Hiển thị các bài đăng có nhãn NCKH. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn NCKH. Hiển thị tất cả bài đăng

5 tháng 6, 2020

Sài Gòn lắm Bà


Nhà tôi ở vùng Bà Quẹo, một địa danh nổi tiếng từ thời xa lắc xa lơ của Sài Gòn. Nói đến Bà Quẹo người SG ai cũng biết tiếng và quen thuộc với địa danh này. Nhưng cũng không ít người vẫn thường đặt câu hỏi: tại sao lại gọi là Bà Quẹo. Như tôi dù sống trong vùng đất Bà Quẹo mà vẫn bí rì rì khi nghe bạn bè hỏi Bà Quẹo nghĩa là gì. Đó là tên của một bà tên Quẹo hay là do nó thuộc phường 13, 14 quận Tân Bình (từ khi tách quận thì một phần phuờng 14 Q. Tân Bình đã thành phường Tân Sơn Nhì Q. Tân Phú) có con đường Trường Chinh dài dằng dặc rồi có những ngã ba để khi đến các phường trên phải quẹo vô Âu Cơ, quẹo vô Tân Sơn Nhì thành ngã ba Bà Quẹo nên gọi là Bà Quẹo.
Vùng Bà Quẹo chạy dài từ ngã 3 Trường Chinh - Âu Cơ về đến ngã tư Trường Chinh - Tân Kỳ Tân Quý. Ngay ngã tư này có bưu điện mang tên Bà Quẹo luôn chật chội và đông khách..
Vì thế mà từ ngày vô SG tôi đã cất công tìm hiểu về Bà Quẹo. Mà không chỉ có một Bà Quẹo, tôi thấy ở SG la liệt những địa danh bắt đầu bằng chữ Bà. Như Bà Hom, Bà Hạt, Bà Điểm, Bà Chiểu … xa hơn tận phía Vũng Tàu còn có thêm Bà Rịa nữa.
Có thể nói ở Sài Gòn có rất nhiều chợ mang tên các Bà.
Hóa ra câu trả lời cũng đơn giản. Tất cả 6 bà trên đều là những bà vợ của ông Lãnh Binh Thăng (tên thật là Nguyễn Ngọc Thăng 1798-1866) là một viên tướng yêu nước từng chỉ huy quân đội chống lại quân Pháp thời nhà Nguyễn. Ông là người từng giữ chức vụ thống lãnh các lục lượng quân đội triều đình vùng Sài Gòn - Gia Định xưa. Vì thế mà gọi là Ông Lãnh.
Là võ tướng nhưng Lãnh Binh Thăng rất có đầu óc kinh tế. Ông là người đã có công xây cây cầu bắc từ quận 1 sang quận 4 được gọi là cầu Ông Lãnh. Nhờ cây cầu mang tên ông mà dân quận Tư thấy mình cũng như dân quận Nhất do từ quận Tư qua quận Nhất chỉ mất mươi phút là đã đặt chân đến chợ Bến Thành.

Lãnh Binh Thăng (1798-1866). Hình tư liệu trên internet

Dân SG rất ngưỡng mộ ông Lãnh và chính quyền các thời đại cũng vậy, suy tôn ông làm một danh nhân yêu nước. Do vậy mà ở quận 1 có hẳn một phường mang tên ônggọi là phường Ông Lãnh, ở quận 11 có một con đường lớn mang tên ông là đường Lãnh Binh Thăng.
Thông thường những viên tướng giỏi cũng đồng thời là những người đàn ông đào hoa và đa tình. Lãnh Binh Thăng cũng vậy. Ông đi đến đâu là có những người đẹp vây quanh đến đấy. Vì thế mà ông Lãnh có những 6 bà vợ chính thức: bà Quẹo, bà Hom, bà Hạt, bà Điểm, bà Chiểu, bà Rịa.
Sẽ có người thắc mắc: một nách 6 bà vợ với 6 đàn con thì ông Lãnh Binh làm sao mà nuôi nổi. Tuy nhiên với ông Lãnh thì không khó. Theo giải pháp kinh tế tự cung tự cấp mà các cụ ngày xưa thường áp dụng, ông Lãnh đã mua đất xây 6 cái chợ to, giao cho mỗi bà cai quản một nơi và lấy luôn tên các bà làm tên chợ. Rồi từ đó tên chợ thành tên địa danh.


Chợ Bà Quẹo nay là chợ Võ Thành Trang nằm trên đường Trường Chinh thuộc P. 14 Q. Tân Bình. Chợ Bà Hom gần đường Bà Hom thuộc quận Bình Tân. Chợ Bà Hạt gần Trường Đại học Kĩ thuật, phường 9 quận 10. Chợ Bà Điểm thuộc xã Bà Điểm huyện Hóc Môn nơi có 18 thôn vườn trầu nổi tiếng. Chợ Bà Chiểu nằm trên đường Phan Đăng Lưu thuộc phường 1 quận Bình Thạnh. Cuối cùng xa nhất là chợ Bà Rịa hiển nhiên là thuộc thị xã Bà Rịa tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu mà ai đã một lần đi nghỉ mát Long Hải không thể không ghé qua mua cá khô với nước mắm mang về SG làm quà.
Theo học giả Trương Vĩnh Ký thì có thể Ông Lãnh còn có thêm nhiều bà khác nữa mà ta chưa thể thống kê hết.
Nếu vậy thì ông tướng này có những 6 bà vợ với 6 ngôi chợ rải rác khắp Sài Gòn. Và đó là sự lí giải chính xác cho các tên chợ và địa danh bắt đầu bằng chữ Bà ở Sài Gòn và các vùng lân cận.
Lũ hậu thế hèn mọn như kẻ viết bài này không ngả nón kính nể ông lãnh Binh Thăng mới lạ.


6 tháng 10, 2019

Giữ gìn và phát triển sự trong sáng tiếng Việt trên các phương tiện báo chí và truyền thông


Tiếng Việt là một sinh ngữ, và ngôn ngữ trên báo chí cũng không ngừng phát triển góp phần không nhỏ vào sự phát triển của tiếng Việt hiện đại.

      Tuy nhiên trong quá trình phát triển, báo chí đã bộc lộ không ít những nhược điểm trong sử dụng từ ngữ, văn phạm làm phương hại đến sự trong sáng của tiếng Việt, và góp phần không nhỏ vào sự lệch lạc trong lỗi dùng từ của một bộ phận người đọc, người nghe, làm phương hại đến đến sự trong sáng của tiếng Việt, làm ảnh hưởng không nhỏ và tạo nên sự lệch lạc trong lỗi dùng từ của một bộ phận người đọc báo, người nghe đài, xem truyền hình.
Về tu từ:
Có một nhận xét chung là khả năng tu từ học cũng như kỹ năng diễn đạt của báo chí nước ta đang ngày càng pha tạp giữa ngôn ngữ thuần Việt với ngôn ngữ nước ngoài. Khiến câu chữ trên báo chí lắm lúc trở nên ngô nghê, khó hiểu hoặc khô cứng. Nguyên nhân thì có nhiều nhưng có thể là do các nhà báo của ta trong quá trình học và sử dụng ngoại ngữ đã mang theo thói quen sử dụng cấu trúc của câu văn tiếng nước ngoài vào câu văn Việt; hoặc là muốn viết cho khác người, cho lạ, cho hiện đại. Ví dụ: Bản quy hoạch này được thực hiện bởi một nhóm các kiến trúc sư trẻ;  Cú đâm nhau chí mạng được xảy ra giữa hai xe máy phóng ngược chiều với một tốc độ rất cao; Sự cạn dần đi của nguồn nước được xảy ra khi các nhà máy thuỷ điện mọc lên chi chít trên thượng nguồn các con sông.v.v. Những câu trên đều có thể diễn đạt lại theo lối thuần Việt, xuôi tai và dễ hiểu hơn, nhất là với số đông người bình dân: Một nhóm kiến trúc sư trẻ đã thực hiện bản qui hoạch này; hai xe máy phóng ngược chiều với tốc độ rất cao đã đâm nhau một cú chí mạng; Các nhà máy thủy điện mọc lên chi chít trên thượng nguồn các con sông đã làm cho nguồn nước bị cạn dần đi .v.v.     Chính cách viết theo cấu trúc đặt trước từ “được” những động từ và tính từ đã làm nên những câu văn kiểu tây tây như thế. Trong lúc cách nói truyền thống của người Việt ta là Chúng ta đi trên đường tắc nghẽn quá; không ai nói Chúng ta tắc nghẽn quá bởi con đường đi. Nghe cứ như là văn dịch.  Tất nhiên là dù nói và viết  theo cách nào thì người đọc người nghe cũng hiểu Chúng ta đi trên một con đường tắc nghẽn; con đường tắc nghẽn mà chúng ta đang đi. Về nghĩa giữa hai câu thì giống nhau nhưng diễn đạt theo câu thứ hai thì vụng về và nặng nề lắm. Trong khẩu ngữ thì có thể nói như thế nhưng trên báo chí thì không nên chút nào. Trên thực tế, việc đưa khẩu ngữ vào các bài báo của số đông các nhà báo đang ngày càng phổ biến. Và đó là một thói quen xấu, khi báo chí được xem là một phương tiện truyền thông phổ cập và cổ điển.
Ngay ở cách đặt title cho bài báo cũng nhiều lúc chưa ổn, thậm chí gây bức bối cho người đọc báo. Một title bài phải sao cho ngắn gọn và kín, đọc qua title bài, bạn đọc sẽ thấy ngay bài báo sẽ có nội dung về vấn đề gì nhưng đồng thời ngay ở cái title cũng cần gây được sự chú ý, tò mò cho người đọc. Ví dụ: Mất bảy mạng người trong một vụ hoả hoạn. Đọc cái title này bạn đọc sẽ biết nội dung bài báo là nói về một vụ hoả hoạn nghiêm trọng gây chết đến bảy người. Nhưng người ta cũng cần biết là vụ cháy xảy ra ở đâu, vào lúc nào, diễn biến như thế nào và nguyên nhân do đâu. Và vì thế mà người ta sẽ đọc hết bài báo để nắm các thông tin trên.  Nhưng nếu cũng với bài báo trên mà đặt  title: Vụ hoả hoạn ở Bình Dương vì sao mất đến bảy mạng người? Với dấu (?) ở cuối thì sẽ khiến cho người đọc khó chịu. Bởi người đọc đến với bài báo đó là để tìm đến với sự thật chứ không phải là đi tìm câu trả lời mà nhà báo đặt ra. Trong trường hợp này chỉ có một trong hai khả năng: do có người đốt hoặc do bất cẩn. Vậy chỉ có thể đặt title với sự khẳng định: Vụ hoả hoạn ở Bình Dương là do có người đốt; hoặc Vụ hoả hoạn ở Bình Dương là do bất cẩn.
Trong trường hợp cụ thể này, nếu chưa xác định được nguyên nhân thì chỉ nên đặt title: Đi tìm nguyên nhân vụ hoả hoạn ở Bình Dương là đủ. Tương tự không nên đặt các title bài kiểu: Tăng giá xăng trong thời điểm này liệu có thích hợp? Trong trường hợp này nếu quan điểm của nhà báo là không thích hợp thì khẳng định luôn là: Tăng giá xăng trong thời điểm này là không thích hợp; ngược lại thì nói: Tăng giá xăng trong thời điểm này là thích hợp. Gần đây báo chí ta còn có tình trạng phổ biến  đặt câu hỏi với dạng động từ + tại sao không?  Ví dụ: Cá cược bóng đá, tại sao không?; Hoặc Tết sách, tại sao không? ...  Nói kiểu ấy một vài lần thì được, nói hoài kiểu câu hỏi ấy thì gây khó chịu cho người đọc. Người đọc báo có quyền bắt bẻ lại nhà báo với những cái title cụ thể hơn: Có thể/không thể cá cược bóng đá; hoặc Nên/không nên có tết sách ...
Đa số bạn đọc không thú vị gì với các title bài đồng thời là một câu hỏi. Bởi nhiệm vụ của họ không phải là đi tìm câu trả lời mà là tìm đến với sự thật là câu trả lời của nhà báo nằm trong nội dung bài báo. Và như vậy, cũng có nghĩa là các title bài không nên là những câu hỏi. Trong lúc đó thì đáng buồn thay đang có nhan nhản những title đề như thế trên các trang báo ra hàng ngày.
Về sử dụng từ:
Như đã biết, lượng từ Hán – Việt chiếm đến 70% trong ngôn ngữ tiếng Việt. Chúng ta không máy móc là phải Việt hoá  tất cả các từ Hán – Việt để cho tiếng Việt được trong sáng. Và trên thực tế không phải từ Hán – Việt nào cũng có thể Việt hoá được. Tuy nhiên, lạm dụng và sử dụng quá nhiều từ Hán – Việt trong khi có thể sử dụng từ thuần Việt là không nên. Điều này trong giới ngôn ngữ học đã nói nhiều, chúng tôi xin không nhắc lại.
Điều chúng tôi muốn nói là tình trạng sử dụng sai từ Hán – Việt trong báo chí. Rõ nhất là ở từ khiêm tốn. Ai cũng biết khiêm tốn là từ dùng để chỉ một phẩm chất tốt của con người. Ông ấy giỏi nhưng khiêm tốn lắm; Những người thông minh là những người biết khiêm tốn. Bác Hồ cũng dạy các cháu thiếu niên nhi đồng là Khiêm tốn, thật thà,  dũng cảm. Từ nghịch nghĩa với khiêm tốntự cao, một thói xấu của con người. Tuy nhiên gần đây từ khiêm tốn đang được dùng để chỉ những cái gì còn ít, như là một từ định lượng. Ví dụ: Kết quả đạt được của doanh nghiệp trong năm qua còn khiêm tốn; hoặc:  Thành tích của đội bóng A trong mùa bóng vừa qua là quá khiêm tốn ...  thậm chí có nhà lãnh đạo khi đi nước ngoài cũng đã phát biểu: Tiềm năng hợp tác kinh tế giữa hai nước Việt – Nga là rất to lớn nhưng chúng ta thực hiện còn quá khiêm tốn. Tại sao không nói thẳng, nói rõ ra là ... còn ít; ... còn thấp mà lại thay từ khiêm tốn vào đấy. Nếu vậy, chúng ta phải hiểu từ khiêm tốn trong Năm điều Bác Hồ dạy thiếu niên và nhi đồng “Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm” như thế nào đây! Chẳng thế mà có độc giả đã viết bài than phiền về cái sai phổ biến và trầm trọng của báo chí khi dùng từ khiêm tốn với nhan đề chua chát: Tôi sợ khiêm tốn lắm rồi!
     Đó là cái sai rất đậm nét trong dùng từ Hán – Việt mà không ít người đã lên tiếng phê phán nhưng chưa thấy ai sửa, ngược lại kiểu sai này ngày càng phổ biến và trầm trọng hơn. Báo chí, hơn ai hết phải thấy được khả năng lan toả và tác động to lớn của mình trong đời sống xã hội để từ đó cũng phải cẩn trọng hơn ai hết trong sử dụng từ ngữ.
    Một cái sai khác trong dùng từ cũng đang rất phổ biến trong báo chí của ta là dùng từ bà con, nhất là trong các bài báo, các chương trình phát thanh và truyền hình hướng về đối tượng đọc và nghe là nông dân, đồng bào các dân tộc thiểu số. Ví dụ: Bà con và các bạn thân mến! Theo từ điển tiếng Việt, nghĩa của từ bà con là để chỉ những người có cùng quan hệ huyết thống, có quan hệ họ hàng thân thuộc bên nội, bên ngoại với nhau… Có lẽ khi các nhà báo và các báo, đài gọi đối tượng hướng tới để tuyên truyền của mình, những người nông dân, những đồng bào các dân tộc thiểu số là bà con nhằm tạo sự gần gũi, thân thiết. Nếu vậy khi viết về những người công nhân,  những tầng lớp lao động khác trong xã hội thì không cần sự bà con gần gũi đó hay sao! Đó là chưa nói tới chuyện người nông dân trong xã hội ta ngày nay cũng đã được nâng cao về dân trí và các nhận thức khác, họ sẽ không muốn cánh báo chí gọi mình theo lối mị dân như thế. Và khi đó, tác dụng tuyên truyền sẽ bị giảm sút do lỗi dùng từ không chính xác.
     Trong trường hợp này, nên thay từ bà con bằng đồng bào là thích hợp hơn cả: Đồng bào và các bạn thân mến! Bởi rằng, đồng bào là một từ gốc Hán nhưng không hề xa lạ trong tiếng Việt.      
     Lỗi trong dùng từ theo kiểu khẩu ngữ cũng đang phổ biến trên các mặt báo. Có lẽ chưa có bao giờ mà lời ăn tiếng nói thông thường trong cuộc sống hàng ngày lại được các nhà báo sử dụng thoải mái đến mức hồn nhiên như hiện nay. Tác dụng của nó là khiến cho báo chí trở nên gần gũi hơn với người đọc nhưng nếu lạm dụng quá thì sẽ làm mất đi tính nghiêm túc của bài báo, và của cả tờ báo.
     Chẳng hạn một từ đang được báo chí dùng rất thịnh hành là bật mí. Ví dụ: Bật mí về hậu trường làm phim truyền hình Việt Nam; hoặc Bật mí về những cây xăng gian lận thương mại ở Long An .v.v.  Ai cũng biết, bật mí là nói lái của từ bí mật, như một sự chơi chữ, nhằm chỉ những điều đã bị lộ diện, không còn bí mật nữa. Dùng ở ngoài sách vở theo dạng khẩu ngữ, ngôn ngữ đường phố không thì không sao nhưng nếu sử dụng chính thức trên báo chí sẽ làm mất hẳn sự nghiêm túc của bài báo, biến một vấn đề nghiêm túc thành một sự bông lơn, đùa cợt.
     Trong quá trình phát triển của ngôn ngữ, lượng từ mới xuất hiện ngày càng nhiều và đi vào đời sống ngôn ngữ như một lẽ tự nhiên. Điều đó làm cho ngôn ngữ nước nhà ngày càng phong phú. Tuy nhiên, không phải từ mới nào cũng có lí để tồn tại. Lẫn trong những từ mới, đã có những từ ghép được các nhà báo “sáng tạo” một cách khập khễnh, làm biến dạng cả tiếng Việt. Ví dụ: viết thanh thiếu nhi thay cho viết đầy đủ là thanh niên, thiếu niên và nhi đồng; chi đảng bộ thay cho chi bộ, đảng bộ; khán thính giả thay cho khán giả, thính giả; phối kết hợp thay cho phối hợp, kết hợp .v.v. Thực ra các trường hợp trên chỉ là một cách viết tắt chứ không phải là những từ ghép. Trong khẩu ngữ khi nói không chính thức có thể dùng nhưng khi đi vào văn bản viết của ngôn ngữ báo chí thì không nên bởi nó làm mất đi độ chính xác và tính nghiêm túc của bài báo. Nếu chấp nhận “sáng tạo” và cứ  phát triển theo xu hướng trên thì sẽ có lúc dùng ngoan cố thay cho ngoan ngoãn và cố gắng; cao xà lá thay cho cao su, xà phòng, thuốc lá. Như vậy có mà loạn từ ngữ! Phát hiện và sử dụng cái mới là một điều tích cực nhưng không phải cái gì  khác  lạ cũng là cái mới.    
Về dùng từ nước ngoài:
        Khi đất nước hội nhập ngày càng sâu rộng với quốc tế, tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có ngôn ngữ cũng tham gia mạnh mẽ vào quá trình hội nhập ấy. Ngày nay, khi lật bất cứ trang báo nào, người đọc cũng có thể thấy ngay những từ nước ngoài được sử dụng một cách phổ biến như: Phone, fax, mail, website, blog, computer, hacker, show, live show, game show, shopping v.v. và v.v.  Đó là những từ nước ngoài mà con người trong thế giới hiện đại dù ở bất cứ quốc gia nào cũng không thể không sử dụng. Bởi dù có bảo thủ đến đâu chúng ta cũng khó mà thay thế các từ thuần Việt vào các từ nước ngoài như fax, mail, website, blog ... Trong trường hợp nếu cố tình thay thế, chúng ta sẽ có cách diễn đạt dài dòng, thậm chí là không chính xác, không rõ nghĩa. Có thể khẳng định rằng, với sự xuất hiện ngày càng dày đặc các từ nước ngoài trên các phương tiện truyền thông mà chỉ cách đây mấy năm còn xa lạ nhưng nay đã trở nên quen thuộc với số đông đã góp phần cho sự diễn đạt chính xác và làm phong phú thêm cho ngôn ngữ Việt nói chung và ngôn ngữ báo chí nói riêng. Mặt khác, điều đó cũng góp phần nói lên sự hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng của đất nước ta ngày nay.
     Tuy nhiên, cùng với sự tiếp thu và Việt hoá được nhiều cái hay của từ ngữ nước ngoài trong thời buổi đất nước hội nhập thì có một điều chúng ta đã nói rất nhiều, rất lâu rồi nhưng ngày càng trở thành một thói quen xấu là việc lạm dụng từ nước ngoài, sử dụng từ nước ngoài trong những trường hợp không cần thiết. Tình trạng này làm cho tiếng Việt bị mất đi sự trong sáng, thậm chí bị biến dạng, lai căng trông rất kệch cỡm. Điều đáng báo động là xu hướng này đang ngày càng thịnh hành, nhất là thói quen sử dụng tiếng Anh thay cho tiếng Việt ngay cả trong những trường hợp không cần thiết.
     Có lẽ ngày nay, chỉ trừ số ít tờ báo như Nhân dân, Quân đội nhân dân, Tiền phong (tiếc là những tờ báo này lại ít người đọc) thì đa số các mặt báo còn lại, nhất là báo điện tử, báo  mạng, thậm chí cả trong các văn bản hành chính; rồi cách gọi, cách đặt tên cho sự kiện cũng nhan nhản sự lạm dụng từ tiếng Anh. Như không nói là liên hoan mà nói là festival. Trong các cuộc liên hoan mang phạm vi quốc tế thì dĩ nhiên là và hoàn toàn có thể sử dụng từ festival như Festival thanh niên, sinh viên quốc tế ; Festival Huế (với thành phần tham gia có nhiều khách quốc tế)…  nhưng cũng có những liên hoan mà tính quốc tế hầu như không có hoặc có rất ít như Festival lúa gạo ; Festival trái cây ; Festival thuỷ sản Cần Thơ, Festival thanh niên nông thôn, Festival Tây Sơn Bình Định v.v. thì hoàn toàn nên gọi là liên hoan chẳng những là để gigìn sự trong sáng cho tiếng Việt mà còn là để gần gũi với đa số nhân dân, nhất là với nông dân. Ngoài ra có thể kể thêm cho những trường hợp lạm dụng tiếng Anh như : dùng building, villa thay cho nhà cao tầng, biệt thự ; sale off thay cho hạ giá ; scandal thay cho bê bối ; collection thay cho sưu tập. Ngay cả khu du lịch nổi tiếng ở Nha Trang hoàn toàn được xây dựng với  sự đầu  tư của người Việt nhưng lại được đặt tên là Vinpearland chứ không chịu gọi là Hòn ngọc Việt, một cái tên thuần Việt vừa đẹp va nhiều ấn tượng. Hình như là có một bộ phận người Việt cho rằng có gọi theo tên Tây như thế thì mới sang, mới hiện đại ; còn gọi theo tiếng Việt thì bị giảm giá( !).  
      Trong phạm vi vấn đề này, như đã nói ở trên, chúng tôi không phản đối mà ngược lại, còn phần nào ủng hộ việc sử dụng những từ ngữ nước ngoài trong những trường hợp không thể dùng tiếng Việt, hoặc nếu cố tình sử dụng tiếng Việt sẽ làm cho câu chữ dài dòng, không nói hết nghĩa của từ và thuật ngữ. Chẳng hạn trong việc sử dụng mạng thông tin điện tử thì dùng mail, fax, hacker, gameshow, forum … Hoặc trong hệ thống các trang blog hoàn toàn mang tính cá nhân thì người chủ các blog có thể dùng từ theo ý thích của họ. Chẳng hạn dùng entry, comment, post, up… thay cho các từ tiếng Việt tương đương, bởi chúng chỉ giới hạn trong phạm vi cá nhân hoặc trong một bộ phận người dùng. Tuy nhiên, nếu qúa lạm dụng và nhân bản ra với cả các loại hình báo chí chính thống khác thì chắc chắn là sẽ loạn ngôn ngữ. Cái gì cũng nên có giới hạn của nó.
      Ở đây, chúng tôi muốn đề cập thêm đến việc sử dụng không chính xác hoặc sai nghiêm trọng khi sử dụng từ Hán – Việt hoặc từ gốc Hán của báo chí. Chúng tôi xin dẫn ra đây hai ví dụ tiêu biểu: Ai cũng biết nước Việt ta từ xưa đến nay mới chỉ có duy nhất một bản Tuyên ngôn độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh công bố trong ngày Quốc khánh 2 – 9 – 1945 tại Hà Nội. Vậy mà trong không ít các lời dẫn chương trình, các bài viết trên một vài tờ báo, các biên tập viên và người dẫn chương trình khi nói đến bài thơ Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt và bài Cáo bình Ngô  của Nguyễn Trãi vẫn cho rằng đó là hai bản tuyên ngôn độc lập khác nữa của nước Việt Nam ngoài bản Tuyên ngôn nói trên do Hồ Chí Minh công bố ; và khẳng định luôn là nước ta có đến ba bản tuyên ngôn độc lập. Trong lúc thc ra, hai tác phẩm kể trên của Lý Thường Kiệt và Nguyễn Trãi xét về mặt ý nghĩa chỉ có giá trị như một lời tuyên ngôn mà thôi. chương trình đã nhầm lẫn chữ môn nghĩa là cổng, cửa với môn là môn học. Những hạt sạn to như thế ngày nay trên báo chí, đài phát thanh, truyền hình, báo mạng … có mà nhặt cả ngày cũng không hết. 
Mấy đề xuất:   
          
      Trước thực trạng đáng lo ngại như đã trình bày ở trên, đề nghị các nhà ngôn ngữ, các nhà giáo trong nghiên cứu, giảng dạy qua các báo và tạp chí nên có nhiều bài viết về giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, nhất là mở các mục kiểu như mục Dọn vườn của báo Văn nghệ trước đây. Mục này vốn rất được bạn đọc chú ý và thích thú nhưng có lẽ do ngày nay có quá nhiều cỏ rác dọn không xuể nên duy trì không đều.
Hãy xem việc giữ gìn và phát triển sự trong sáng của tiếng Việt, nhất là trong thời kì cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, là một trong những biểu hiện, là một nội dung của lòng yêu nước và tự hào dân tộc.
HTS
                                                                                                         
Lượt xem: 1419

1
2


17 tháng 7, 2019

Thăm quan hay tham quan


Gác chuyện LON với LU sang một bên, ta nói chuyện dùng từ.
Rất nhiều người, kể cả các nhà báo, nhà giáo, nhà văn, những người có học vị cao cho rằng rằng THĂM QUAN mới là từ đúng vì thế mà khi nói và viết nhiều người đã dùng từ này để chỉ việc đi xem tận nơi, tận mắt một địa danh nào đó để mở rộng tầm nhìn, sự hiểu biết hoặc để học hỏi kinh nghiệm. Chẳng hạn: thăm quan viện bảo tàng; đi thăm quan Dinh Độc Lập, thăm quan HTX trồng rau sạch…
Nhưng rất tiếc, THAM QUAN mới là từ dùng đúng cho nghĩa trên nhé các bạn. Các chữ thăm trên đều phạm lỗi dùng từ, phải sửa lại là tham.
“THĂM” là một từ thuần Việt, có nghĩa là gặp gỡ, hỏi han, vấn an… một người, một tập thể nào đó, hoặc đến một địa danh nào đó. Ví dụ: Chủ tịch nước thăm Bình Định, Chủ tịch QH thăm Trung Quốc, HTS đi thăm bạn...
Còn THAM (động từ) trong tham quan (
觀光) là từ Hán Việt có nghĩa là can thiệp, gia nhập, tham gia,… (Khác với “tham quan” là một danh từ dùng để chỉ bọn quan lại tham nhũng thường dùng trong cụm từ “Tham quan lại nhũng”).
Cả “THAM” và “QUAN” đều là từ Hán Việt, còn “THĂM” lại là từ thuần Việt, Thông thường thì không thể ghép một từ thuần Việt với một từ Hán Việt để tạo ra một từ ghép.
Vậy, THĂM QUAN là từ sai, THAM QUAN mới là từ dùng đúng.

Ảnh: Nhân thể khoe tấm hình tôi đi THAM QUAN địa đạo Củ Chi.


 

8 tháng 6, 2018

Cái gia gia là cái gì


Nhớ năm 2015 tôi lên dạy cho lớp SP năm 2 ở ĐHTN, có bạn SV chạy theo hỏi: Thưa thầy cái gia gia trong câu Thương nhà mỏi miệng cái gia gia của Bà Huyện Thanh Quan nghĩa là cái gì ạ.
Đây là một câu hỏi khó trả lời nếu không biết điển tích của từ gia gia. Nhân thầy 
Nguyen Xuan Duc nhắc lại câu “Bất thực túc Chu gia” tôi nhớ lại chuyện này.
Bài thơ Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan thì cõ lẽ người Việt Nam ai cũng thuộc, nhưng để hiểu cái gia gia là gì thì chắc nhiều người cũng sẽ như em sinh viên kia, đọc rất thuộc lòng mà chưa kịp hiểu.
Trước hết ta hãy đọc lại nguyên bài thơ Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan

Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà,
Cỏ cây chen đá lá chen hoa.
Lom khom dưới núi tiều vài chú
Lác đác bên sông chợ mấy nhà.
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc,
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.
Dừng chân đứng lại trời, non, nước,
Một mảnh tình riêng ta với ta.
 

Các nhà thơ cổ điển Việt Nam khi sáng tác thường sử dụng nhiều điển tích điển cố. Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương... rồi Bà Huyện Thanh Quan cũng thế.
Để hiểu nghĩa của cái gia gia thì phải trở lại với xã hội nô lệ Trung Quốc thế kỉ XVIII trước công nguyên. 
Đời nhà Thương (Trung quốc cổ đại, cuối TK 18 đến giữa TK 12 Tr. CN) vua Trụ vô đạo nên Võ Vương lên ngôi đem quân chinh phạt tiêu diệt. Lúc này cha của Võ Vương là Văn Vương vừa qua đời. 
Thấy Võ Vương lên ngựa ra trận, Bá Di và Thúc Tề (hai anh em ruột là con của vua nước Cô Trúc, một chư hầu của nhà Thương) liền ra nắm lấy dây cương ngựa của Võ Vương mà can gián: Cha ngài mới chết không lo việc tang đã đem binh chinh phạt, như thế là can tội bất hiếu. Ngài không nên đi. 
Tuy nhiên khi chí đã quyết vì việc lớn, Võ Vương gạt đi mà rằng: Trụ Vương hoang dâm vô đạo, ta phải ra tay để cứu muôn dân. Đoạn đẩy Bá Di, Thúc Tề ra xa rồi giật cương phi ngựa đi.
Rồi Võ Vương thắng trận tiêu diệt được Trụ Vương, lập ra triều đại mới gọi là nhà Chu, một triều đại mới có nhiều tiến bộ. Bá Di, Thúc Tề lúc bấy giờ rất lấy làm xấu hổ đến mức không dám ăn thóc gạo của nhà Chu. Hai ông khí khái bỏ lên núi Thú Dương ẩn dật hái rau vi ăn mà sống. 
Những tưởng thế là thoát được nỗi xấu hổ nhưng rồi một hôm gặp người ở quê lên bảo hai ông: Giang sơn bây giờ là giang sơn của nhà Chu, thiên hạ bây giờ là thiên hạ của nhà Chu, hai ông chê không ăn cơm gạo nhà Chu mà hái rau vi của núi rừng nhà Chu để ăn thì có khác gì ăn cơm gạo nhà Chu.
Bá Di, Thúc Tề nghe có lí nên từ hôm ấy nhịn ăn mà chết.
Hai ông chết trong buồn thảm nên hồn không tan được mà biến thành một đôi chim luôn cất giọng gào thét thành tiếng kêu ai oán giữa không trung: "Bất thực túc Chu gia... Bất thực túc Chu gia" (Không ăn gạo nhà Chu ... Không ăn gạo nhà Chu...)
Người đời nghe tiếng kêu đặt tên cho nó là chim đa đa lấy từ âm "gia gia" mà ra.
Bài Qua Đèo Ngang của bà Huyện Thanh Quan đưa tiếng kêu “gia gia” của con chim đa đa vào trong hai câu luận của bài thơ Đường luật: Nhớ nước đau lòng con quốc quốc/ Thương nhà mỏi miệng cái gia gia là để nói lên tâm trạng hoài cổ, nỗi lòng buồn thảm của mình trước một khung cảnh Đèo Ngang tráng lệ.



7 tháng 2, 2013

“Đề đô thành nam trang” và một giai thoại tình yêu bất tử khi mùa Xuân về



Thôi Hộ (còn có tên gọi khác  Thôi Hạo) là một trong những nhà thơ nổi tiếng của Trung Quốc thời nhà Đường. Thơ ông còn lại 6 bài được ghi ở trong bộ Toàn Đường thi nhưng ông lại là nhà thơ nổi tiếng với chỉ một bài thơ Đề đô thành nam trang, một áng tình thi gắn với một câu chuyện tình lãng mạn khi mùa Xuân về và được lưu truyền mãi trong giới yêu thơ như là một huyền thoại về tình yêu trong thi ca.
Chuyện kể rằng chàng Thôi Hộ dù thông minh sáng láng và hay thơ nhưng lại là một sĩ tử không may chốn trường thi. Ông đi thi đến lần thứ hai rồi mà vẫn bị hỏng. Buồn chán trong lòng nên nhân tiết thanh minh, Thôi Hộ đi du xuân về phía nam thành đô. Chợt thi nhân thấy trước mắt mình hiện ra một trang trại với cây cối xanh tươi tốt đẹp, nhất là cả một rừng hoa đào đang rộn ràng khoe sắc giữa gió xuân thổi từ phương đông về.
Cảm mến vô cùng cảnh đẹp thiên nhiên của trang trại, ông ghé lại gõ cửa xin nước uống. Và câu chuyện cứ như là một chốn nhân duyên tiền định, người mang nước cho ông uống là một thiếu nữ vừa tròn tuổi trăng rằm, đẹp đẽ không kém gì một tuyệt sắc giai nhân. Nàng mang nước mời nhà thơ uống còn mình thì e lệ đứng nép dưới cành đào. Giữa một khung cảnh của hoa đào khoe sắc thắm, thiếu nữ cũng ửng hồng đôi má, miệng chỉ chúm chím cười hoa đào che kín nụ mà kín đáo chẳng nói năng chi. Trong lúc đó thì chàng trai trẻ chưa vợ Thôi Hộ đắm đuối nhìn, không biết là sắc hồng của hoa đào khiến khuôn mặt người đẹp hồng tươi hay ngược lại là đôi má hồng của thiếu nữ tỏa sắc hồng thắm tươi lên những nụ hoa đào. Quả là hoa đẹp mà người cũng thật là đẹp!    

Cảnh vật tươi sáng, tinh khôi, đầy chất lãng mạn ấy đã ngay lập tức như một cú sét ái tình làm say đắm trái tim thi nhân Thôi Hộ. Tuy nhiên khi lí do xin nước uống đã hết, dù cảnh đẹp người xinh Thôi Hộ cũng thấy nếu đứng lại thêm nữa thì thành ra vô duyên nên đành bịn rịn giã từ người đẹp mà ra về.
Năm sau cũng nhân tiết thanh minh, chàng trai trẻ chưa vợ Thôi Hộ bỗng bồn chồn nhớ lại trang trại hoa đào ở phía nam thành đô với dáng hình xinh tươi chưa thể phai mờ của người thiếu nữ. Chàng lại cất bước ra đi nhằm tìm lại cảnh cũ người xưa, lại kiếm cớ vào xin nước uống dù lần này chàng không hề khát. Cảnh sắc mùa xuân vẫn như xưa không hề thay đổi. Những rặng đào hoa vẫn nở tưng bừng như năm ngoái, như cười cợt trước gió xuân đang hồn nhiên thổi từ hướng đông về với chàng thi sĩ đa tình. Chỉ có điều là cảnh cũ thì còn đó mà người đẹp thì đi đâu vắng. Khuôn viên trang trại thì cửa đóng then cài. Thôi Hộ chợt thấy lòng trào dưng một cảm xúc bồi hồi thương nhớ.
Không đừng được nỗi lòng, thi nhân liền lấy giấy bút với cảm xúc dào dạt mà viết thành bài thơ tứ tuyệt với nhan đề:

Đề đô thành nam trang
Khứ niên kim nhật thử môn trung
Nhân diện đào hoa tương ánh hồng
Nhân diện bất tri hà xứ khứ
Đào hoa y cựu tiếu đông phong

Dịch nghĩa:

Đề (thơ) ở trại phía nam đô thành

Ngày này năm ngoái tại cửa đây
Hoa đào và mặt người cùng ánh lên sắc hồng
Gương mặt người xưa giờ không biết ở chốn nào
(Chỉ thấy) hoa đào vẫn như cũ cười với gió đông

Bản dịch thơ của thi sĩ Tản Đà:

Thơ đề ở trang trại phía nam đô thành

Cửa đây năm ngoái cũng ngày này
Má phấn hoa đào ửng đỏ hây
Má phấn giờ đây đâu vắng tá
Hoa đào còn bỡn gió xuân đây         
          
            Viết xong cẩn thận kí tên phía dưới rồi đem gài vào cánh cổng trang trại cất bước ra về mà lòng Thôi Hộ vẫn không ngừng bâng khuâng.
Bẵng đi một thời gian sau, trong lòng Thôi Hộ thấy quá đỗi xốn xang vì thương nhớ người thiếu nữ nơi trang trại, chàng bèn quay trở lại thì nghe từ trong nhà có tiếng khóc vẳng ra. Không hiểu là điều gì đang xảy ra, chàng quyết định đường đột gõ cửa thì thấy ngay một ông già đi ra, nhìn chàng và hỏi :
- Ngài có phải là Thôi Hộ không? Con gái tôi sau khi đọc bài thơ của ngài mà mắc bệnh tương tư, u sầu suốt ngày đêm, không ăn uống gì và vừa qua đời.
Thôi Hộ nghe chuyện thì ân hận vô cùng vì thấy do mình mà thiếu nữ đã chết. Chàng bèn bước vào trong quỳ xuống bên giường nàng, ôm lấy cái thi thể còn nóng ấm của thiếu nữ mà khóc lóc thảm thiết. Nước mắt của Thôi Hộ rơi xuống thi thể người con gái như minh chứng cho một tình yêu oan trái. Và kì diệu thay, những giọt nước mắt khóc thương cùng với vòng tay ấm nóng của Thôi Hộ đã khiến cho người con gái sống lại. Nàng chợt mở mắt, khuôn má lại dần ửng hồng như hoa đào giữa mùa xuân đang khoe sắc thắm ngoài sân. Một nụ cười e ấp của hạnh phúc đang phục sinh.
Ngay sau đó, hai người liền kết duyên vợ chồng và Thôi Hộ lại vào kinh đi thi lần thứ ba. Lần này nhờ có thần tình yêu chắp cánh, chàng đã đỗ tiến sĩ, chấm dứt những năm tháng lận đận chốn trường thi. Đó là kì thi tiến sĩ đời nhà Đường vào năm 796. Nhờ thi đỗ tiến sĩ mà Thôi Hộ làm quan đến chức Tiết độ sứ. Đôi trai tài gái sắc với hai trái tim đập cùng một nhịp yêu thấm đẫm chất tình thi lãng mạn đã sống với mãi với nhau cho đến khi đầu bạc răng long, con cháu đề huề.
Đại thi hào Nguyễn Du khi sáng tác Truyện Kiều đã mượn hai câu trong bài thơ Đề Đô thành Nam trang của Thôi Hộ để miêu tả tâm trạng chàng Kim Trọng khi trở lại vườn thúy thì thấy nàng Kiều đã bước chân vào con đường của mười lăm năm lưu lạc:
Trước sau nào thấy bóng người
Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông.
Sau này có rất nhiều bản dịch thơ và phóng tác từ Đề đô thành nam trang, tiêu biểu là bài phóng tác của tác giả Vương Ngọc Long ở Sài Gòn trước năm 1975, rất được truyền tụng trong giới yêu thơ thời đó:

Hoa đào năm ngoái

Tôi đã gặp em trước cổng nầy
Ngày nầy năm ngoái gió xuân bay
Ánh dương phơi phới hồng đôi má
Ưng ửng đào hoa em ngất ngây

Lẳng lặng nhìn em ánh mắt sâu
Môi thơm ngan ngát lộc xuân đầu
Trăm năm tơ ngãi là em đó
Gặp gỡ làm chi để kiếp sầu

Cầm tay chẳng nói một lời sao
Tiễn biệt chia xa luống nghẹn ngào
Có phải lương duyên trời đã định
Mỏng manh phai nhạt sắc hương đào

Tôi trở về đây đứng đợi mong
Hương xưa tìm lại phấn xuân hồng
Người đâu? Còn lại hoa đào đó
Cười cợt vô tình với gió đông.

Và câu chuyện tình yêu với sự chắp cánh của thơ ca vẫn sống mãi, truyền tụng mãi trong những người yêu nhau và yêu thơ hết đời này sang đời khác như sức sống bất diệt của tình yêu và thi ca giữa một khung cảnh mùa xuân thắm hồng sắc hoa đào với sự ửng hồng trên đôi má người thiếu nữ.
HTS