15 tháng 3, 2014

Thanh, bạn tôi



                                                      Chử Anh Đào

          Thoắt một cái, đã ba mươi chín năm chúng tôi xa nhau.
          Tôi với Thanh là bà con trong họ. Ở quê tôi họ Chử có ba nhánh: Chử Lương, Chử Văn và Chử Đức. Ông tổ họ tôi là một trong “Tứ bất tử” của tín ngưỡng người Việt. Ngài còn rất nhiều hậu duệ ven sông Hồng, từ Gia Lâm- Hà Nội rồi xuôi về mạn Hưng Yên, Thái Bình…
          Nhưng chúng tôi thân với nhau không phải vì ý thức dòng họ mà vì học cùng lớp, lại cùng yêu thích môn Văn, cùng thích bóng bàn, bóng đá và vẽ vời nhăng nhít. Một phần tuổi thơ chúng tôi là ruộng đồng bờ bãi; là căn phòng u u minh minh đầy sách của chú Thu; là những lần đi ôn và thi học sinh giỏi cấp Tỉnh…Còn nhớ hồi lớp bảy, Ty giáo dục tổ chức thi ở Chu Hóa, cách nhà chúng tôi mười lăm cây số. Thầy Khả hiệu trưởng quê gốc Thái Bình có một cái xe đạp Thống Nhất. Thầy trò dậy từ bốn giờ sáng. Thầy đèo lần lượt ba đứa (có thêm cái Hảo) từng quãng một để cho kịp giờ thi. Tổng cộng lượt đi thôi, thầy đã đạp xe hơn sáu mươi cây số! Một công trạng mà các giải thưởng danh giá không thể nào so sánh được.
          Tôi học trước tuổi, phải khai tăng lên nhưng vẫn thua bạn bè vài ba năm. Lên cấp ba, bọn thằng Chỉnh, Hồng, Minh, Việt, Thanh…lớn vồng lên ra dáng trai cày trong khi tôi đì đẹt ba mươi tư kí, học thể dục xà kép phải có người đỡ lên. Cuối năm 1972, đầu 1973 trường cấp ba Long- Châu- Sa chúng tôi cạnh nhà máy supe phốt phát Lâm Thao, cạnh hai trận địa pháo cao xạ phải sơ tán về Thụy Vân. Vừa đào giao thông hào trú ẩn, Thanh vừa nới: “Tớ đào cái hầm này nhưng chưa chắc đã được ngồi.” Tôi ngạc nhiên: “Hiệp định Pa ri kí rồi mà.” Thanh bảo: “Ông còn ngây thơ lắm”
          Làm xong tờ báo tường cho lớp nhân ngày thành lập Đoàn mà Thanh có bài thơ Noi gương, tôi còn nhớ hai câu: “Từ biệt quê hương chúng tôi lên đường/ Mang khí phách anh hùng Lê Mã Lương” thì Thanh nhập ngũ. Ấy là những ngày trong tiết xuân phân. Trời đang ấm áp bỗng ngoa ngoắt  một cơn lạnh trái mùa. Mẹ Thanh bị suyễn, ho mòn đêm. Bố Thanh ngồi như tượng ở phản giữa tiếp khách. Thanh nắm tay tôi: “Đ. ở lại nhớ học cho giỏi. Sau chiến tranh, nếu còn sống trở về, chúng mình sẽ thành nhà văn.”
          Trên đường vào Nam, Thanh viết thư cho tôi: “Vất vả lắm Đ. ạ. Chưa thấy giặc đâu mà đã có nhiều người ngã xuống vì sốt rét, thằng Hằng dưới Hợp Hải trước khi nhắm mắt gào lên hai tiếng “Mẹ ơi”. Cả rừng chiều chết lặng.
          Đơn vị Thanh cắm chốt ở Thanh An, Chư Prong. Những người sống sót trở về sau chiến tranh kể lại: Đêm trước hôm đánh đồn, như một điềm báo, Thanh đem tư trang vô tư chia hết cho mọi người với niềm tin đây sẽ là trận đánh cuối cùng của cả dân tộc. Ngày mai sẽ là ngày toàn thắng!
          Trận đánh kết thúc lúc 5 giờ sáng. Đối phương bất ngờ. Quân ta toàn thắng. Thanh làm nhiệm vụ cuối cùng là thu dọn chiến trường. Thanh nhảy xuống căn hầm ngổn ngang bao cát. Trong đó có một kẻ bị thương. Thấy nhau, cả hai đều há hốc miệng. Đáng lẽ phải bóp cò thì Thanh lưỡng lự mấy giây. Lưỡng lự vì Thanh là chàng trai trẻ, lại vụng về, lại đa sầu đa cảm. Đối phương đã nhanh tay hơn. Thanh lãnh trọn một quả lựu đạn mỏ vịt. Thanh ngã xuống khi chưa đầy một tuổi quân, khi còn hai mươi tư ngày nữa thì tròn mười chín tuổi.
          Ba năm sau ngày Thanh nằm xuống, tôi vào Gia Lai nhận công tác. Tôi rất hay mơ ngủ gặp Thanh. Lúc thì mẹ cho tiền mua quả bóng da mười ba đồng, lúc thì hai đứa cùng có hai cây bút Hồng Hà mới. Có lần mơ vào Diệp Kính xem phim. Tôi bảo: Thanh ngồi cao lên chứ, mới nhìn rõ màn ảnh. Thanh bảo: nhưng mà tớ đã chết rồi. Chết thì làm sao mà lớn được…Tôi đến Sở LĐ- TBXH hỏi thăm. (Hồi ấy chưa có các nhà ngoại cảm tràn ngập lãnh thổ như bây giờ) Người cán bộ cựu binh nhiệt tình tra cứu rồi chỉ đường: “Nghĩa trang Thanh An- C.L.T- lô 2 hàng 9, mộ thứ 72”
          Giờ Thanh đã yên nghỉ nơi quê nhà. Nghĩa trang liệt sĩ quê tôi nằm cạnh hai cây đa cổ thụ, bên đồng lúa thẳng cánh cò bay. Hương lúa, hương hoa sen năm tháng rì rào hát ru những linh hồn bất tử. Dân tộc tượng hình trong máu xương của muôn ngàn liệt sĩ không tên tuổi như Thanh, bạn tôi.
                                                                                      A.Đ


13 tháng 3, 2014

Bỗng dưng đọc thơ



Tháng 3 này đối với tôi hình như là tháng của bạn bè cũ hồi K12. Tuần trước anh Mậu Đàn mới từ Long Hải lên chơi, đầu tuần này thì Ngân Nghi Lộc từ Đà Lạt xuống Sài Gòn nuôi cháu rồi gọi, tối qua thì Lê Văn Ngọ cũng là bạn học lớp 12A từ Vinh vô. Ngọ hiện đang là GĐ Sở GD & Đào tạo Nghệ An, mỗi lần vô SG dù ngồi xa hay gần, sớm hay muộn cũng đều ới tôi đến. Tối qua chúng tôi ngồi với nhau tại quán Việt phố trên Lê Quý Đôn đến 10 giờ đêm mới chia tay. Sáng nay xong công việc Ngọ ghé lại trường tôi rồi tôi khép cửa phòng làm việc đưa Ngọ cùng đến nhà Đào Thủy chơi. 
Nghĩ cũng vui, mới cuối tuần trước anh Mậu Đàn đưa tôi đến nhà Đào Thủy thì lần này tôi lại làm người dẫn đường đưa Ngọ đến nhà Đào Thủy.  Thời gian của Ngọ  rất vội, chỉ chưa đầy 2 tiếng bởi 11h hắn đã phải có mặt ở sân bay để về lại Vinh rồi. 

 Phút ngẫu hứng của Lê Văn Ngọ tại đình làng Lăng Thành, Yên Thành, Nghệ An dịp họp mặt bạn bè lớp 12A hồi tháng 8 - 2013

 Vậy là cả 3 tên bạn học cùng lớp 12A lại ngồi quanh bàn ăn trong bếp nhà Đào Thủy, uống nốt chai vang đỏ Argentina hôm trước tôi và anh Mậu Đàn uống chưa hết. Thủy còn tranh thủ vừa tám chuyện tào lao vừa nấu cho tôi với Ngọ mỗi tên một tô phở bò để ăn thay cho bữa trưa luôn.
Nhắc lại kỉ niệm hồi tháng 9 năm 72 tôi cùng 12 bạn nam trong lớp chia tay Thủy và Ngọ lên đường ra trận, Đào Thủy nói ngày đó Sơn và các bạn đi rồi, bọn mình ở lại học thấy trống trải vô cùng, lớp học rộng hẳn ra, những chỗ ngồi của các bạn cứ như là vẫn còn để trống.
Nghe Đào Thủy nói vậy tôi lìền chợt nhớ đến một bài thơ mà đối với tôi là rất hay vì rất hợp với tôi, một bài thơ mà tôi chỉ đọc có vài lần là thuộc luôn từ hồi năm 71 đó đến giờ.
Vậy là trong lúc Ngọ nhấm nháp li rượu vang, trong lúc Đào Thủy đang hí hoáy nấu phở, tôi đọc ngay một khổ thơ theo  ý câu chuyện đầy kỉ niệm mà Thủy vừa kể lại:


…Nó đi để lại cái chỗ ngồi

Giờ  ra chơi bạn bè ghé qua một chút

Thầy giáo khi giảng bài nhìn vào chỗ đó

Thấy trang giáo án mình ý nghĩa lớn lao hơn…


 Đào Thủy nghe tôi đọc liền hỏi, thơ nào vậy. Thơ của Bùi Công Minh đấy. Rồi tôi đọc tiếp cho hết bài thơ.
Đó là bài thơ Người ra trận của Bùi Công Minh. Bài thơ này có thể nhiều người không biết, và nếu có biết cũng chưa hẳn đã để ý, chưa hẳn đã thích, nhưng với riêng tôi thì hay lắm, bởi nó như cứ vận vào tôi từ bấy đến giờ. 
Bùi Công Minh làm bài thơ Người ra trận vào cuối năm 1971, khi đó ông là một cán bộ giảng dạy trẻ của Trường ĐHSP 1 Hà Nội. Một hôm ông bước chân vào một lớp học để làm  tiết kiểm tra thì chợt thấy có nhiều chỗ ngồi bị bỏ trống. Ông hỏi và lớp trưởng đứng dậy báo cáo. Thì ra đó chính là chỗ ngồi của những SV năm thứ 2 khoa văn vừa ra trận. Thầy giáo Bùi Công Minh đã rất xúc động mà viết nên bài thơ Người ra trận và gửi đăng trên báo Văn nghệ . 
Tôi biết và thuộc bài thơ từ trên số báo Văn Nghệ đó. 

NGƯỜI RA TRẬN

(Tặng các bạn sinh viên mùa này ra đi)

                                Bùi Công Minh
 
Nó đi rồi, bè bạn chẳng ai quên
Vắng nó, thiếu một giọng cười vang trong lớp
Con gái bảo con trai hay nghịch,
Với nó, chỉ thấy con trai hay cười


Nó đi để lại cái chỗ ngồi

Giờ  ra chơi bạn bè ghé qua một chút

Thầy giáo khi giảng bài nhìn vào chỗ đó

Thấy trang giáo án mình ý nghĩa lớn lao hơn

Giận thì giận nhưng thương thì thương
Cái lúc đang buồn,
sao mà cứ đùa hoài thế nhỉ
Nhớ buổi tiễn đưa hôm ấy
Nó đến tận nơi
chìa tay ra bắt
Con gái đứa nào mắt cũng cay cay
Một tay ấm bàn tay, một tay che mặt
Chỉ để cái miệng cười, mà giấu đi đôi mắt
Trời vẫn nắng loà, lại lấm thấm mưa bay...


Cuộc họp chi đoàn như cũng có nó về đây
Nhoẻn miệng cười tươi lại say sưa cao giọng
Hết "Bước chân Trường Sơn" lại đến "Ra tiền tuyến"
Nó lại mê "Bài ca người săn máy bay"

Mấy tháng đi xa, đã hai lần thư
Nó viết ở một nơi nghe lạ tai nhưng quen lắm
Cả lớp học cứ bâng khuâng theo dõi tin chiến trận
Xem băng đạn đầu nó nổ có giòn không

Quyển giáo trình ấm tay nó suốt mùa đông,
Nó trao bọn con trai, con trai chuyền qua con gái
Phần việc chưa xong, nó giao lại đấy
Mùa hạ mùa đông, dù đêm dù ngày
Con trai học gấp hai, con gái học gấp hai
Bởi có nó thay cho lớp mình ngoài mặt trận 
Ngày mai trở về chiến thắng
Nó lại đọc tiếp trang giáo trình đọc dở hôm nay 


Mở quyển sách trên bàn mỗi buổi sớm mai
Ai cũng thấy nụ cười người ra đi trìu mến
Sau những dòng chữ vịn vai nhau ẩn hiện
Là dấu chân những người lính trên đường

Nghĩ về người ra đi, ai cũng thấy
Ánh mắt ngời gương mặt chiến công.

                                     BCM - 1971

Khi đọc bài thơ Người ra trận tôi đang học năm thứ nhất. Thỉnh thoảng đang giờ học tôi lại lẩm nhẩm những câu thơ rất thật mà cũng rất hình tượng văn học:

Sau những dòng chữ vịn vai nhau ẩn hiện
Là dấu chân những người lính trên đường


 Tôi rất thích cách dùng từ của tác giả Bùi Công Minh: những dòng chữ vịn vai nhau ẩn hiện...

Một bài thơ có thể hay với người này không hẳn là phải hay với người khác, bởi mỗi người đọc một hoàn cảnh, một tâm trạng. Riêng tôi sao cứ thấy thương thương tội tội cái nhân vật "nó" trong bài thơ, một bạn SV cũng như mình mà phải đứt gánh học hành giữa chừng để ra trận đánh nhau. Không biết bạn ấy có sống sót để có ngày trở lại với ngôi trường, với bạn bè nữa không nhỉ.
Ấy vậy mà không lâu sau đó, khi vừa lên năm thứ 2, tôi lại trở thành nhân vật "nó" trong Người ra trận của Bùi Công Minh . 
Có điều lạ là sau khi chia tay các bạn trong lớp để nhập ngũ, trở thành "nó" thì tôi lại không thấy tội cho nhân vật "nó" nữa mà ngược lại, tôi lại thấy nhớ thấy thương các bạn trong lớp đang ở lại, ngày ngày cắp sách lên giảng đường. Tôi cầu mong mình đừng bị chết để có ngày trở lại trường đại học, gặp lại bạn bè xưa.
May mắn thay, ông Trời cũng thương tôi nên đã cho tôi thỏa mãn cái ước mong đó. Và kể từ ngày trở lại trường sau chiến tranh, gặp lại bất cứ bạn bè cũ nào tôi cũng vui mừng xúc động, muốn gác công việc sang một bên để đi chơi với bạn.
Bùi Công Minh, tác giả của bài thơ Người ra trận sau này chuyển về sống và làm việc ở Đà Nẵng. Ông có một bài thơ nữa cũng rất hay là bài Ngày và đêm  được nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu phổ nhạc và đặt tên là Hành khúc ngày và đêm, một ca khúc rất nổi tiếng mà hình như ai đã hành nghề dạy học ở nước ta cũng thích nghe và thích hát.
Bùi Công Minh cũng từng tham gia quân đội, từng có chân trong Ban thường vụ thành ủy, làm đến chức Chủ tịch Ủy ban mặt trân Tổ quốc, Trưởng ban tuyên giáo Tp. Đà Nẵng. 
Tôi tin rằng dù có làm quan chức VIP đến đâu, Bùi Công Minh vẫn là một nhân cách đáng kính, một con người có tâm hồn. 
Đơn giản bởi ông là tác giả của Người ra trận. 
  

 Ăn xong tô phở và uống xong li rượu nhà Thủy, nhìn đồng hồ thì đã 10 rưỡi, Tôi đi với Ngọ ra Tân Sơn Nhất vừa kịp 11h. Hú vía. Suýt nữa thì trễ. Bởi sân bay này đang nằm trong tình trạng nâng cấp thắt chặt an ninh ở cấp độ 1 kể từ sau vụ chiếc Boeing 777 - 200 trên chuyến bay MH370 của Malaysia mất tích một cách bí ẩn đã 6 ngày nay. Việc làm thủ tục trước khi bay bị kéo dài, không đến sân bay sớm rất dễ bị trễ chuyến..

            Từ phải sang: HTS, Nguyễn Trung Ngọc, Lê Văn Ngọ, Phan Thị Nga... (8-2013)