông trả lời phỏng vấn của hãng Reuters ở Manila:                                                                                                                                            “Chúng tôi luôn mong muốn có hòa bình, hữu nghị nhưng phải trên cơ sở bảo đảm độc lập, tự chủ, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, vùng biển, và nhất định không chấp nhận đánh đổi điều thiêng liêng này để nhận lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viển vông, lệ thuộc nào đó”.
là câu nói hay nhất của năm.
Trong lúc không ít kẻ mũ cao áo dài, kể cả ông đại tướng BTQP nói năng ấp a ấp úng như ngậm hột thị về vụ cái giàn khoan của bọn Trung Quốc xâm lược thì chỉ với một câu nói trên đã khiến Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tỏa sáng như một người hùng, làm nức lòng đồng bào cả nước và bè bạn quốc tế. 
Với câu nói trên, ông Thủ tướng của ta đã cùng với Nhân dân ném vào sọt rác cái gọi là 16 chữ vàng và 4 tốt vớ vẩn để ngửng cao đầu mà chống quân xâm lược.
Nói cho đúng ra, kể từ khi có vụ giàn khoan, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng với những phát biểu xứng tầm nguyên thủ, đã trở thành một nhà lãnh đạo yêu nước, được nhân dân ngưỡng mộ. Phải đợi đến lúc đất nước lâm nguy, ông mới thể hiện rõ khí phách đáng kính nể của một anh Hai Nam Bộ với khẩu khí ngang tàng, bất khuất, biết hành động vì nghĩa hiệp. Ông khác hẳn với đám gọi là sĩ phu BK hèn hạ. 



          Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng gặp Tổng thống Philippines Aquino